Cần có thái độ bình tĩnh và trung thực trong phê bình văn chương
PGS. TS. Linh Giang
(Trao đổi thêm với ông Đào Duy Hiệp xung quanh bài thơ Không nói của Nguyễn Đình Thi)
Bài “Phê bình lối phê bình thô sơ, xuyên tạc” của ông Đào Duy Hiệp đăng trong Văn nghệ Trẻ số 24, (13-6-2004) nhằm phản bác lại bài phê bình của tôi đăng trong Văn nghệ Trẻ số 20 (16-5-2004).
Phê bình trao đổi về học thuật là vấn đề bình thường và cần thiết. Nếu không, thì văn đàn sẽ trầm lặng và tẻ nhạt biết bao. Nhưng sự phản ứng của ông Đào Duy Hiệp lại tỏ ra dữ dội và không bình thường. Tôi được biết: cùng một lúc ông đã cho đăng bài của ông trên ba tờ báo. Chỉ trao đổi với nhau một vài ý kiến, chẳng có gì là cao siêu, thì việc gì phải đánh đông đánh tây như vậy. Hơn nữa bài viết của ông có những chỗ khinh mạn đối phương và khiếm nhã. Đây là một thái độ mà gần đây Phan Trọng Thưởng, Viện trưởng Viện Văn học gọi là lối “phê bình chửi bới” cần phải loại bỏ.
Sự không trung thực của ông Đào Duy Hiệp lộ rõ nhất là ở cách tranh luận. Nhiều chỗ sai của ông mà tôi vạch ra (xin đọc lại Văn nghệ Trẻ số 24) ông không sao phản bác được, thì ông cố tình bỏ qua và né tránh. Nhưng lại tranh cãi và bắt bẻ những điểm nhỏ nhặt không liên quan đến sai lầm rất cơ bản trong tư duy của ông về thơ mới và thơ kháng chiến. Ông né tránh vấn đề cơ bản để qui kết rằng phê bình của đối phương là “thô sơ, xuyên tạc”.
Ông cũng sai cả trong những điều nhỏ nhặt mà ông bắt bẻ. Thí dụ tôi dẫn lời của Timôphiép: “Hình tượng trữ tình chỉ tập trung thể hiện một vài tâm trạng cá biệt...” thì ông bắt bẻ “tâm trạng cá biệt” là gì? Nếu không “cá biệt” có là trữ tình không? Vấn đề đơn giản như vậy mà cũng phải tranh cãi, quả là mất thì giờ. Tâm trạng cá biệt có nghĩa là tâm trạng rất riêng biệt và khác thường. Quá bình thường, ai cũng giống ai cả thì làm sao có tính nghệ thuật, có chất trữ tình được. Ông còn cho rằng câu dẫn trên không đúng ngữ pháp. “Vì “hình tượng” không thể làm chủ ngữ để dùng quản bút viết thay cho nhà văn được”. Sự hiểu biết về ngữ pháp của ông Đào Duy Hiệp khá là non yếu. Đây là câu văn các chuyên gia ngôn ngữ Cao Xuân Hạo và Bùi Khánh Thế dịch từ tiếng Nga sang tiếng Việt. Nhà thơ sáng tạo ra hình tượng và “hình tượng thể hiện tâm trạng”. Đó là một câu diễn đạt rất chuẩn mà ông lại cho là sai. Ông đã miệt thị tôi là viết văn không bằng sinh viên và bây giờ ông lại miệt thị chuyên gia ngôn ngữ dịch một câu tiếng Nga sang tiếng Việt không đúng ngữ pháp.
Ông còn không trung thực với chính bản thân mình. Tôi phê bình câu ông viết “đây là một đối thoại giả đúng hơn là cử chỉ hạ quyết tâm”. ở đây tôi chép thiếu một từ “đúng”: “đây là một đối thoại giả hơn là chỉ hạ quyết tâm”. Nhưng như vậy ý nghĩa của câu văn không có gì khác nhau, dù thêm hoặc bớt một từ “đúng”. Bởi vì câu văn của ông diễn đạt không rõ ràng. Ông cũng biết rõ điều đó nên trong bài viết thứ hai Văn nghệ Trẻ số 24), ông chữa và thêm một dấu phẩy “đây là một đối thoại giả, đúng hơn là cử chỉ “hạ quyết tâm”. Sau khi tôi phê bình, ông thấy có sai sót, nên mới chữa lại câu văn này. Lẽ ra ông nên thanh minh là đã chữa lại. Vậy mà ông cho rằng tôi xuyên tạc cắn xén. Nhưng chữa lại như vậy càng làm lộ rõ mâu thuẫn trong suy nghĩ và diễn đạt của ông Hiệp. Câu thơ Nào đồng chí - bắt tay tại sao lại là đối thoại giả? Mà đã đối thoại giả thì làm sao còn hạ quyết tâm được. Trong kháng chiến, hai tiếng “đồng chí” thiêng liêng lắm, người ta sử dụng hai tiếng đó với bạn thân, cả người yêu và những người ruột thịt. Chỉ hai tiếng đó khiến cho cuộc chia tay của hai người yêu trong kháng chiến khác hẳn những cuộc chia ly thời trước. Chính ông Đào Duy Hiệp đã sửa lại câu văn, nhằm giảm bớt sai lầm trong ý kiến của ông trước đây.
Để bác bỏ ý kiến của Timôphiép, ông Hiệp viện đến Jourdain từ ba thế kỷ trước mà không nêu ra được vấn đề gì. Ông viện đến Viện sĩ M.B.Khrapchenkô (ông viết nhầm Khrapchekô) và cho là Viện sĩ phê phán Timôphiép, nhưng cũng không hề dẫn ra ý kiến cụ thể, đặc biệt là về vấn đề trữ tình và tự sự. Chỉ tung hoả mù ra như vậy quả là một thái độ không nghiêm chỉnh. Ông vừa lảng tránh, không trao đổi trực tiếp vào vấn đề, vừa nhân đó châm biếm đối phương. Tiêu biểu cho lối chơi này là đoạn văn sau đây: “Tự sự” với “trữ tình” cứ “siêu hình” nhập nhoè làm sao. Các nhân vật tối dạ của Flaubert cũng “siêu hình” khi nhìn ngọn nến cháy mà hoang mang không biết mắt mình sáng hay ngọn nến sáng?! Phải “sáng lòng” mới nên “tự sự”. Một đoạn văn khó hiểu, vô nghĩa, chẳng liên quan gì đến vấn đề đang bàn. Tôi nghĩ rằng vị tất có bạn đọc nào của Văn nghệ Trẻ hiểu được ý của tác giả trong đoạn văn này. Vì đây chỉ là một thứ “hoả mù” bác học muốn làm cho người đọc “choáng váng”.
Trở lại vấn đề trữ tình hay tự sự. Mỗi thể loại đều có những đặc trưng riêng biệt của nó. Nhưng không hề có một sự cách biệt hoàn toàn giữa chúng. Tuỳ từng phong cách của nghệ sĩ, có khi các thể loại hoà quyện vào nhau. Trong thơ có tự sự, trong tác phẩm tự sự có chất thơ. Đó là một kiến thức thông thường, nên trong bài viết trước tôi không nói tới. Tuy nhiên vẫn có một đặc trưng chủ đạo khiến cho một tác phẩm nổi bật ở chất tự sự hoặc ngược lại là ở chất trữ tình. Như các nhà nghiên cứu thơ Việt Nam đều nhận định, nói chung các tác phẩm thơ của Nguyễn Đình Thi là thơ trữ tình. Cho đến nay chưa từng có một nhà nghiên cứu nào xếp thơ Nguyễn Đình Thi vào thể loại tự sự. Vậy mà Đào Duy Hiệp lại cho là “kiểu tự sự”. Tại sao không phải là một kiểu trữ tình? Cứ tạm cho đó là một ý kiến mới. Nhưng ông hoàn toàn không chứng minh được là kiểu tự sự gì. Lần này ông nhắc lại ý kiến sau đây: “Thơ Nguyễn Đình Thi đã mang một hơi thở mới qua kiểu tự sự kiệm chữ, loại bỏ những tình cảm réo rắt ký sinh, “những luồng run rẩy” của trái tim nhà thơ trên bình diễn ngữ nghĩa; nhất là bỏ kiểu “kể chuyện tâm tình” của thơ mới”. Với hai cột báo viết rất dài, tuy mang nhan đề là Kiểu tự sự trong bài thơ “Không Nói”, nhưng lại chỉ có mấy dòng vắn tắt trên đây nói về kiểu tự sự. Vậy, có thể nói phần lớn bài của Đào Duy Hiệp đã lạc đề: Tuy nhiên đoạn văn này lại lộ rõ nhiều sai lầm. Trước hết là ý kiến quá đơn giản! Kiểu tự sự trong thơ mà chỉ có thế thôi à. Chỉ cần kiệm chữ và khác một số nét của thơ mới là thành một kiểu tự sự. Thế còn cấu trúc tự sự? Nghệ thuật ngôn từ? Quan hệ giữa các yếu tố trữ tình và tự sự? v.v... Không nói gì hết, vì ông còn chưa kịp nghiên cứu?
Sự đơn giản còn kèm theo một số sai lầm: l. Qua đoạn văn trên ta thấy ông Hiệp đã hạ thấp giá trị của thơ mới mà ông cho là “những tình cảm réo rắt ký sinh”. Ông Hiệp cho thơ mới là nhiều tình cảm “ký sinh”, tức là thừa thãi, dông dài, thậm chí vô nghĩa. Nếu đánh giá những thành tựu lớn của thơ mới, thì không thể có nhận xét tuỳ tiện như vậy được. 2. Hơn nữa, ông cho thơ Nguyễn Đình thi đã “loại bỏ những “luồng run rẩy” của trái tim nhà thơ… bỏ kiểu “kể chuyện” tâm tình của thơ mới”. Những “luồng rung rẩy” của trái tim nhà thơ, tức là những rung động và cảm xúc sâu xa của hồn thơ và kể chuyện tâm tình đâu phải chỉ là đặc điểm riêng của thơ mới. Chính thơ kháng chiến và cả thơ ca đương đại đã và đang tiếp tục tiếp thu và phát huy những phương tiện nghệ thuật này của thơ mới. Thử hỏi không kể chuyện tâm tình nữa, thì thơ sẽ kể chuyện gì? Chỉ cần nêu một thí dụ. Bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi nói về tổ quốc, tình yêu, núi rừng, sông suối, những con người cần cù, dũng cảm v.v... nhưng tất cả những cái đó đều khúc xạ qua tâm tình và trái tim đầy cảm xúc của nhà thơ. Không còn những “câu chuyện tâm tình” nữa, thì bài thơ chỉ còn là những tư tưởng chính trị khô khan và sống sượng.
Cuối cùng là vấn đề quan trọng nhất mà tôi đã phê bình, nhưng ông Hiệp lảng tránh và không trả lời. Phân tích câu thơ của Nguyễn Đình Thi: Dừng chân trong mưa bay/ Liếp nhà ai ánh lửa, ông Hiệp cho rằng trong bài thơ “sự đánh tráo chức năng của không gian” đã ẩn ngầm tính triết lý cho số phận của tình yêu: “Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ”. Ông lại tự mâu thuẫn. Như trên đã dẫn, ông nói Nguyễn Đình Thi khác với thơ mới, thì ở đoạn này, ông lại cho là bài thơ “Không Nói” hoàn toàn giống thơ Xuân Diệu. Về hai câu thơ: Ngày nào lần gặp sau/ Ngập ngừng không dám hỏi, thì ông cho là “nỗi ám ảnh” “rất sợ ngày mai” và “Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt là có thực trong hai câu này”. Lại hoàn toàn giống tâm tình trong thơ mới. Đây là những ý mà ông Hiệp nêu ra một cách say sưa và tâm đắc. Bằng cách phân tích gượng ép như vậy, ông Hiệp nhấn mạnh rằng nội dung của bài thơ chỉ là tình yêu, tình yêu “cô đơn”, “bơ vơ”. Rồi ông suy diễn rộng ra là “tình yêu bao giờ cũng buồn và cô đơn”, và “đau khổ”, “không được yêu cũng khổ; lấy phải vợ đẹp cũng chẳng sung sướng gì”. Đây là nguyên văn lời bình thơ của ông Hiệp, tôi không hề thêm bớt. Ông đã bóp méo ý tưởng và hình tượng của bài thơ “Không Nói” và thay vào đó những suy nghĩ chủ quan và rất vô lý của bản thân ông. Vấn đề này rất cơ bản, nhưng trong khi phản bác lại bài viết của tôi, ông lại cố tình lảng tránh. Phải chăng là ông không thể phủ nhận nhưng sai lầm của ông mà tôi đã đề cập một cách có căn cứ, có dẫn chứng rõ ràng. Vậy tại sao ông có thể cho ý kiến của tôi (nhất là về vấn đề cơ bản này) là thô sơ và xuyên tạc?
(Báo Văn nghệ Trẻ)
PGS. TS. Linh Giang
(Trao đổi thêm với ông Đào Duy Hiệp xung quanh bài thơ Không nói của Nguyễn Đình Thi)
Bài “Phê bình lối phê bình thô sơ, xuyên tạc” của ông Đào Duy Hiệp đăng trong Văn nghệ Trẻ số 24, (13-6-2004) nhằm phản bác lại bài phê bình của tôi đăng trong Văn nghệ Trẻ số 20 (16-5-2004).
Phê bình trao đổi về học thuật là vấn đề bình thường và cần thiết. Nếu không, thì văn đàn sẽ trầm lặng và tẻ nhạt biết bao. Nhưng sự phản ứng của ông Đào Duy Hiệp lại tỏ ra dữ dội và không bình thường. Tôi được biết: cùng một lúc ông đã cho đăng bài của ông trên ba tờ báo. Chỉ trao đổi với nhau một vài ý kiến, chẳng có gì là cao siêu, thì việc gì phải đánh đông đánh tây như vậy. Hơn nữa bài viết của ông có những chỗ khinh mạn đối phương và khiếm nhã. Đây là một thái độ mà gần đây Phan Trọng Thưởng, Viện trưởng Viện Văn học gọi là lối “phê bình chửi bới” cần phải loại bỏ.
Sự không trung thực của ông Đào Duy Hiệp lộ rõ nhất là ở cách tranh luận. Nhiều chỗ sai của ông mà tôi vạch ra (xin đọc lại Văn nghệ Trẻ số 24) ông không sao phản bác được, thì ông cố tình bỏ qua và né tránh. Nhưng lại tranh cãi và bắt bẻ những điểm nhỏ nhặt không liên quan đến sai lầm rất cơ bản trong tư duy của ông về thơ mới và thơ kháng chiến. Ông né tránh vấn đề cơ bản để qui kết rằng phê bình của đối phương là “thô sơ, xuyên tạc”.
Ông cũng sai cả trong những điều nhỏ nhặt mà ông bắt bẻ. Thí dụ tôi dẫn lời của Timôphiép: “Hình tượng trữ tình chỉ tập trung thể hiện một vài tâm trạng cá biệt...” thì ông bắt bẻ “tâm trạng cá biệt” là gì? Nếu không “cá biệt” có là trữ tình không? Vấn đề đơn giản như vậy mà cũng phải tranh cãi, quả là mất thì giờ. Tâm trạng cá biệt có nghĩa là tâm trạng rất riêng biệt và khác thường. Quá bình thường, ai cũng giống ai cả thì làm sao có tính nghệ thuật, có chất trữ tình được. Ông còn cho rằng câu dẫn trên không đúng ngữ pháp. “Vì “hình tượng” không thể làm chủ ngữ để dùng quản bút viết thay cho nhà văn được”. Sự hiểu biết về ngữ pháp của ông Đào Duy Hiệp khá là non yếu. Đây là câu văn các chuyên gia ngôn ngữ Cao Xuân Hạo và Bùi Khánh Thế dịch từ tiếng Nga sang tiếng Việt. Nhà thơ sáng tạo ra hình tượng và “hình tượng thể hiện tâm trạng”. Đó là một câu diễn đạt rất chuẩn mà ông lại cho là sai. Ông đã miệt thị tôi là viết văn không bằng sinh viên và bây giờ ông lại miệt thị chuyên gia ngôn ngữ dịch một câu tiếng Nga sang tiếng Việt không đúng ngữ pháp.
Ông còn không trung thực với chính bản thân mình. Tôi phê bình câu ông viết “đây là một đối thoại giả đúng hơn là cử chỉ hạ quyết tâm”. ở đây tôi chép thiếu một từ “đúng”: “đây là một đối thoại giả hơn là chỉ hạ quyết tâm”. Nhưng như vậy ý nghĩa của câu văn không có gì khác nhau, dù thêm hoặc bớt một từ “đúng”. Bởi vì câu văn của ông diễn đạt không rõ ràng. Ông cũng biết rõ điều đó nên trong bài viết thứ hai Văn nghệ Trẻ số 24), ông chữa và thêm một dấu phẩy “đây là một đối thoại giả, đúng hơn là cử chỉ “hạ quyết tâm”. Sau khi tôi phê bình, ông thấy có sai sót, nên mới chữa lại câu văn này. Lẽ ra ông nên thanh minh là đã chữa lại. Vậy mà ông cho rằng tôi xuyên tạc cắn xén. Nhưng chữa lại như vậy càng làm lộ rõ mâu thuẫn trong suy nghĩ và diễn đạt của ông Hiệp. Câu thơ Nào đồng chí - bắt tay tại sao lại là đối thoại giả? Mà đã đối thoại giả thì làm sao còn hạ quyết tâm được. Trong kháng chiến, hai tiếng “đồng chí” thiêng liêng lắm, người ta sử dụng hai tiếng đó với bạn thân, cả người yêu và những người ruột thịt. Chỉ hai tiếng đó khiến cho cuộc chia tay của hai người yêu trong kháng chiến khác hẳn những cuộc chia ly thời trước. Chính ông Đào Duy Hiệp đã sửa lại câu văn, nhằm giảm bớt sai lầm trong ý kiến của ông trước đây.
Để bác bỏ ý kiến của Timôphiép, ông Hiệp viện đến Jourdain từ ba thế kỷ trước mà không nêu ra được vấn đề gì. Ông viện đến Viện sĩ M.B.Khrapchenkô (ông viết nhầm Khrapchekô) và cho là Viện sĩ phê phán Timôphiép, nhưng cũng không hề dẫn ra ý kiến cụ thể, đặc biệt là về vấn đề trữ tình và tự sự. Chỉ tung hoả mù ra như vậy quả là một thái độ không nghiêm chỉnh. Ông vừa lảng tránh, không trao đổi trực tiếp vào vấn đề, vừa nhân đó châm biếm đối phương. Tiêu biểu cho lối chơi này là đoạn văn sau đây: “Tự sự” với “trữ tình” cứ “siêu hình” nhập nhoè làm sao. Các nhân vật tối dạ của Flaubert cũng “siêu hình” khi nhìn ngọn nến cháy mà hoang mang không biết mắt mình sáng hay ngọn nến sáng?! Phải “sáng lòng” mới nên “tự sự”. Một đoạn văn khó hiểu, vô nghĩa, chẳng liên quan gì đến vấn đề đang bàn. Tôi nghĩ rằng vị tất có bạn đọc nào của Văn nghệ Trẻ hiểu được ý của tác giả trong đoạn văn này. Vì đây chỉ là một thứ “hoả mù” bác học muốn làm cho người đọc “choáng váng”.
Trở lại vấn đề trữ tình hay tự sự. Mỗi thể loại đều có những đặc trưng riêng biệt của nó. Nhưng không hề có một sự cách biệt hoàn toàn giữa chúng. Tuỳ từng phong cách của nghệ sĩ, có khi các thể loại hoà quyện vào nhau. Trong thơ có tự sự, trong tác phẩm tự sự có chất thơ. Đó là một kiến thức thông thường, nên trong bài viết trước tôi không nói tới. Tuy nhiên vẫn có một đặc trưng chủ đạo khiến cho một tác phẩm nổi bật ở chất tự sự hoặc ngược lại là ở chất trữ tình. Như các nhà nghiên cứu thơ Việt Nam đều nhận định, nói chung các tác phẩm thơ của Nguyễn Đình Thi là thơ trữ tình. Cho đến nay chưa từng có một nhà nghiên cứu nào xếp thơ Nguyễn Đình Thi vào thể loại tự sự. Vậy mà Đào Duy Hiệp lại cho là “kiểu tự sự”. Tại sao không phải là một kiểu trữ tình? Cứ tạm cho đó là một ý kiến mới. Nhưng ông hoàn toàn không chứng minh được là kiểu tự sự gì. Lần này ông nhắc lại ý kiến sau đây: “Thơ Nguyễn Đình Thi đã mang một hơi thở mới qua kiểu tự sự kiệm chữ, loại bỏ những tình cảm réo rắt ký sinh, “những luồng run rẩy” của trái tim nhà thơ trên bình diễn ngữ nghĩa; nhất là bỏ kiểu “kể chuyện tâm tình” của thơ mới”. Với hai cột báo viết rất dài, tuy mang nhan đề là Kiểu tự sự trong bài thơ “Không Nói”, nhưng lại chỉ có mấy dòng vắn tắt trên đây nói về kiểu tự sự. Vậy, có thể nói phần lớn bài của Đào Duy Hiệp đã lạc đề: Tuy nhiên đoạn văn này lại lộ rõ nhiều sai lầm. Trước hết là ý kiến quá đơn giản! Kiểu tự sự trong thơ mà chỉ có thế thôi à. Chỉ cần kiệm chữ và khác một số nét của thơ mới là thành một kiểu tự sự. Thế còn cấu trúc tự sự? Nghệ thuật ngôn từ? Quan hệ giữa các yếu tố trữ tình và tự sự? v.v... Không nói gì hết, vì ông còn chưa kịp nghiên cứu?
Sự đơn giản còn kèm theo một số sai lầm: l. Qua đoạn văn trên ta thấy ông Hiệp đã hạ thấp giá trị của thơ mới mà ông cho là “những tình cảm réo rắt ký sinh”. Ông Hiệp cho thơ mới là nhiều tình cảm “ký sinh”, tức là thừa thãi, dông dài, thậm chí vô nghĩa. Nếu đánh giá những thành tựu lớn của thơ mới, thì không thể có nhận xét tuỳ tiện như vậy được. 2. Hơn nữa, ông cho thơ Nguyễn Đình thi đã “loại bỏ những “luồng run rẩy” của trái tim nhà thơ… bỏ kiểu “kể chuyện” tâm tình của thơ mới”. Những “luồng rung rẩy” của trái tim nhà thơ, tức là những rung động và cảm xúc sâu xa của hồn thơ và kể chuyện tâm tình đâu phải chỉ là đặc điểm riêng của thơ mới. Chính thơ kháng chiến và cả thơ ca đương đại đã và đang tiếp tục tiếp thu và phát huy những phương tiện nghệ thuật này của thơ mới. Thử hỏi không kể chuyện tâm tình nữa, thì thơ sẽ kể chuyện gì? Chỉ cần nêu một thí dụ. Bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi nói về tổ quốc, tình yêu, núi rừng, sông suối, những con người cần cù, dũng cảm v.v... nhưng tất cả những cái đó đều khúc xạ qua tâm tình và trái tim đầy cảm xúc của nhà thơ. Không còn những “câu chuyện tâm tình” nữa, thì bài thơ chỉ còn là những tư tưởng chính trị khô khan và sống sượng.
Cuối cùng là vấn đề quan trọng nhất mà tôi đã phê bình, nhưng ông Hiệp lảng tránh và không trả lời. Phân tích câu thơ của Nguyễn Đình Thi: Dừng chân trong mưa bay/ Liếp nhà ai ánh lửa, ông Hiệp cho rằng trong bài thơ “sự đánh tráo chức năng của không gian” đã ẩn ngầm tính triết lý cho số phận của tình yêu: “Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ”. Ông lại tự mâu thuẫn. Như trên đã dẫn, ông nói Nguyễn Đình Thi khác với thơ mới, thì ở đoạn này, ông lại cho là bài thơ “Không Nói” hoàn toàn giống thơ Xuân Diệu. Về hai câu thơ: Ngày nào lần gặp sau/ Ngập ngừng không dám hỏi, thì ông cho là “nỗi ám ảnh” “rất sợ ngày mai” và “Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt là có thực trong hai câu này”. Lại hoàn toàn giống tâm tình trong thơ mới. Đây là những ý mà ông Hiệp nêu ra một cách say sưa và tâm đắc. Bằng cách phân tích gượng ép như vậy, ông Hiệp nhấn mạnh rằng nội dung của bài thơ chỉ là tình yêu, tình yêu “cô đơn”, “bơ vơ”. Rồi ông suy diễn rộng ra là “tình yêu bao giờ cũng buồn và cô đơn”, và “đau khổ”, “không được yêu cũng khổ; lấy phải vợ đẹp cũng chẳng sung sướng gì”. Đây là nguyên văn lời bình thơ của ông Hiệp, tôi không hề thêm bớt. Ông đã bóp méo ý tưởng và hình tượng của bài thơ “Không Nói” và thay vào đó những suy nghĩ chủ quan và rất vô lý của bản thân ông. Vấn đề này rất cơ bản, nhưng trong khi phản bác lại bài viết của tôi, ông lại cố tình lảng tránh. Phải chăng là ông không thể phủ nhận nhưng sai lầm của ông mà tôi đã đề cập một cách có căn cứ, có dẫn chứng rõ ràng. Vậy tại sao ông có thể cho ý kiến của tôi (nhất là về vấn đề cơ bản này) là thô sơ và xuyên tạc?
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,