Trần Tung, người thầy của phái Trúc Lâm Yên Tử - một gương mặt lạ trong làng thơ thiền thời Lý - Trần
Nguyễn Huệ Chi
Chúng ta đều biết, Yên Tử là nơi đã khai sinh một nền văn hóa Phật giáo nổi tiếng trong lịch sử: đó là nền văn hóa Phật giáo đời Trần, nơi hội nhập cả ba Thiền phái Vô Ngôn, Tỳ Ni và Thảo Đường đời Lý để hình thành Thiền phái Trúc Lâm. Chúng ta cũng biết ba người đứng đầu Thiền phái Trúc Lâm là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang, và muốn hiểu rõ bản sắc tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm thì không thể không nhìn sâu vào thơ văn của họ. Nhưng có một người đã từng góp phần không nhỏ vào cái quá trình hội nhập của ba Thiền phái đời Lý và là dấu nối đưa tới Thiền phái Trúc Lâm thống nhất đời Trần, đã có ảnh hưởng sâu sắc vào quá trình hình thành hệ thống tư tưởng của Thiền phái đó, với tư cách là ông thầy Phật học uy tín bậc nhất của cả ba vị tổ Trúc Lâm. ấy là Tuệ Trung Thượng sĩ.
Tuệ Trung Thượng sĩ đã ảnh hưởng đến Thiền phái Yên Tử như thế nào? ảnh hưởng này bắt nguồn từ mối quan hệ giữa ông với Trần Nhân Tông ngay từ rất lâu trước khi nhà vua xuất gia tu hành. Là anh vợ của Trần Thánh Tông, với kiến thức và sự thể hội Phật học uyên súc của mình, Tuệ Trung Thượng sĩ từng được vua Trần Thánh Tông rất kính trọng, gọi bằng sư huynh, và ký thác Trần Nhân Tông cho ông dạy dỗ. Một lần, Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, vợ Trần Thánh Tông, mời ông anh Tuệ Trung vào cung ăn tiệc. Trên bàn tiệc có cả cỗ mặn lẫn cỗ chay. Thấy anh mình trong bữa ăn quên cả kiêng khem mà nhúng đũa cả vào cỗ mặn một cách phóng túng, Hoàng hậu khẽ nhắc ông: “Anh tu Thiền mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được?”. Tuệ Trung Thượng sĩ cả cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh; anh không hề muốn làm Phật, Phật cũng không hề muốn làm anh. Em chẳng nghe Cổ Đức có nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát, đó sao?”. Trần Nhân Tông bấy giờ cũng có mặt trong bữa tiệc, lần đầu tiên một cách lý giải khoáng đạt như vậy đã in sâu vào tâm trí còn rất non trẻ của ông vua Trần. Thế rồi một thời gian sau, vào tháng Hai năm 1827, Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm qua đời, Vua Trần Thánh Tông cúng chay cho Hoàng hậu, cho con là Trần Nhân Tông đi mời Tuệ Trung đến dự. Lúc này Trần Nhân Tông đã lớn, đã lên ngôi báu được 9 năm. Nhưng từ lâu nhà vua vẫn có một điều tâm niệm thành kính là tham bác sâu vào những điều huyền cơ của Phật giáo. Ông đề nghị Thượng sĩ giúp đỡ. Tuệ Trung bèn trao cho nhà vua hai bộ kinh Tuyết đậu và Dã hiên để vua xem những lúc rảnh rỗi việc công. Nhớ lại câu chuyện đàm thoại giữa Thượng sĩ và mẹ mình hồi nọ, lại có chút băn khoăn về hành vi gọi là “hòa quang đồng trần” của vị Thượng sĩ nổi tiếng khắp trong triều ngoài nội mà mình chưa hiểu rõ, vua làm bộ ngây thơ hỏi ông: “Bạch Thượng sĩ, chúng sinh quen cái nghiệp ăn thịt uống rượu thì làm thế nào thoát khỏi tội báo?”. Tuệ Trung liền trả lời vua: “Nếu có người đang đứng quay lưng lại, thình lình vua đi qua sau lưng, người ấy không biết, cầm một vật gì ném ra phía sau trúng nhầm vào vua. Thử hỏi: người ấy có sợ không? Ông vua có giận không? Phải biết, hai việc ấy không dính líu gì với nhau vậy”.
Rồi ông đọc hai bài kệ sau đây cho vua nghe:
Vạn pháp đều biến diệt,
Tâm ngờ tội liền sinh.
Xưa nay không một vật
Mầm mống hỏi đâu thành?
Hàng ngày khi đối cảnh,
Mọi cảnh từ tâm sinh.
Cảnh tâm không có thật,
Chốn chốn ba-la-mật ([1])
Nhân Tông thưa với Tuệ Trung rằng mình đã hiểu lời dạy của ông về “tội phúc”. Nhưng Tuệ Trung biết ông chưa thật hiểu. Ông bèn đọc tiếp bài kệ sau đây:
Ăn thịt và ăn cỏ,
Chúng sinh từng loài đó.
Xuân về cây cỏ sinh
Họa phúc nào đâu có?
Nhân Tông nhân đấy liền hỏi ông câu hỏi vốn đã chất chứa trong tâm khảm nhà vua từ lâu: “Như vậy thì công phu giữ giới trong sạch không chút xao lãng là để làm gì?”. Tuệ Trung cười không đáp. Vua cố nài. Ông bèn thong thả đọc cho vua nghe một bài kệ có tính cách khai phóng cho nhãn giới của nhà vua, mà trước khi đọc ông còn cẩn thận dặn vua đừng bảo cho người không ra gì biết:
Trì giới và nhẫn nhục,
Chuốc tội chẳng chuốc phúc.
Muốn vượt qua tội phúc,
Đừng trì giới nhẫn nhục.
Như người khi leo cây
Đang yên bỗng tìm nguy.
Không trèo lên cây nữa,
Trăng gió làm được gì?
Một lần gặp gỡ khác, Trần Nhân Tông còn căn vặn Tuệ Trung rằng: Tông chỉ của Thiền phái mà Thượng sĩ theo đuổi là gì. ý của Nhân Tông là muốn tìm hiểu bí quyết của sự giác ngộ của Tuệ Trung khi ông nhận y bát từ tay Thiền sư Tiêu Dao để rút ra cho mình một kinh nghiệm trên đường giác ngộ. Những lời đáp của vị Thượng sĩ làm nhà vua đột nhiên bừng sáng về yếu chỉ của Thiền đạo: “Hãy quay về tự thân mà tìm lấy tông chỉ ấy, chứ không thể đạt được ở một ai khác”.
Đấy, những ảnh hưởng tư tưởng sâu đậm của Tuệ Trung Thượng sĩ đối với vị tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử bước đầu là như thế đấy! Có thể nói thông qua Trần Nhân Tông, ông đã đưa lại cho Phật giáo đời Trần một tinh thần phóng nhiệm, một thái độ dấn thân mạnh bạo, đóng góp phần tích cực vào giải quyết các yêu cầu chính trị của đất nước trong giai đoạn, phá bỏ được những giằng kéo, chấp nê trong hình thức và danh từ. Trong cuộc đời hoạt động Phật giáo của mình, các vị Tổ Trúc Lâm còn được Thượng sĩ chỉ bảo nhiều lần. Cho nên, dù không được Tuệ Trung trực tiếp truyền y bát, Nhân Tông vẫn nhận ông là vị thầy đã khai sáng cho tâm linh mình. Sau ngày ông mất, bộ Thượng sĩ ngữ lục của Tuệ Trung đã được chính tay Pháp Loa biên tập, trông nom khắc ván tại Yên Tử, và Trần Nhân Tông đã viết phần Thượng sĩ hành trạng.
Nhưng có một vấn đề lâu nay vẫn chưa sáng tỏ: Tuệ Trung Thượng sĩ là ai? Dựa vào nhiều nguồn tài liệu quen thuộc, nhiều người trong chúng ta chắc có thể trả lời ngay: đó là Trần Quốc Tảng, con thứ Trần Hưng Đạo. Sự thật, không phải như vậy. Trước đây hơn bốn mươi năm, bản thân chúng tôi cũng đinh ninh Trần Quốc Tảng là tác giả Thượng sĩ ngữ lục không có gì phải bàn cãi. Nhưng chỉ một thời gian sau đó khảo sát kỹ hơn mới biết rằng mình đã lầm. Những tìm tòi tư liệu trong hai năm 1973 - 1974 mà sau này chúng tôi có dịp công bố vắn tắt trong Thơ văn Lý - Trần tập I (1977), đã đưa chúng tôi đến một giả thuyết mới: Người thầy của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử không phải là Trần Quốc Tảng mà là Trần Tung. Sau ngày đất nước thống nhất, chúng tôi được biết, một nhà nghiên cứu Thiền học hiện ở Pháp là Nguyễn Lang, cũng có những phát hiện thống nhất với chúng tôi trong bộ Việt Nam Phật giáo sử luận mà năm 1978, ông có nhã ý gửi tặng. Tuy vậy, cho đến nay, dư luận bạn đọc vẫn nửa tin nửa ngờ về phát hiện đã nói. Có người còn cho đó là những ý kiến quá táo bạo và lạ lẫm. Chúng tôi rất hiểu tình thế khó khăn của chúng tôi, là phải làm sao chiến thắng được một tâm lý quen thuộc vốn đã gắn quá chặt bộ Thượng sĩ ngữ lục cũng như những sợi dây tinh thần giữa Thiền phái Trúc Lâm với cái tên Trần Quốc Tảng. Vì vậy, trong bài này, trước hết xin hãy minh định lại một cách cặn kẽ những nhầm lẫn giữa Trần Quốc Tảng và Trần Tung.
Bắt đầu nhầm từ Bùi Huy Bích.
Không phải chúng ta mà chính Bùi Huy Bích ([1]) mới là người khởi đầu của mọi sai lầm. Nói thế, e không khỏi gây nên trong bạn đọc ít nhiều ngờ vực. Chẳng phải ngót 200 năm nay, ông Hoàng giáp họ Bùi vẫn nổi danh là một học trò giỏi của Lê Quý Đôn, một người cầm bút thận trọng và chững chạc? Nhưng quả tình là vậy! Không có ai cùng thời với Bùi Huy Bích, và cũng chưa thấy ai trước Bùi Huy Bích, đề cập đến vấn đề phức tạp này.
Khi biên soạn Hoàng Việt thi văn tuyển, một trong hai bộ hợp tuyển có tiếng của mình, Bùi Huy Bích đã chọn vào đây bài Phóng cuồng ca, ghi tên tác giả Trần Quốc Tảng. Gần đây, một vài bộ hợp tuyển thơ văn cũng bắt chước họ Bùi in lại bài văn ấy, vẫn dưới cái tên Trần Quốc Tảng không có gì nghi vấn. Nhưng Phóng cuồng ca chính là bài Phóng cuồng ngâm, một tên gọi có trước, được in trong bộ Thượng sĩ ngữ lục, tập hợp tác phẩm của Tuệ Trung Thượng sĩ. Thượng sĩ ngữ lục không biết được khắc in đích xác năm nào nhưng được tái bản khá nhiều lần, và bản in xưa nhất còn lại đến nay là bản “trùng san” năm Chính Hòa thứ tư (1683) do sư Tuệ Nguyên ở chùa Long Động, núi Yên Tử, đề tựa ([1]).
Xuất trình bài Phóng cuồng ca với tên Trần Quốc Tảng phải chăng Bùi Huy Bích muốn khẳng định Trần Quốc tảng chính là Tuệ Trung thượng sĩ? Đúng thế! Cũng trong Hoàng Việt văn tuyển ông viết về tiểu sử Trần Quốc Tảng như sau: “Trần Ninh vương Quốc Tảng, là con cả Hưng Đạo, hai lần chống giặc Mông Cổ, được ban cho coi giữ quân dân lộ Hồng, sau lui về sống ở phong ấp Tịnh Bang (nay là xã An Quảng, huyện Vĩnh Lại), đổi tên là thôn Vạn Niên. Tự đặt hiệu là Tuệ Trung Thượng sĩ. Thường cưỡi thuyền rong chơi ở khúc Cửu Giang, ngâm thơ và sáng tác Phóng cuồng ca” ([1]).
Có thể thấy, chính là vì mấy lời trên đây mà nhiều nhà nghiên cứu về sau đã dứt khoát coi Trần Quốc Tảng là một tác giả thời Lý - Trần, cũng như đã mạnh dạn đem Thượng sĩ ngữ lục bổ sung vào khối lượng tác phẩm vốn quá nghèo nàn mà họ Bùi đăng ký cho Trần Quốc Tảng.
Thế nhưng, sự tình lại không giản đơn như thế! Chỉ vì sơ ý, chúng ta đã không nhận thấy trong mấy lời khẳng định của Bùi Huy Bích những ý kiến có phần mâu thuẫn với các tài liệu ra đời trước ông. Trước hết là Đại Việt sử ký toàn thư. Đây là bộ sử tổng hợp của nhiều nhà viết sử triều Lê, trong đó, phần lịch sử thời Trần do Phan Phu Tiên chấp bút. Nghĩa là những điều Đại Việt sử ký toàn thư nói về Trần Quốc Tảng ít ra cũng đã có trước Bùi Huy Bích gần 4 thế kỷ. Đại Việt sử ký toàn thư nói về Trần Quốc Tảng thế nào? Có hai điểm về căn bản khác với học giả họ Bùi. Đó là: Trần Quốc Tảng là con thứ Trần Quốc Tuấn chứ không phải con đầu. Và Trần Quốc Tảng có tước hiệu Hưng Nhượng vương, chứ không phải Ninh vương hay Hưng Ninh vương.
Một giả thuyết từng được nêu ra: phải chăng Đại Việt sử ký toàn thư chép lầm, và vì lầm nên Bùi Huy Bích đã sửa đi? Giả thuyết này rõ ràng không ổn. Chúng ta đều biết Trần Quốc Tuấn có con trai là Hưng Vũ vương Nghiễn, Hưng Hiến vương Uy, Hưng Nhượng vương Tảng và Hưng Trí hầu Nghiện (ông này về sau cũng được phong vương). Chức tước, tên tuổi và trật tự đó được Đại Việt sử ký toàn thư nói đến nhiều lần. Nhiều bộ sử khác như Việt sử thông giám cương mục, Trần triều thế phả hành trạng... cũng đều xác nhận điều này. Hơn nữa, khi Trần Quốc Tuấn mất (1300), Đại Việt sử ký toàn thư nhân đấy có kể lại tấn kịch bất hòa trong gia đình ông mà một trong những vai chính của tấn kịch lại là “người con thứ Hưng Nhượng vương”. Chuyện kể như sau: “Khi Yên Sinh vương (Trần Liễu) sắp mất, cầm tay Quốc Tuấn và giối giăng rằng: “Mày mà không vì cha lấy được thiên hạ thì cha chết không nhắm mắt”! Quốc Tuấn để bụng thôi nhưng không cho thế là phải. Đến khi đã trở thành vị tổng chỉ huy quân đội, nắm trong tay một quyền lực rất lớn, Quốc Tuấn liền đem lời cha dặn hỏi ý kiến Yết Kiêu, Dã Tượng và con trai là Hưng Võ vương. Lời can ngăn của cả ba người làm ông rất đẹp lòng. Một hôm khác, Quốc Tuấn đem câu ấy hỏi con thứ là Hưng Nhượng vương Quốc Tảng. Quốc Tảng nói: “Tống Thái Tổ là một ông lão làm ruộng mà thừa cơ dấy vận cũng được thiên hạ”. Quốc Tuấn rút gươm kể tội rằng: “Kẻ làm tôi phản loạn là do ở đứa con bất hiếu”. ý muốn giết Quốc Tảng. Hưng Võ vương nghe tin ấy vội vàng chạy đến khóc xin lỗi hộ, Quốc Tuấn mới tha. Đến đây, Quốc Tuấn bảo Hưng Võ vương rằng: “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào” ([1]).
Chắc rằng những ai thích đọc sử nước nhà đều không mấy người quên được câu chuyện xúc động kể trên. Trật tự chặt chẽ của các tình tiết và vai trò cũng như tính cách khác nhau của hai người con trai Trần Quốc Tuấn ở đây được thể hiện rõ đến mức khó có thể nghĩ rằng nhà chép sử đã tùy tiện đảo lộn trước sau, đem con thứ gán cho con trưởng, và ngược lại. Là người có vốn kiến thức chắc chắn là rất rộng, lẽ nào Bùi Huy Bích lại không hề biết đến quốc sử, hoặc lầm lẫn ở ngay chỗ mà người bình thường cũng ít lầm? Lẽ nào những điều sử chép rành rẽ đến thế mà vẫn không đủ cho ông tin, đến mức phải tùy tiện sửa chữa?
Vậy thì, chỉ còn một khả năng, là trong khi viết tiểu sử Trần Quốc Tảng, Bùi Huy Bích đã sử dụng một nguồn tài liệu khác với chính sử. Đó là một khả năng thực tế. Nghiên cứu kỹ bản Thượng sĩ ngữ lục trùng san vào năm thứ tư niên hiệu Chính Hòa (1683), chúng tôi có khuynh hướng tin rằng, văn bản này hoặc một văn bản tương tự được trùng san ít lâu trước hay sau đó, chính là nguồn tài liệu mà họ Bùi sử dụng, khác với Đại Việt sử ký toàn thư. ở cuối văn bản này có một bài Thượng sĩ hành trạng, ghi chép tiểu sử của Thượng sĩ Tuệ Trung. Bài hành trạng nói rõ: Thượng sĩ vốn là con trưởng trong gia đình, là anh ruột của Hoàng hậu, và là người được vua Trần Thái Tông phong tước Hưng Ninh vương. Tất nhiên bài hành trạng không hề nói Hưng Ninh vương hay Tuệ Trung Thượng sĩ là Trần Quốc Tảng, cũng không cho biết tên thật của ông là gì. Cho nên trước sau, những lời mập mờ này vẫn là một câu đố bí hiểm, kích thích rất mạnh trí tò mò của người đọc. Bùi Huy Bích hẳn đã bị lời đánh đố này hấp dẫn. Nhận thấy trong bài Thượng sĩ hành trạng có nhắc tới chiến công hai lần chống giặc “Thát Đát” của Tuệ Trung Thượng sĩ; nhận thấy chức Tiết độ sứ Thái Bình mà Tuệ Trung Thượng sĩ được phong cũng giống chức Tiết độ sứ mà Đại Việt sử ký toàn thư ghi cho Trần Quốc Tảng; lại nhận thấy trong tước hiệu Hưng Ninh vương có chữ Hưng đứng đầu là chữ vẫn dành riêng cho tước hiệu của mấy bố con Trần Quốc Tuấn; đặc biệt khi xét tiểu sử Trần Quốc Tảng, thấy lời đối đáp “ngông cuồng” của ông với Trần Quốc Tuấn có vẻ gì như là gần với khái niệm “phóng cuồng” trong các tác phẩm của Tuệ Trung Thượng sĩ (thực ra thì không có gì là giống nhau cả), họ Bùi liền đoán ngay Tuệ Trung Thượng sĩ là Trần Quốc Tảng. Và từ một ức đoán, ông đã vội vã dựng lên cả một bảng tiểu sử, trong đó, những nét chủ yếu thì mượn của bài Thượng sĩ hành trạng (thậm chí có chỗ mượn nguyên cả câu văn trong bài Thượng sĩ hành trạng) ([1]), bài Phóng cuồng ca thì mượn của Thượng sĩ ngữ lục, còn con người thật, tức cái tên Trần Quốc Tảng, thì mượn của Đại Việt sử ký toàn thư. Thành thử, từ một Tuệ Trung Thượng sĩ chưa có hình dáng rõ ràng trong Thượng sĩ ngữ lục, qua bàn tay nhào nặn của Bùi Huy Bích đã nghiễm nhiên trở thành Trần Quốc Tảng, một con người bằng xương bằng thịt trong lịch sử. Từ một Trần Quốc Tảng tướng lĩnh thuần túy trong sử, qua sự vay mượn của Bùi Huy Bích đã trở thành một Trần Quốc Tảng thi sĩ, tác giả bài ca Phóng cuồng.
Căn bản khác nhau giữa Trần Quốc Tảng và Tuệ Trung Thượng sĩ.
Bùi Huy Bích quả đã phạm phải một sai lầm. Ông cố gò gẫm để đồng nhất cho được hai con người mà lý lịch có một vài điểm giống nhau. Nhưng trên thực tế đấy vẫn là hai con người hoàn toàn khác biệt. Một bên, Tuệ Trung Thượng sĩ là con đầu; một bên, Trần Quốc Tảng là con thứ. Một bên được phong tước Hưng Ninh vương; một bên được phong tước Hưng Nhượng vương. Trong quá trình tìm hiểu, đối chiếu tiểu sử giữa hai con người đó, chúng tôi ngày càng tìm thêm được nhiều điểm khác biệt giữa họ với nhau mà điểm khác nhau cơ bản nhất là ở chỗ: Nếu Tuệ Trung Thượng sĩ là người sau kháng chiến chống Nguyên thắng lợi đã dứt khoát từ bỏ mọi tước vị của Triều đình ban tặng, lui về ở ẩn ở ấp Trịnh Bang và tu Phật, trở thành ông thầy có uy tín của Trúc Lâm tam tổ, thì Trần Quốc Tảng lại là con người hoàn toàn “trần thế”, con người tích cực “tham chính” và chưa một lúc nào rút lui vào cửa Thiền.
Để chứng minh điều này, hãy kiểm tra lại các tài liệu lịch sử có liên quan. Hãy chỉ tính từ năm 1287 trở đi, là năm đất nước bước ra khỏi cuộc xâm lược cuối cùng của giặc Mông Cổ. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, trong kỳ bình công khen thưởng vào cuối năm đó Trần Quốc Tảng được phong chức Tiết độ sứ. Còn Tuệ Trung Thượng sĩ thì Đại Việt sử ký toàn thư tuyệt không nhắc gì tới, nhưng qua bài Thượng sĩ hành trạng, có thể đoán ông cũng được phong chức Tiết độ sứ Thái Bình vào dịp này. Hãy cho rằng đây vẫn là một điểm nhập nhằng, một điểm “chập” làm cho người ta vẫn phải lấn cấn khi cần đoán định giữa Trần quốc Tảng và Trần Tung là một hay hai người. Tuy nhiên, vì họ đều có công lao trong kháng chiến chống Nguyên Mông nên được khen thưởng trong cùng một đợt cũng là điều không có gì lạ. Nhưng nếu cả hai người cùng nhận chức Tiết độ sứ một lần thì lại cũng là điều thuận lợi, vì chắc chắn họ sẽ thôi chức người trước người sau, chứ không thể ngẫu nhiên cùng thôi một lần. Mà như bài Thượng sĩ hành trạng cho biết thì người nào thôi chức sớm hơn, người ấy ắt là Tuệ Trung Thượng sĩ. Vậy ai là người thôi chức sớm hơn? Hiển nhiên người đó không thể là Trần Quốc Tảng, bởi lẽ mãi cho đến năm 1297, sau khi nhận chức Tiết độ sứ mười năm, sử còn chép rằng Trần Quốc Tảng vâng mệnh vua Trần Anh Tông cầm quân đi đánh sách Sầm Tớ (ở miền núi Thanh Hóa ngày nay) ([1]). Cùng một chuyến ra quân với ông, Trần Nhật Duật cũng được vua phái đi đánh sách A Lộc. Hẳn không cần nhà chép sử giải thích thêm thì chúng ta cũng đoán được là Trần Quốc Tảng vẫn còn giữ chức Tiết độ sứ từ 1287 cho đến tận 1297, hoặc đã được phong một chức cao hơn, chứ có ai lại giao việc cầm quân cho một người đã về ở ẩn và khoác áo nhà sư, dù cho là người đó chỉ “tu tại gia” và dù cho xưa kia người đó đã từng ở trong hàng tướng lĩnh.
Còn sau năm 1297 thì sao? Chúng ta đều biết, vào năm 1299, vua Trần Nhân Tông (bấy giờ đã làm Thượng hoàng được 7 năm) cũng bỏ ngôi báu, lên núi Yên Tử tu hành ([1]). Nhân Tông là học trò của Tuệ Trung Thượng sĩ, do ảnh hưởng trực tiếp của Tuệ Trung mà tìm đến đạo Thiền. Trong trường hợp Tuệ Trung là Trần Quốc Tảng thì một điều khó có thể chấp nhận được là việc Nhân Tông - học trò có thể bỏ đi tu trong khi Quốc Tảng - ông thầy thì vẫn ở lại tham gia triều chính. Cho nên, trước sau thế nào Quốc Tảng cũng phải trở về và “nhập Thiền” chậm nhất là trong khoảng 1297 - 1299. Thế nhưng, điều đáng lạ là nhiều sự kiện lại như muốn chứng tỏ, sau năm 1299 rất lâu Quốc Tảng còn có mặt ở giữa Triều đình. Chẳng hạn, từ 1300 đến năm 1313, năm ông mất, Đại Việt sử ký toàn thư vẫn còn mấy lần nhắc đến ông. Trong phương pháp chép sử biên niên của thời xưa, phần lớn sự việc đều được chép theo trật tự ngày tháng. Không thể nói thời gian đó Trần Quốc Tảng không còn có mặt nữa nhưng sử vẫn cứ nhắc đến. Hơn nữa, từ sau 1300, sử gia lại còn gọi ông bằng một tước hiệu mới: Hưng Nhượng đại vương. Mặc nhiên ai cũng hiểu ông đã được gia phong. Vì sao vào những năm này Trần Quốc Tảng được nhận thêm tước hiệu cao quý kia nếu chẳng phải là do ông có nhiều công trạng? Do ông vẫn trực tiếp tham gia việc triều chính? Do uy tín của ông ở trong triều ngày càng lớn, và do chỗ là bố vợ của Hoàng đế nên ông được vua Trần Anh Tông tin cậy, trao cho mọi quyền hành (nên nhớ Trần Nhật Duật đến năm 1329 mới được phong đại vương)?
Một đoạn ghi chép sau đây của Đại Việt sử ký toàn thư cũng cho phép ta thừa nhận uy quyền của Trần Quốc Tảng lúc bấy giờ lớn như thế nào. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng năm 1307, Đỗ Khắc Chung được lệnh Thượng hoàng Trần Nhân Tông, đem thuyền vào Chiêm Thành cứu Công chúa Huyền Trân bấy giờ sắp bị lên dàn lửa để chết theo chồng. Nhưng cứu được Huyền Trân về thì giữa đường, Khắc Chung lại cùng nàng gian díu. Việc làm đó làm cho nhiều người ghét và bực, song dường như không ai tiện nói gì cả, vì Khắc Chung là người có công lao lớn, được các vua nhà Trần tin cậy, được giao những chức vụ trọng yếu chưa từng giao cho người ngoài dòng họ Trần. Duy có Trần Quốc Tảng thì không như người khác. Ông mắng Khắc Chung khá gay gắt, và lần nào gặp mặt cũng nói thẳng không chút kiêng nể. Đến nỗi Khắc Chung thường phải lẩn tránh ([1]).
Về phía Đỗ Khắc Chung, nếu chỉ vì Quốc Tảng “là nhạc phụ của thiên tử” mà thôi thì chưa dễ gì ông đã chịu lép đến thế. Chả phải sau này Trần Quốc Chẩn cũng có vai trò không khác gì Quốc Tảng ([1]), mà rốt cuộc vẫn chết vì tay Khắc Chung đấy sao? Chúng tôi nghĩ chắc chắn phải có lý do gì sâu hơn, như là quyền lực và uy tín thực sự của Quốc Tảng ở giữa Triều đình lúc bấy giờ, khiến cho Khắc Chung e dè vì nể. Còn về phía Quốc Tảng cũng vậy, nếu quả đã xuất gia đầu Phật, chỉ biết hai chữ “sắc không” mà gác ra ngoài tai tất cả mọi sự, thì đối với ai chắc cũng coi như nhau, đối với việc gì cũng coi thường cả, và do đó không hơi đâu bực bội với Khắc Chung làm gì.
Đó là sự việc xảy ra vào năm 1307. Sau đó một năm, ở trên núi Yên Tử Trần Nhân Tông qua đời. Thiết tưởng, ta không cần tính đến khả năng tu hành của Trần Quốc Tảng kể từ năm này về sau, vì dù cho từ đây ông có bắt đầu theo đạo “sắc không” thì điều kiện để cho nhà Thiền học Trần Quốc Tảng làm thầy Trần Nhân Tông cũng không có nữa. Mà không có điều kiện đó cũng tức là không thể có sự trùng hợp giữa Trần Quốc Tảng và Tuệ Trung Thượng sĩ.
Tuy nhiên, ngay cả cái khả năng Trần Quốc Tảng lui về và đi tu từ sau 1307 cũng không thể nào xảy ra. Lý do là vào năm 1314, đúng một năm sau ngày ông mất, nhân dịp Trần Minh Tông lên ngôi, triều đình đã truy tặng cho ông chức Thái úy “là chức quan tổng thống việc binh” ([1]). Thử đặt câu hỏi: có một triều đại nào có hành động kỳ cục là đem một phẩm trật thuộc hàng quan trọng bậc nhất về võ mà truy tặng cho một người không còn dính líu gì đến công việc binh bị của nhà nước hay không, chưa nói người đó lại là nhà tu hành, là người đã thoát ly xã hội thế tục? Ngay như ở thời kỳ đầu nhà Lý, một vài ông sư có tham gia vào việc triều chính như Khuông Việt, Pháp Thuận... mà cũng chỉ được phong những danh hiệu Quốc sư, Đại sư là cùng, huống chi là vào thời kỳ nhà Trần, không còn thấy một ông sư nào thực sự tham gia triều chính nữa. Theo nghiên cứu của Phan Huy Chú thì đời Trần, chức Thái úy tuy là thuộc hàng võ, nhưng chức ấy thường chỉ dùng để “gia thêm cho các thân vương trong tôn thất”. Và “người ở chức ấy phần nhiều vẫn giữ chức quan của mình mà kiêm hàm Tể tướng phụ chính” ([1]). Có lẽ Trần Quốc Tảng đã được truy phong Thái úy vì trong nhiều năm dưới triều Trần Anh Tông, ông đã được nhà vua trọng dụng - như truyền thống của vua Trần vẫn trọng dụng nhạc phụ - và có lúc về thực chất đã đóng vai trò gần như là Tể tướng phụ quốc trong triều.
Đem cái tên Trần Quốc Tảng thay cho cái tên Tuệ Trung Thượng sĩ, Bùi Huy Bích ngỡ đã tìm được đáp số quan trọng của một câu đố ly kỳ. Có ngờ đâu, cuộc đời thực của bản thân nhân vật Trần Quốc Tảng lại không chấp nhận bất kỳ một sự thay thế giả tạo nào cả, và vô tình, họ Bùi đã rơi vào cưỡng bức lịch sử. Và khi mà sự cưỡng bức đã lộ rõ tính chất phi lý của nó thì câu hỏi đặt ra từ đầu lời đánh đố lại hiện trở lại, ám ảnh chúng ta: Tuệ Trung Thượng sĩ kỳ thực là ai?
Từ bài Thượng sĩ hành trạng đi tìm những tia sáng mới về tác giả Thượng sĩ ngữ lục.
Muốn hiểu rõ Tuệ Trung Thượng sĩ là ai không thể không đi sâu vào bài Thượng sĩ hành trạng. Bài này viết: “Tuệ Trung Thượng sĩ là con thứ nhất của Khâm Minh Từ Thiện Đại vương và là anh cả của Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu. Xưa, lúc Đại vương mất, Thái Tông Hoàng đế vì cảm nghĩa mà phong cho ông là Hưng Ninh vương” ([1]). Mở Đại Việt sử ký toàn thư ra, lần theo niên kỷ các đời vua Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, cũng có thể lập được một lý lịch khá chính xác của Khâm Minh Từ Thiện Đại vương và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu. Khâm Minh Từ Thiện Đại vương chính là tước hiệu mà các đời vua trên ban cho Trần Liễu, bố Trần Quốc Tuấn. Sử chỉ chép tước hiệu của ông là Phụng Càn vương, nhưng Trần triều thế phả hành trạng ghi rõ tước hiệu đầy đủ nhất của ông là Khâm Minh Từ Thiện Đại vương ([1]). Còn Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu chính là con gái thứ năm của Trần Liễu, được Trần Thánh Tông cưới làm phi năm 1258, sau sắc phong làm Thiên Cảm Hoàng hậu, rồi khi Trần Nhân Tông lên ngôi (1278) lại tôn làm Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu.
Như vậy, lần lượt cởi bỏ những chỗ rối do sự dài dòng về chức tước gây nên, bài Thượng sĩ hành trạng cho ta một giải đáp bước đầu sáng rõ: Tuệ Trung Thượng sĩ là con thứ nhất của Trần Liễu và là anh ruột của Hoàng hậu Nguyên Thánh, vợ Trần Thánh Tông. Thật là một tư liệu lạ lùng ! Không những ông không phải là Trần Quốc Tảng mà còn đứng vào hàng bác ruột Trần Quốc Tảng; ông không phải là con trai Trần Quốc Tuấn mà lại là anh ruột Trần Quốc Tuấn!
Chắc Bùi Huy Bích cũng đã tra cứu sử sách tìm ra được điều đó. Nhưng cái kết quả đó quá đỗi mới lạ và khó tin đối với ông, nên ông đã bác nó đi, thay nó bằng một giả thuyết dễ tin hơn. Bởi vì con thứ nhất của Trần Liễu là người ra sao? Sử sách chả một cuốn nào chép đến. Hẳn ai cũng nhớ trong nội bộ gia đình Trần Liễu có một bi kịch lớn: ông lấy Công chúa nhà Lý là Thuận Thiên, sinh một con trai là Doãn, được phong tước Võ Thành vương. Năm 1237 khi Thuận Thiên đang mang thai đứa con sau thì bị Trần Thủ Độ bắt ép phải bỏ Trần Liễu mà lấy Trần Thái Tông. Thế rồi bà được lập làm Hoàng hậu và đẻ ra Trần Quốc Khang, Trần Thánh Tông v.v... Trần Liễu vì việc này đã khởi loạn, và có phần chắc Võ Thành vương Doãn cũng tán đồng hoặc có trực tiếp góp sức với cha trong vụ khởi loạn đó. Mặc dầu việc gây biến của họ sớm bị dập tắt và cha con Trần Liễu được Thái Tông tha tội, nhưng những uất ức bực bội bên trong thì vẫn cứ tiếp diễn ngấm ngầm. Vì thế, đến năm 1256, chỉ một thời gian sau khi Hoàng hậu Thuận Thiên mất, Doãn “thất thế” phải đem cả nhà trốn sang phương Bắc ([1]).
Nói là con đầu của Trần Liễu thì phải tính đến người này. Nhưng Tuệ Trung Thượng sĩ hẳn không thể là Võ Thành vương Doãn rồi. Một người là Võ Thành vương một người là Hưng Ninh vương. Một người chạy sang đất Bắc, một người lại có công hai lần chống giặc Bắc. Là con đầu của Trần Liễu mà lại không phải là Võ Thành vương Doãn thì thật là lạ. Bùi Huy Bích chắc đã không thể giải đáp được điều mắc mớ đó.
Chúng tôi nghĩ Hưng Ninh vương không phải là Võ Thành vương Doãn mà cũng không nhất thiết là anh em cùng mẹ với Võ Thành vương Doãn. Nhưng có nhiều khả năng ông là anh cùng mẹ với Trần Quốc Tuấn và nhất là với Hoàng hậu Nguyên Thánh như bài Thượng sĩ hành trạng đã nhấn mạnh. Chúng ta để ý rằng khi Hoàng hậu Thuận Thiên mất, Võ Thành vương Doãn phải bỏ chạy mà Hưng Ninh vương và Trần Quốc Tuấn thì vẫn được tin dùng. Vì sao? Vì trong vụ khởi loạn của Trần Liễu hai ông còn nhỏ nên đã không dự vào? Có lẽ! Nhưng cũng rất có thể còn vì một lý do máu mủ: Cả Hưng Ninh vương lẫn Trần Quốc Tuấn đều không phải là con đẻ của Thuận Thiên mà là do một người vợ khác của Trần Liễu sinh ra. Và mấu chốt của vấn đề lại chính là ở đấy. Đại Việt sử ký toàn thư cũng như Việt sử thông giám cương mục đều lưu ý người đọc về cái lý do trực tiếp làm cho Doãn chạy, là Doãn chính là “con đẻ của Hiển Từ” ([1]). Con đẻ của Hiển Từ thì không đồng tình với việc người khác cướp mẹ là chuyện rất bình thường. Không phải con đẻ của Hiển Từ thì ít bị nghi ngờ có tư tưởng phản loạn cũng là chuyện bình thường.
Chúng ta cũng để ý rằng giữa hai loại tước hiệu nhà vua phong cho Trần Quốc Tuấn và Doãn thì tước hiệu của Tuệ Trung Thượng sĩ cũng mở đầu bằng chữ Hưng như của Quốc Tuấn: Hưng Ninh vương. Có thể là những người con cùng một mẹ đã được phong tước mở đầu bằng một chữ: Hưng - Hưng Ninh vương, Hưng Đạo vương v.v... cũng như những người con của Quốc Tuấn sau này cũng sẽ được phong tước giống nhau ở chữ Hưng đó: Hưng Vũ vương, Hưng Nhượng vương v.v... Và nếu tính trong anh em cùng một mẹ, thì gọi Hưng Ninh vương hay Tuệ Trung Thượng sĩ là người con thứ nhất cũng là điều có thể chấp nhận. Con thứ nhất ở đây là “đệ nhất tử”, khác với con cả là “trưởng tử”. Hoặc giả, sau khi Võ Thành vương Doãn chạy, bị bắt, và có thể bị giết, thì không còn được ai tính đến nữa; người ta chỉ còn tính đến người con thứ nhất còn lại là Hưng Ninh vương. Đằng nào cũng thỏa đáng thôi.
(Tạp chí Nhà Văn)
Nguyễn Huệ Chi
Chúng ta đều biết, Yên Tử là nơi đã khai sinh một nền văn hóa Phật giáo nổi tiếng trong lịch sử: đó là nền văn hóa Phật giáo đời Trần, nơi hội nhập cả ba Thiền phái Vô Ngôn, Tỳ Ni và Thảo Đường đời Lý để hình thành Thiền phái Trúc Lâm. Chúng ta cũng biết ba người đứng đầu Thiền phái Trúc Lâm là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang, và muốn hiểu rõ bản sắc tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm thì không thể không nhìn sâu vào thơ văn của họ. Nhưng có một người đã từng góp phần không nhỏ vào cái quá trình hội nhập của ba Thiền phái đời Lý và là dấu nối đưa tới Thiền phái Trúc Lâm thống nhất đời Trần, đã có ảnh hưởng sâu sắc vào quá trình hình thành hệ thống tư tưởng của Thiền phái đó, với tư cách là ông thầy Phật học uy tín bậc nhất của cả ba vị tổ Trúc Lâm. ấy là Tuệ Trung Thượng sĩ.
Tuệ Trung Thượng sĩ đã ảnh hưởng đến Thiền phái Yên Tử như thế nào? ảnh hưởng này bắt nguồn từ mối quan hệ giữa ông với Trần Nhân Tông ngay từ rất lâu trước khi nhà vua xuất gia tu hành. Là anh vợ của Trần Thánh Tông, với kiến thức và sự thể hội Phật học uyên súc của mình, Tuệ Trung Thượng sĩ từng được vua Trần Thánh Tông rất kính trọng, gọi bằng sư huynh, và ký thác Trần Nhân Tông cho ông dạy dỗ. Một lần, Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, vợ Trần Thánh Tông, mời ông anh Tuệ Trung vào cung ăn tiệc. Trên bàn tiệc có cả cỗ mặn lẫn cỗ chay. Thấy anh mình trong bữa ăn quên cả kiêng khem mà nhúng đũa cả vào cỗ mặn một cách phóng túng, Hoàng hậu khẽ nhắc ông: “Anh tu Thiền mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được?”. Tuệ Trung Thượng sĩ cả cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh; anh không hề muốn làm Phật, Phật cũng không hề muốn làm anh. Em chẳng nghe Cổ Đức có nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát, đó sao?”. Trần Nhân Tông bấy giờ cũng có mặt trong bữa tiệc, lần đầu tiên một cách lý giải khoáng đạt như vậy đã in sâu vào tâm trí còn rất non trẻ của ông vua Trần. Thế rồi một thời gian sau, vào tháng Hai năm 1827, Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm qua đời, Vua Trần Thánh Tông cúng chay cho Hoàng hậu, cho con là Trần Nhân Tông đi mời Tuệ Trung đến dự. Lúc này Trần Nhân Tông đã lớn, đã lên ngôi báu được 9 năm. Nhưng từ lâu nhà vua vẫn có một điều tâm niệm thành kính là tham bác sâu vào những điều huyền cơ của Phật giáo. Ông đề nghị Thượng sĩ giúp đỡ. Tuệ Trung bèn trao cho nhà vua hai bộ kinh Tuyết đậu và Dã hiên để vua xem những lúc rảnh rỗi việc công. Nhớ lại câu chuyện đàm thoại giữa Thượng sĩ và mẹ mình hồi nọ, lại có chút băn khoăn về hành vi gọi là “hòa quang đồng trần” của vị Thượng sĩ nổi tiếng khắp trong triều ngoài nội mà mình chưa hiểu rõ, vua làm bộ ngây thơ hỏi ông: “Bạch Thượng sĩ, chúng sinh quen cái nghiệp ăn thịt uống rượu thì làm thế nào thoát khỏi tội báo?”. Tuệ Trung liền trả lời vua: “Nếu có người đang đứng quay lưng lại, thình lình vua đi qua sau lưng, người ấy không biết, cầm một vật gì ném ra phía sau trúng nhầm vào vua. Thử hỏi: người ấy có sợ không? Ông vua có giận không? Phải biết, hai việc ấy không dính líu gì với nhau vậy”.
Rồi ông đọc hai bài kệ sau đây cho vua nghe:
Vạn pháp đều biến diệt,
Tâm ngờ tội liền sinh.
Xưa nay không một vật
Mầm mống hỏi đâu thành?
Hàng ngày khi đối cảnh,
Mọi cảnh từ tâm sinh.
Cảnh tâm không có thật,
Chốn chốn ba-la-mật ([1])
Nhân Tông thưa với Tuệ Trung rằng mình đã hiểu lời dạy của ông về “tội phúc”. Nhưng Tuệ Trung biết ông chưa thật hiểu. Ông bèn đọc tiếp bài kệ sau đây:
Ăn thịt và ăn cỏ,
Chúng sinh từng loài đó.
Xuân về cây cỏ sinh
Họa phúc nào đâu có?
Nhân Tông nhân đấy liền hỏi ông câu hỏi vốn đã chất chứa trong tâm khảm nhà vua từ lâu: “Như vậy thì công phu giữ giới trong sạch không chút xao lãng là để làm gì?”. Tuệ Trung cười không đáp. Vua cố nài. Ông bèn thong thả đọc cho vua nghe một bài kệ có tính cách khai phóng cho nhãn giới của nhà vua, mà trước khi đọc ông còn cẩn thận dặn vua đừng bảo cho người không ra gì biết:
Trì giới và nhẫn nhục,
Chuốc tội chẳng chuốc phúc.
Muốn vượt qua tội phúc,
Đừng trì giới nhẫn nhục.
Như người khi leo cây
Đang yên bỗng tìm nguy.
Không trèo lên cây nữa,
Trăng gió làm được gì?
Một lần gặp gỡ khác, Trần Nhân Tông còn căn vặn Tuệ Trung rằng: Tông chỉ của Thiền phái mà Thượng sĩ theo đuổi là gì. ý của Nhân Tông là muốn tìm hiểu bí quyết của sự giác ngộ của Tuệ Trung khi ông nhận y bát từ tay Thiền sư Tiêu Dao để rút ra cho mình một kinh nghiệm trên đường giác ngộ. Những lời đáp của vị Thượng sĩ làm nhà vua đột nhiên bừng sáng về yếu chỉ của Thiền đạo: “Hãy quay về tự thân mà tìm lấy tông chỉ ấy, chứ không thể đạt được ở một ai khác”.
Đấy, những ảnh hưởng tư tưởng sâu đậm của Tuệ Trung Thượng sĩ đối với vị tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử bước đầu là như thế đấy! Có thể nói thông qua Trần Nhân Tông, ông đã đưa lại cho Phật giáo đời Trần một tinh thần phóng nhiệm, một thái độ dấn thân mạnh bạo, đóng góp phần tích cực vào giải quyết các yêu cầu chính trị của đất nước trong giai đoạn, phá bỏ được những giằng kéo, chấp nê trong hình thức và danh từ. Trong cuộc đời hoạt động Phật giáo của mình, các vị Tổ Trúc Lâm còn được Thượng sĩ chỉ bảo nhiều lần. Cho nên, dù không được Tuệ Trung trực tiếp truyền y bát, Nhân Tông vẫn nhận ông là vị thầy đã khai sáng cho tâm linh mình. Sau ngày ông mất, bộ Thượng sĩ ngữ lục của Tuệ Trung đã được chính tay Pháp Loa biên tập, trông nom khắc ván tại Yên Tử, và Trần Nhân Tông đã viết phần Thượng sĩ hành trạng.
Nhưng có một vấn đề lâu nay vẫn chưa sáng tỏ: Tuệ Trung Thượng sĩ là ai? Dựa vào nhiều nguồn tài liệu quen thuộc, nhiều người trong chúng ta chắc có thể trả lời ngay: đó là Trần Quốc Tảng, con thứ Trần Hưng Đạo. Sự thật, không phải như vậy. Trước đây hơn bốn mươi năm, bản thân chúng tôi cũng đinh ninh Trần Quốc Tảng là tác giả Thượng sĩ ngữ lục không có gì phải bàn cãi. Nhưng chỉ một thời gian sau đó khảo sát kỹ hơn mới biết rằng mình đã lầm. Những tìm tòi tư liệu trong hai năm 1973 - 1974 mà sau này chúng tôi có dịp công bố vắn tắt trong Thơ văn Lý - Trần tập I (1977), đã đưa chúng tôi đến một giả thuyết mới: Người thầy của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử không phải là Trần Quốc Tảng mà là Trần Tung. Sau ngày đất nước thống nhất, chúng tôi được biết, một nhà nghiên cứu Thiền học hiện ở Pháp là Nguyễn Lang, cũng có những phát hiện thống nhất với chúng tôi trong bộ Việt Nam Phật giáo sử luận mà năm 1978, ông có nhã ý gửi tặng. Tuy vậy, cho đến nay, dư luận bạn đọc vẫn nửa tin nửa ngờ về phát hiện đã nói. Có người còn cho đó là những ý kiến quá táo bạo và lạ lẫm. Chúng tôi rất hiểu tình thế khó khăn của chúng tôi, là phải làm sao chiến thắng được một tâm lý quen thuộc vốn đã gắn quá chặt bộ Thượng sĩ ngữ lục cũng như những sợi dây tinh thần giữa Thiền phái Trúc Lâm với cái tên Trần Quốc Tảng. Vì vậy, trong bài này, trước hết xin hãy minh định lại một cách cặn kẽ những nhầm lẫn giữa Trần Quốc Tảng và Trần Tung.
Bắt đầu nhầm từ Bùi Huy Bích.
Không phải chúng ta mà chính Bùi Huy Bích ([1]) mới là người khởi đầu của mọi sai lầm. Nói thế, e không khỏi gây nên trong bạn đọc ít nhiều ngờ vực. Chẳng phải ngót 200 năm nay, ông Hoàng giáp họ Bùi vẫn nổi danh là một học trò giỏi của Lê Quý Đôn, một người cầm bút thận trọng và chững chạc? Nhưng quả tình là vậy! Không có ai cùng thời với Bùi Huy Bích, và cũng chưa thấy ai trước Bùi Huy Bích, đề cập đến vấn đề phức tạp này.
Khi biên soạn Hoàng Việt thi văn tuyển, một trong hai bộ hợp tuyển có tiếng của mình, Bùi Huy Bích đã chọn vào đây bài Phóng cuồng ca, ghi tên tác giả Trần Quốc Tảng. Gần đây, một vài bộ hợp tuyển thơ văn cũng bắt chước họ Bùi in lại bài văn ấy, vẫn dưới cái tên Trần Quốc Tảng không có gì nghi vấn. Nhưng Phóng cuồng ca chính là bài Phóng cuồng ngâm, một tên gọi có trước, được in trong bộ Thượng sĩ ngữ lục, tập hợp tác phẩm của Tuệ Trung Thượng sĩ. Thượng sĩ ngữ lục không biết được khắc in đích xác năm nào nhưng được tái bản khá nhiều lần, và bản in xưa nhất còn lại đến nay là bản “trùng san” năm Chính Hòa thứ tư (1683) do sư Tuệ Nguyên ở chùa Long Động, núi Yên Tử, đề tựa ([1]).
Xuất trình bài Phóng cuồng ca với tên Trần Quốc Tảng phải chăng Bùi Huy Bích muốn khẳng định Trần Quốc tảng chính là Tuệ Trung thượng sĩ? Đúng thế! Cũng trong Hoàng Việt văn tuyển ông viết về tiểu sử Trần Quốc Tảng như sau: “Trần Ninh vương Quốc Tảng, là con cả Hưng Đạo, hai lần chống giặc Mông Cổ, được ban cho coi giữ quân dân lộ Hồng, sau lui về sống ở phong ấp Tịnh Bang (nay là xã An Quảng, huyện Vĩnh Lại), đổi tên là thôn Vạn Niên. Tự đặt hiệu là Tuệ Trung Thượng sĩ. Thường cưỡi thuyền rong chơi ở khúc Cửu Giang, ngâm thơ và sáng tác Phóng cuồng ca” ([1]).
Có thể thấy, chính là vì mấy lời trên đây mà nhiều nhà nghiên cứu về sau đã dứt khoát coi Trần Quốc Tảng là một tác giả thời Lý - Trần, cũng như đã mạnh dạn đem Thượng sĩ ngữ lục bổ sung vào khối lượng tác phẩm vốn quá nghèo nàn mà họ Bùi đăng ký cho Trần Quốc Tảng.
Thế nhưng, sự tình lại không giản đơn như thế! Chỉ vì sơ ý, chúng ta đã không nhận thấy trong mấy lời khẳng định của Bùi Huy Bích những ý kiến có phần mâu thuẫn với các tài liệu ra đời trước ông. Trước hết là Đại Việt sử ký toàn thư. Đây là bộ sử tổng hợp của nhiều nhà viết sử triều Lê, trong đó, phần lịch sử thời Trần do Phan Phu Tiên chấp bút. Nghĩa là những điều Đại Việt sử ký toàn thư nói về Trần Quốc Tảng ít ra cũng đã có trước Bùi Huy Bích gần 4 thế kỷ. Đại Việt sử ký toàn thư nói về Trần Quốc Tảng thế nào? Có hai điểm về căn bản khác với học giả họ Bùi. Đó là: Trần Quốc Tảng là con thứ Trần Quốc Tuấn chứ không phải con đầu. Và Trần Quốc Tảng có tước hiệu Hưng Nhượng vương, chứ không phải Ninh vương hay Hưng Ninh vương.
Một giả thuyết từng được nêu ra: phải chăng Đại Việt sử ký toàn thư chép lầm, và vì lầm nên Bùi Huy Bích đã sửa đi? Giả thuyết này rõ ràng không ổn. Chúng ta đều biết Trần Quốc Tuấn có con trai là Hưng Vũ vương Nghiễn, Hưng Hiến vương Uy, Hưng Nhượng vương Tảng và Hưng Trí hầu Nghiện (ông này về sau cũng được phong vương). Chức tước, tên tuổi và trật tự đó được Đại Việt sử ký toàn thư nói đến nhiều lần. Nhiều bộ sử khác như Việt sử thông giám cương mục, Trần triều thế phả hành trạng... cũng đều xác nhận điều này. Hơn nữa, khi Trần Quốc Tuấn mất (1300), Đại Việt sử ký toàn thư nhân đấy có kể lại tấn kịch bất hòa trong gia đình ông mà một trong những vai chính của tấn kịch lại là “người con thứ Hưng Nhượng vương”. Chuyện kể như sau: “Khi Yên Sinh vương (Trần Liễu) sắp mất, cầm tay Quốc Tuấn và giối giăng rằng: “Mày mà không vì cha lấy được thiên hạ thì cha chết không nhắm mắt”! Quốc Tuấn để bụng thôi nhưng không cho thế là phải. Đến khi đã trở thành vị tổng chỉ huy quân đội, nắm trong tay một quyền lực rất lớn, Quốc Tuấn liền đem lời cha dặn hỏi ý kiến Yết Kiêu, Dã Tượng và con trai là Hưng Võ vương. Lời can ngăn của cả ba người làm ông rất đẹp lòng. Một hôm khác, Quốc Tuấn đem câu ấy hỏi con thứ là Hưng Nhượng vương Quốc Tảng. Quốc Tảng nói: “Tống Thái Tổ là một ông lão làm ruộng mà thừa cơ dấy vận cũng được thiên hạ”. Quốc Tuấn rút gươm kể tội rằng: “Kẻ làm tôi phản loạn là do ở đứa con bất hiếu”. ý muốn giết Quốc Tảng. Hưng Võ vương nghe tin ấy vội vàng chạy đến khóc xin lỗi hộ, Quốc Tuấn mới tha. Đến đây, Quốc Tuấn bảo Hưng Võ vương rằng: “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào” ([1]).
Chắc rằng những ai thích đọc sử nước nhà đều không mấy người quên được câu chuyện xúc động kể trên. Trật tự chặt chẽ của các tình tiết và vai trò cũng như tính cách khác nhau của hai người con trai Trần Quốc Tuấn ở đây được thể hiện rõ đến mức khó có thể nghĩ rằng nhà chép sử đã tùy tiện đảo lộn trước sau, đem con thứ gán cho con trưởng, và ngược lại. Là người có vốn kiến thức chắc chắn là rất rộng, lẽ nào Bùi Huy Bích lại không hề biết đến quốc sử, hoặc lầm lẫn ở ngay chỗ mà người bình thường cũng ít lầm? Lẽ nào những điều sử chép rành rẽ đến thế mà vẫn không đủ cho ông tin, đến mức phải tùy tiện sửa chữa?
Vậy thì, chỉ còn một khả năng, là trong khi viết tiểu sử Trần Quốc Tảng, Bùi Huy Bích đã sử dụng một nguồn tài liệu khác với chính sử. Đó là một khả năng thực tế. Nghiên cứu kỹ bản Thượng sĩ ngữ lục trùng san vào năm thứ tư niên hiệu Chính Hòa (1683), chúng tôi có khuynh hướng tin rằng, văn bản này hoặc một văn bản tương tự được trùng san ít lâu trước hay sau đó, chính là nguồn tài liệu mà họ Bùi sử dụng, khác với Đại Việt sử ký toàn thư. ở cuối văn bản này có một bài Thượng sĩ hành trạng, ghi chép tiểu sử của Thượng sĩ Tuệ Trung. Bài hành trạng nói rõ: Thượng sĩ vốn là con trưởng trong gia đình, là anh ruột của Hoàng hậu, và là người được vua Trần Thái Tông phong tước Hưng Ninh vương. Tất nhiên bài hành trạng không hề nói Hưng Ninh vương hay Tuệ Trung Thượng sĩ là Trần Quốc Tảng, cũng không cho biết tên thật của ông là gì. Cho nên trước sau, những lời mập mờ này vẫn là một câu đố bí hiểm, kích thích rất mạnh trí tò mò của người đọc. Bùi Huy Bích hẳn đã bị lời đánh đố này hấp dẫn. Nhận thấy trong bài Thượng sĩ hành trạng có nhắc tới chiến công hai lần chống giặc “Thát Đát” của Tuệ Trung Thượng sĩ; nhận thấy chức Tiết độ sứ Thái Bình mà Tuệ Trung Thượng sĩ được phong cũng giống chức Tiết độ sứ mà Đại Việt sử ký toàn thư ghi cho Trần Quốc Tảng; lại nhận thấy trong tước hiệu Hưng Ninh vương có chữ Hưng đứng đầu là chữ vẫn dành riêng cho tước hiệu của mấy bố con Trần Quốc Tuấn; đặc biệt khi xét tiểu sử Trần Quốc Tảng, thấy lời đối đáp “ngông cuồng” của ông với Trần Quốc Tuấn có vẻ gì như là gần với khái niệm “phóng cuồng” trong các tác phẩm của Tuệ Trung Thượng sĩ (thực ra thì không có gì là giống nhau cả), họ Bùi liền đoán ngay Tuệ Trung Thượng sĩ là Trần Quốc Tảng. Và từ một ức đoán, ông đã vội vã dựng lên cả một bảng tiểu sử, trong đó, những nét chủ yếu thì mượn của bài Thượng sĩ hành trạng (thậm chí có chỗ mượn nguyên cả câu văn trong bài Thượng sĩ hành trạng) ([1]), bài Phóng cuồng ca thì mượn của Thượng sĩ ngữ lục, còn con người thật, tức cái tên Trần Quốc Tảng, thì mượn của Đại Việt sử ký toàn thư. Thành thử, từ một Tuệ Trung Thượng sĩ chưa có hình dáng rõ ràng trong Thượng sĩ ngữ lục, qua bàn tay nhào nặn của Bùi Huy Bích đã nghiễm nhiên trở thành Trần Quốc Tảng, một con người bằng xương bằng thịt trong lịch sử. Từ một Trần Quốc Tảng tướng lĩnh thuần túy trong sử, qua sự vay mượn của Bùi Huy Bích đã trở thành một Trần Quốc Tảng thi sĩ, tác giả bài ca Phóng cuồng.
Căn bản khác nhau giữa Trần Quốc Tảng và Tuệ Trung Thượng sĩ.
Bùi Huy Bích quả đã phạm phải một sai lầm. Ông cố gò gẫm để đồng nhất cho được hai con người mà lý lịch có một vài điểm giống nhau. Nhưng trên thực tế đấy vẫn là hai con người hoàn toàn khác biệt. Một bên, Tuệ Trung Thượng sĩ là con đầu; một bên, Trần Quốc Tảng là con thứ. Một bên được phong tước Hưng Ninh vương; một bên được phong tước Hưng Nhượng vương. Trong quá trình tìm hiểu, đối chiếu tiểu sử giữa hai con người đó, chúng tôi ngày càng tìm thêm được nhiều điểm khác biệt giữa họ với nhau mà điểm khác nhau cơ bản nhất là ở chỗ: Nếu Tuệ Trung Thượng sĩ là người sau kháng chiến chống Nguyên thắng lợi đã dứt khoát từ bỏ mọi tước vị của Triều đình ban tặng, lui về ở ẩn ở ấp Trịnh Bang và tu Phật, trở thành ông thầy có uy tín của Trúc Lâm tam tổ, thì Trần Quốc Tảng lại là con người hoàn toàn “trần thế”, con người tích cực “tham chính” và chưa một lúc nào rút lui vào cửa Thiền.
Để chứng minh điều này, hãy kiểm tra lại các tài liệu lịch sử có liên quan. Hãy chỉ tính từ năm 1287 trở đi, là năm đất nước bước ra khỏi cuộc xâm lược cuối cùng của giặc Mông Cổ. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, trong kỳ bình công khen thưởng vào cuối năm đó Trần Quốc Tảng được phong chức Tiết độ sứ. Còn Tuệ Trung Thượng sĩ thì Đại Việt sử ký toàn thư tuyệt không nhắc gì tới, nhưng qua bài Thượng sĩ hành trạng, có thể đoán ông cũng được phong chức Tiết độ sứ Thái Bình vào dịp này. Hãy cho rằng đây vẫn là một điểm nhập nhằng, một điểm “chập” làm cho người ta vẫn phải lấn cấn khi cần đoán định giữa Trần quốc Tảng và Trần Tung là một hay hai người. Tuy nhiên, vì họ đều có công lao trong kháng chiến chống Nguyên Mông nên được khen thưởng trong cùng một đợt cũng là điều không có gì lạ. Nhưng nếu cả hai người cùng nhận chức Tiết độ sứ một lần thì lại cũng là điều thuận lợi, vì chắc chắn họ sẽ thôi chức người trước người sau, chứ không thể ngẫu nhiên cùng thôi một lần. Mà như bài Thượng sĩ hành trạng cho biết thì người nào thôi chức sớm hơn, người ấy ắt là Tuệ Trung Thượng sĩ. Vậy ai là người thôi chức sớm hơn? Hiển nhiên người đó không thể là Trần Quốc Tảng, bởi lẽ mãi cho đến năm 1297, sau khi nhận chức Tiết độ sứ mười năm, sử còn chép rằng Trần Quốc Tảng vâng mệnh vua Trần Anh Tông cầm quân đi đánh sách Sầm Tớ (ở miền núi Thanh Hóa ngày nay) ([1]). Cùng một chuyến ra quân với ông, Trần Nhật Duật cũng được vua phái đi đánh sách A Lộc. Hẳn không cần nhà chép sử giải thích thêm thì chúng ta cũng đoán được là Trần Quốc Tảng vẫn còn giữ chức Tiết độ sứ từ 1287 cho đến tận 1297, hoặc đã được phong một chức cao hơn, chứ có ai lại giao việc cầm quân cho một người đã về ở ẩn và khoác áo nhà sư, dù cho là người đó chỉ “tu tại gia” và dù cho xưa kia người đó đã từng ở trong hàng tướng lĩnh.
Còn sau năm 1297 thì sao? Chúng ta đều biết, vào năm 1299, vua Trần Nhân Tông (bấy giờ đã làm Thượng hoàng được 7 năm) cũng bỏ ngôi báu, lên núi Yên Tử tu hành ([1]). Nhân Tông là học trò của Tuệ Trung Thượng sĩ, do ảnh hưởng trực tiếp của Tuệ Trung mà tìm đến đạo Thiền. Trong trường hợp Tuệ Trung là Trần Quốc Tảng thì một điều khó có thể chấp nhận được là việc Nhân Tông - học trò có thể bỏ đi tu trong khi Quốc Tảng - ông thầy thì vẫn ở lại tham gia triều chính. Cho nên, trước sau thế nào Quốc Tảng cũng phải trở về và “nhập Thiền” chậm nhất là trong khoảng 1297 - 1299. Thế nhưng, điều đáng lạ là nhiều sự kiện lại như muốn chứng tỏ, sau năm 1299 rất lâu Quốc Tảng còn có mặt ở giữa Triều đình. Chẳng hạn, từ 1300 đến năm 1313, năm ông mất, Đại Việt sử ký toàn thư vẫn còn mấy lần nhắc đến ông. Trong phương pháp chép sử biên niên của thời xưa, phần lớn sự việc đều được chép theo trật tự ngày tháng. Không thể nói thời gian đó Trần Quốc Tảng không còn có mặt nữa nhưng sử vẫn cứ nhắc đến. Hơn nữa, từ sau 1300, sử gia lại còn gọi ông bằng một tước hiệu mới: Hưng Nhượng đại vương. Mặc nhiên ai cũng hiểu ông đã được gia phong. Vì sao vào những năm này Trần Quốc Tảng được nhận thêm tước hiệu cao quý kia nếu chẳng phải là do ông có nhiều công trạng? Do ông vẫn trực tiếp tham gia việc triều chính? Do uy tín của ông ở trong triều ngày càng lớn, và do chỗ là bố vợ của Hoàng đế nên ông được vua Trần Anh Tông tin cậy, trao cho mọi quyền hành (nên nhớ Trần Nhật Duật đến năm 1329 mới được phong đại vương)?
Một đoạn ghi chép sau đây của Đại Việt sử ký toàn thư cũng cho phép ta thừa nhận uy quyền của Trần Quốc Tảng lúc bấy giờ lớn như thế nào. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng năm 1307, Đỗ Khắc Chung được lệnh Thượng hoàng Trần Nhân Tông, đem thuyền vào Chiêm Thành cứu Công chúa Huyền Trân bấy giờ sắp bị lên dàn lửa để chết theo chồng. Nhưng cứu được Huyền Trân về thì giữa đường, Khắc Chung lại cùng nàng gian díu. Việc làm đó làm cho nhiều người ghét và bực, song dường như không ai tiện nói gì cả, vì Khắc Chung là người có công lao lớn, được các vua nhà Trần tin cậy, được giao những chức vụ trọng yếu chưa từng giao cho người ngoài dòng họ Trần. Duy có Trần Quốc Tảng thì không như người khác. Ông mắng Khắc Chung khá gay gắt, và lần nào gặp mặt cũng nói thẳng không chút kiêng nể. Đến nỗi Khắc Chung thường phải lẩn tránh ([1]).
Về phía Đỗ Khắc Chung, nếu chỉ vì Quốc Tảng “là nhạc phụ của thiên tử” mà thôi thì chưa dễ gì ông đã chịu lép đến thế. Chả phải sau này Trần Quốc Chẩn cũng có vai trò không khác gì Quốc Tảng ([1]), mà rốt cuộc vẫn chết vì tay Khắc Chung đấy sao? Chúng tôi nghĩ chắc chắn phải có lý do gì sâu hơn, như là quyền lực và uy tín thực sự của Quốc Tảng ở giữa Triều đình lúc bấy giờ, khiến cho Khắc Chung e dè vì nể. Còn về phía Quốc Tảng cũng vậy, nếu quả đã xuất gia đầu Phật, chỉ biết hai chữ “sắc không” mà gác ra ngoài tai tất cả mọi sự, thì đối với ai chắc cũng coi như nhau, đối với việc gì cũng coi thường cả, và do đó không hơi đâu bực bội với Khắc Chung làm gì.
Đó là sự việc xảy ra vào năm 1307. Sau đó một năm, ở trên núi Yên Tử Trần Nhân Tông qua đời. Thiết tưởng, ta không cần tính đến khả năng tu hành của Trần Quốc Tảng kể từ năm này về sau, vì dù cho từ đây ông có bắt đầu theo đạo “sắc không” thì điều kiện để cho nhà Thiền học Trần Quốc Tảng làm thầy Trần Nhân Tông cũng không có nữa. Mà không có điều kiện đó cũng tức là không thể có sự trùng hợp giữa Trần Quốc Tảng và Tuệ Trung Thượng sĩ.
Tuy nhiên, ngay cả cái khả năng Trần Quốc Tảng lui về và đi tu từ sau 1307 cũng không thể nào xảy ra. Lý do là vào năm 1314, đúng một năm sau ngày ông mất, nhân dịp Trần Minh Tông lên ngôi, triều đình đã truy tặng cho ông chức Thái úy “là chức quan tổng thống việc binh” ([1]). Thử đặt câu hỏi: có một triều đại nào có hành động kỳ cục là đem một phẩm trật thuộc hàng quan trọng bậc nhất về võ mà truy tặng cho một người không còn dính líu gì đến công việc binh bị của nhà nước hay không, chưa nói người đó lại là nhà tu hành, là người đã thoát ly xã hội thế tục? Ngay như ở thời kỳ đầu nhà Lý, một vài ông sư có tham gia vào việc triều chính như Khuông Việt, Pháp Thuận... mà cũng chỉ được phong những danh hiệu Quốc sư, Đại sư là cùng, huống chi là vào thời kỳ nhà Trần, không còn thấy một ông sư nào thực sự tham gia triều chính nữa. Theo nghiên cứu của Phan Huy Chú thì đời Trần, chức Thái úy tuy là thuộc hàng võ, nhưng chức ấy thường chỉ dùng để “gia thêm cho các thân vương trong tôn thất”. Và “người ở chức ấy phần nhiều vẫn giữ chức quan của mình mà kiêm hàm Tể tướng phụ chính” ([1]). Có lẽ Trần Quốc Tảng đã được truy phong Thái úy vì trong nhiều năm dưới triều Trần Anh Tông, ông đã được nhà vua trọng dụng - như truyền thống của vua Trần vẫn trọng dụng nhạc phụ - và có lúc về thực chất đã đóng vai trò gần như là Tể tướng phụ quốc trong triều.
Đem cái tên Trần Quốc Tảng thay cho cái tên Tuệ Trung Thượng sĩ, Bùi Huy Bích ngỡ đã tìm được đáp số quan trọng của một câu đố ly kỳ. Có ngờ đâu, cuộc đời thực của bản thân nhân vật Trần Quốc Tảng lại không chấp nhận bất kỳ một sự thay thế giả tạo nào cả, và vô tình, họ Bùi đã rơi vào cưỡng bức lịch sử. Và khi mà sự cưỡng bức đã lộ rõ tính chất phi lý của nó thì câu hỏi đặt ra từ đầu lời đánh đố lại hiện trở lại, ám ảnh chúng ta: Tuệ Trung Thượng sĩ kỳ thực là ai?
Từ bài Thượng sĩ hành trạng đi tìm những tia sáng mới về tác giả Thượng sĩ ngữ lục.
Muốn hiểu rõ Tuệ Trung Thượng sĩ là ai không thể không đi sâu vào bài Thượng sĩ hành trạng. Bài này viết: “Tuệ Trung Thượng sĩ là con thứ nhất của Khâm Minh Từ Thiện Đại vương và là anh cả của Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu. Xưa, lúc Đại vương mất, Thái Tông Hoàng đế vì cảm nghĩa mà phong cho ông là Hưng Ninh vương” ([1]). Mở Đại Việt sử ký toàn thư ra, lần theo niên kỷ các đời vua Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, cũng có thể lập được một lý lịch khá chính xác của Khâm Minh Từ Thiện Đại vương và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu. Khâm Minh Từ Thiện Đại vương chính là tước hiệu mà các đời vua trên ban cho Trần Liễu, bố Trần Quốc Tuấn. Sử chỉ chép tước hiệu của ông là Phụng Càn vương, nhưng Trần triều thế phả hành trạng ghi rõ tước hiệu đầy đủ nhất của ông là Khâm Minh Từ Thiện Đại vương ([1]). Còn Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu chính là con gái thứ năm của Trần Liễu, được Trần Thánh Tông cưới làm phi năm 1258, sau sắc phong làm Thiên Cảm Hoàng hậu, rồi khi Trần Nhân Tông lên ngôi (1278) lại tôn làm Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu.
Như vậy, lần lượt cởi bỏ những chỗ rối do sự dài dòng về chức tước gây nên, bài Thượng sĩ hành trạng cho ta một giải đáp bước đầu sáng rõ: Tuệ Trung Thượng sĩ là con thứ nhất của Trần Liễu và là anh ruột của Hoàng hậu Nguyên Thánh, vợ Trần Thánh Tông. Thật là một tư liệu lạ lùng ! Không những ông không phải là Trần Quốc Tảng mà còn đứng vào hàng bác ruột Trần Quốc Tảng; ông không phải là con trai Trần Quốc Tuấn mà lại là anh ruột Trần Quốc Tuấn!
Chắc Bùi Huy Bích cũng đã tra cứu sử sách tìm ra được điều đó. Nhưng cái kết quả đó quá đỗi mới lạ và khó tin đối với ông, nên ông đã bác nó đi, thay nó bằng một giả thuyết dễ tin hơn. Bởi vì con thứ nhất của Trần Liễu là người ra sao? Sử sách chả một cuốn nào chép đến. Hẳn ai cũng nhớ trong nội bộ gia đình Trần Liễu có một bi kịch lớn: ông lấy Công chúa nhà Lý là Thuận Thiên, sinh một con trai là Doãn, được phong tước Võ Thành vương. Năm 1237 khi Thuận Thiên đang mang thai đứa con sau thì bị Trần Thủ Độ bắt ép phải bỏ Trần Liễu mà lấy Trần Thái Tông. Thế rồi bà được lập làm Hoàng hậu và đẻ ra Trần Quốc Khang, Trần Thánh Tông v.v... Trần Liễu vì việc này đã khởi loạn, và có phần chắc Võ Thành vương Doãn cũng tán đồng hoặc có trực tiếp góp sức với cha trong vụ khởi loạn đó. Mặc dầu việc gây biến của họ sớm bị dập tắt và cha con Trần Liễu được Thái Tông tha tội, nhưng những uất ức bực bội bên trong thì vẫn cứ tiếp diễn ngấm ngầm. Vì thế, đến năm 1256, chỉ một thời gian sau khi Hoàng hậu Thuận Thiên mất, Doãn “thất thế” phải đem cả nhà trốn sang phương Bắc ([1]).
Nói là con đầu của Trần Liễu thì phải tính đến người này. Nhưng Tuệ Trung Thượng sĩ hẳn không thể là Võ Thành vương Doãn rồi. Một người là Võ Thành vương một người là Hưng Ninh vương. Một người chạy sang đất Bắc, một người lại có công hai lần chống giặc Bắc. Là con đầu của Trần Liễu mà lại không phải là Võ Thành vương Doãn thì thật là lạ. Bùi Huy Bích chắc đã không thể giải đáp được điều mắc mớ đó.
Chúng tôi nghĩ Hưng Ninh vương không phải là Võ Thành vương Doãn mà cũng không nhất thiết là anh em cùng mẹ với Võ Thành vương Doãn. Nhưng có nhiều khả năng ông là anh cùng mẹ với Trần Quốc Tuấn và nhất là với Hoàng hậu Nguyên Thánh như bài Thượng sĩ hành trạng đã nhấn mạnh. Chúng ta để ý rằng khi Hoàng hậu Thuận Thiên mất, Võ Thành vương Doãn phải bỏ chạy mà Hưng Ninh vương và Trần Quốc Tuấn thì vẫn được tin dùng. Vì sao? Vì trong vụ khởi loạn của Trần Liễu hai ông còn nhỏ nên đã không dự vào? Có lẽ! Nhưng cũng rất có thể còn vì một lý do máu mủ: Cả Hưng Ninh vương lẫn Trần Quốc Tuấn đều không phải là con đẻ của Thuận Thiên mà là do một người vợ khác của Trần Liễu sinh ra. Và mấu chốt của vấn đề lại chính là ở đấy. Đại Việt sử ký toàn thư cũng như Việt sử thông giám cương mục đều lưu ý người đọc về cái lý do trực tiếp làm cho Doãn chạy, là Doãn chính là “con đẻ của Hiển Từ” ([1]). Con đẻ của Hiển Từ thì không đồng tình với việc người khác cướp mẹ là chuyện rất bình thường. Không phải con đẻ của Hiển Từ thì ít bị nghi ngờ có tư tưởng phản loạn cũng là chuyện bình thường.
Chúng ta cũng để ý rằng giữa hai loại tước hiệu nhà vua phong cho Trần Quốc Tuấn và Doãn thì tước hiệu của Tuệ Trung Thượng sĩ cũng mở đầu bằng chữ Hưng như của Quốc Tuấn: Hưng Ninh vương. Có thể là những người con cùng một mẹ đã được phong tước mở đầu bằng một chữ: Hưng - Hưng Ninh vương, Hưng Đạo vương v.v... cũng như những người con của Quốc Tuấn sau này cũng sẽ được phong tước giống nhau ở chữ Hưng đó: Hưng Vũ vương, Hưng Nhượng vương v.v... Và nếu tính trong anh em cùng một mẹ, thì gọi Hưng Ninh vương hay Tuệ Trung Thượng sĩ là người con thứ nhất cũng là điều có thể chấp nhận. Con thứ nhất ở đây là “đệ nhất tử”, khác với con cả là “trưởng tử”. Hoặc giả, sau khi Võ Thành vương Doãn chạy, bị bắt, và có thể bị giết, thì không còn được ai tính đến nữa; người ta chỉ còn tính đến người con thứ nhất còn lại là Hưng Ninh vương. Đằng nào cũng thỏa đáng thôi.
(Tạp chí Nhà Văn)
Love mickey,