Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Lê Văn Thảo và sự vận động của nhà văn Nam Bộ đặc sắc

0 trả lời, 379 lượt xem — Trang 1 / 1
Lê Văn Thảo và sự vận động của nhà văn Nam Bộ đặc sắc

Phạm Thị Minh Thư

Đâu như trong những năm bảy mươi tôi có đọc một truyện ngắn của Lê Văn Thảo, truyện này tôi không nhớ tên, cả ông cũng vậy khi được hỏi về nó. Cho mãi đến năm 1998 tôi mới đọc truyện ngắn thứ hai của nhà văn. Truyện thế này.
Năm 1968 đơn vị “tôi” đánh vào Sài Gòn, đóng quân tại một ngôi nhà. Trong lúc các gia đình chung quanh tản cư hết, bom đạn đầy trời thì cô gái chủ nhà vẫn suốt ngày ở trong phòng nấu nướng ăn uống, một ngày vài bận xuống nhà vặn nước tưới cây, cho chim ăn, đứng lại một lúc nghe chim hót, mà “mấy con hoạ mi vàng anh này bom đạn càng nhiều hót càng hay”. Thái độ “thản nhiên lạnh lùng” “không tỏ vẻ chống đối hay chấp nhận” của cô gái khiến “tôi” rất lạ. Rồi một cuộc đối thoại đã diễn ra. “Cô là người Sài Gòn đầu tiên chúng tôi gặp đấy”. “Tôi cũng mới gặp mấy anh”. “Cô thật tốt cho chúng tôi ở nhờ như thế này”. “Không có gì đâu mà”. “Cô ở một mình như vầy không sợ sao?”. “Tôi ở trong nhà tôi mà sợ cái gì?”. Thật sáng tỏ và bình thường nhưng “tôi” lại càng như không hiểu. Nhất là, đơn vị rút đi một chiến sĩ lạc đường, bị thương đã phải lộn lại trú thêm ở ngôi nhà ít lâu, vẫn với thái độ thản nhiên lạnh lùng cô gái tiếp nhận săn sóc người chiến sĩ cho đến lúc anh tìm được đường rút!… Phải chăng “tôi” chỉ chờ đợi người Sài Gòn xinh đẹp này một trong hai thái độ chống đối hoặc vồn vã gia nhập hoà đồng, khác đi sẽ là một thách đố?… Được cái “tôi” chỉ là người viết văn nên lối nghĩ này chỉ dẫn đến thắc mắc và tìm biết. Mười năm trôi qua từ những ngày Mậu Thân, “tôi” đã có lời giải đáp về cô gái. Rồi lại mười năm nữa. Câu chuyện thứ hai xuất hiện. Lúc này cuộc đời thật của cô gái thích tưới cây cho chim ăn và nghe chúng hót, bình thản trước những gì khác mình, không thuộc về đời sống của mình mới lộ diện. Ra những ngày bom đạn dữ dội lại là những ngày hạnh phúc của cô, gia đình tản cư cô gái trốn lại để sống với người tình tại nhà, và bất hạnh của đời cô cũng từ đây, trong mối tình oái oăm này. Một cuộc đời như cuộc đời ấy không hề có trong hình dung của “tôi”, với nó thì cả “bên này” lẫn “bên kia” đều chả giải quyết được gì!… Người kể “tôi” nghe về cuộc đời cô gái từng nói: “Chúng tôi là người ở đây… ở cả cuộc đời với bao nhiêu chuyện vui buồn, hay dở, ông không viết hết được đâu”. Đúng ra là, ông không thể biết, không thể hiểu nổi đâu…

Điều truyện ngắn đề cập không mới hơn những gì tôi nhận thức, nhưng kể từ đây, những ý nghĩ này đã trở nên day dứt hơn, tha thiết và buồn hơn. Và đó cũng là vài ba lý do khiến văn học tồn tại.

Người Sài Gòn khiến tôi ngạc nhiên mãi. Vẻ đẹp thanh thoát của truyện ngắn cho thấy những nhận thức lịch lãm trong nhận thức về con người, về cuộc đời của xứ sở, về nghề nghiệp. Với “khởi đầu” tôi đã biết thì Lê Văn Thảo này đã “xuất hiện” ở quãng thời gian nào?

Tại sao đến Người Sài Gòn, lại cũng rất ngẫu nhiên, tôi mới đọc người từng biên tập truyện tôi năm xưa và để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp? Nhớ lại vài năm trước, một nhà thơ từng đọc ông cho đến đầu thập niên tám mươi, khi nghe tôi khen truyện ngắn ông hay, đã suy nghĩ một chút rồi nói: “Ông ta chưa viết cái gì dở cả”. Biết làm sao, thưa nhà văn? Người đọc chờ đợi những tài năng văn học quá lâu, trong khi văn chương đã làm nhọc họ bởi rất nhiều mạ vàng, ồn ĩ và nhạt nhẽo.

Trở lại với cái truyện khiến tôi “nhìn ra” một Lê Văn Thảo mới và những truyện khác của ông tôi đã tìm đọc sau đó.

Nếu Người Sài Gòn đặt ra một câu hỏi, nhắc nhở một ứng xử cần thiết, thì Cô gái đi vào cửa sau phải chăng đã hé mở một cách hiểu về họ?

Ngày giáp Tết một cô gái xinh đẹp đột ngột xuất hiện trong ngôi nhà “tôi” được phân phối sau ngày giải phóng. Cô nói ngày trước đây là nhà cô, nói gần Tết nhớ nó quá nên ghé thăm. Cô hồn nhiên kể lể về những ngày sống hạnh phúc đủ đầy ở đây, có mẹ có cha, có cả một người con trai hàng xóm hay để ý mình; rồi bom dội xuống, người con trai chết ngay trước mắt cô… ít lâu sau “tôi” được biết: Câu chuyện cô gái từng nói với một người bạn của anh, rồi lại một người khác nữa… tất cả đều vào những dịp giáp Tết. Sự thật là gia đình cô gái chạy tản cư rồi trúng bom, cha mẹ chết, cô thì bị mắc chứng tâm thần, suốt năm trong bệnh viện không biết gì cả, đến ngày giáp Tết với khói nhang chim tu hú kêu tỉnh ra đôi chút, mang máng nhớ ra mình đã từng có một ngôi nhà, một gia đình cha mẹ hạnh phúc, tình yêu thấp thoáng đâu phía bên kia bờ rào… Vậy là cô ra đi tìm những ngôi nhà, thiết tha lắm nhưng chỉ ghé qua bằng lối cửa sau, hồn nhiên nhắc lại những kỷ niệm. Rồi lại đi…

Mạch viết mới khởi nguồn khi tác giả đã sang tuổi năm mươi, tuổi không thể không nghĩ đến những vấn đề thiết thân của xứ sở. Được chuẩn bị kỹ lưỡng, thâm trầm và tinh tế, mỗi truyện ngắn của ông đều trùng khít với điều nó chuyên chở. Hai ông cháu và con người chủ xưa là một ví dụ.

Một người chủ ăn chơi bán sạch đất bỏ đi khỏi xứ sở, để lại cho một người đầy tớ một rẻo đất không ai thèm mua. Cha bán đất của ông thì con làm tôi tớ cho người là dễ hiểu. Trở về trong tư thế một người làm thuê sang trọng, Phan Long sao còn quan tâm đến rẻo đất cằn cỗi rặt những mồ mả sót lại từ thuở nào? Vậy mà ông già Tư Quới, người đầy tớ xưa kia được nhà chủ cho rẻo đất, vẫn coi miếng đất là của chủ, sau năm mươi năm làm lụng giữ gìn, hay tin con người chủ xưa trở về liền bán nó đem tiền trả. Kiên nhẫn làm đầy tớ trên rẻo đất cằn cỗi ngặt nghèo đó, đinh ninh “ở lại đây cày cấy bán lúa lấy tiền cất để dành chừng ông chủ về tôi đưa trả cho ông chủ”, để rốt cục đành cay đắng thốt lên: “Nhưng tôi không làm được gì hết cậu chủ ơi, hơn năm mươi năm tôi ra sức cày cấy, rẻo đất sình lầy đầy sỏi đá, lại gặp đủ chuyện tai ương, hết giông bão đến lụt lội, rồi lại giặc giã liên miên…”.

Tự giải phóng khỏi người chủ tồi và rẻo đất trị giá cuộn bạc lẻ, tay trắng lên thành phố thì ông cháu Tư Quới trở thành vua bãi rác là dễ hiểu. Cuộc đời cha con ông Tư Quới chả thể nói là tốt đẹp, nhưng xem ra những gì chờ đợi thế hệ thứ ba của gia đình ông nơi bãi rác khổng lồ mới thực sự là khôn lường.

Sống ở thành phố nhưng lại nhiều gắn bó thiết tha với số phận người nông dân Nam Bộ, đất là niềm day dứt thường trực nơi nhà văn, bởi thế ông rất dễ bắt gặp ở đời sống, ở trí tưởng tượng các tình thế truyện ngắn phù hợp với điều muốn trình bày. Sau Hai ông cháu và con người chủ xưa Lê Văn Thảo đã quành lại đề tài này, nhấn mạnh thêm bằng Mở đất. Câu chuyện về người đi mở đất với biết bao nỗ lực, khôn ngoan và mê đắm, đẹp như một huyền thoại. Đối xử với huyền thoại này, với đất đai của ông bà tổ tiên thế nào là vấn đề đặt ra trước con cháu.

Là toàn bộ truyện ngắn (Làng lở) hay chỉ tham dự như một phần bối cảnh (Đứa con trở về) thì tiếng đất lở ầm ầm dội ra từ những trang sách của nhà văn thật sự khiến ta giật mình, kinh hãi.

“Làm gì còn làng T. nữa, nó ở dưới sông hết rồi”. “Sao?”. “Nó bị lở, đâu có chuyện gì, ở ven sông nhằm bên lở vậy thôi”… “Lở hết, không còn nhà nào - Ông già nói với giọng khoái trá - Lở ầm ầm suốt ngày đêm, chuyện trời đất mà. Tụi tôi là những nhà cuối cùng bị lở đây”.

Dấy lên thật nhiều xót xa cay đắng trong sự chấp nhận hồn nhiên bình thản của ông già nông dân làng T. Nhưng trước một hiện tượng phi phàm đến thế của tự nhiên, thử hỏi, họ, những người nông dân làm lụng đầu tắt mặt tối chỉ đủ ăn, có thể làm gì ngoài chấp nhận và cam chịu?

*

Đành rằng chuyện ngắn hay không phải là nhân vật, nhưng có người viết nào (dù cổ điển hay hiện đại) lại không ước ao có được nhân vật văn học của mình? ở lẽ này Lê Văn Thảo có quyền tự hào về Ông cá Hô, nhân vật trùng tên với truyện ngắn rất hay và độc đáo của ông.

Một gánh hát mạt hạng đến diễn ở làng “tôi”, một cù lao nhỏ giữa sông Hậu. Diễn vài đêm gánh hát rã. Tan tác hết riêng đào Hồng Điệp và kép Hoàng Dương ở lại. Hồng Điệp phụ việc cho một quán ăn, Hoàng Dương cất chòi ở đầu cồn. Thành kép hát để đi theo Hồng Điệp, cất chòi ở lại cồn Te cũng là để kề cận, thương nhớ hình bóng cô đào. Như bất cứ số phận nào trên xứ sở này, thanh bình no đói rồi giặc giã, tao loạn lần lượt can dự vào căn chòi nơi mũi cồn, Hoàng Dương thậm chí đã vào tù bị đày ra tận Côn Đảo, bị bắt lính… Song các sự biến tưởng chừng ghê gớm đó dường chỉ trôi bên cạnh, chỉ là thứ phụ hoạ cho mối bận tâm duy nhất, dài dặc: đào Hồng Điệp và những con cá hô.

“Một bữa tôi mò ra chỗ ở của kép Hoàng Dương. Đầu cồn là một khoảng đất nhỏ, nhọn như một mũi tàu, thấy rõ nước sông chảy rẽ ra hai bên, kép Hoàng Dương đang ngồi chồm hổm ngó xuống sông coi nước chảy”.

ấy là lúc ông kép hát chỉ làm mỗi việc phụ “dạ” bên ngoài tuồng tích cho xôm trò mà cũng không xong, đang tính kế đánh lưới bắt cá hô. Nói là để sống qua cơn thắt ngặt, nhưng kỳ thực đánh bắt cá hô là cả một kế hoạch to tát, tuyệt đẹp nhằm chuộc Hồng Điệp khỏi quán ăn, đưa cô trở lại với nghề ca hát; chuộc cả một giấc mơ thì hẳn phải là loài kình ngư tuyệt đẹp “lớn bằng tấm ván ngựa, vẩy ánh bạc, hai mắt bằng hai cái chén sáng rực”… Con cá hô huy hoàng ấy rồi Sáu Dương cũng bắt được nó. “Con cá được đưa lên nằm dài trên sàn quán, khách trong quán bu lại trầm trồ chỉ chỏ”, Hồng Điệp “đi ra đi vô không ngó con cá hô cũng không nhìn chú Sáu Dương”, còn bà Ba chủ quán thì sõng sượt: “Nhưng mày chuộc cái gì? Tao nuôi con Hồng Điệp chăm sóc thương yêu còn hơn con đẻ, mắc mớ gì mày phải chuộc? Mà mày nuôi nó nổi không? Thôi mày trả tiền ly cà phê rồi về đi, con cá hô tao sẽ xẻ thịt bán trả tiền mày”. Chẳng ai đem tiền bán cá trả cho Sáu Dương cả, với nó bà Ba đã chạy chọt cho Hồng Điệp vào một gánh hát bên chợ. Cuộc đời trần trụi, hơi trắng trợn và khôn ranh một chút, nhưng có sao? Miễn mộng tưởng của Hồng Điệp được thực hiện… Xong sứ mạng thiêng liêng rồi thì việc xẻ thịt những con cá hô tiếp theo đem bán dưới hình chụp đào Hồng Điệp, vừa bán vừa hát những bài hát lời lẽ có chuyện cá hô nấu canh chua và chuyện yêu đương tất là việc Sáu Dương sẽ làm, cũng như tất yếu một ngày nào đó con người hồn nhiên vô tư này sẽ cảm nhận rất sâu sắc rất đau đớn những tầm thường bẽ bàng của cuộc đời mình. Chuyến đua ghe là nỗ lực huy hoàng cuối cùng của Ông cá Hô, hơn là “một vấn đề của giới tính” (giai nhân và chiến công) dù rằng huy hoàng ấy hướng tới người ngồi trên khán đài và cũng vì “họ” mà ông thất bại.

Năm tháng trôi đi, những cái tên lần lượt thế chỗ cho nhau, có tụt dốc có bẽ bàng và gắng gỏi huy hoàng để càng bẽ bàng hơn, nhưng tâm hồn ấy vẫn dứt khoát lành lặn, thuỷ chung với những gì đã từng gắn bó. “Ông cá Hô” là một nhân cách độc đáo. Rộng hơn một chuyện tình “Ông cá Hô” là một bài ca về cuộc sống mà chúng ta đã sống và không ngừng mơ ước về nó. Bài ca ấy sẽ còn vang vọng rất lâu trong tâm hồn những ai đã đọc nó, tôi tin thế.

Điều sau cùng tôi muốn nói về truyện ngắn này là nghệ thuật đối thoại của tác giả. Gần hết một đời người với các sự biến lớn nhỏ, các mối quan hệ xung quanh nó đã được thuật lại, mô tả và phân tích chủ yếu bằng thoại. Cuốn người đọc suốt gần sáu ngàn chữ là liên miên những đoạn thoại đầy nhạc điệu, nhân vật nào lời lẽ ấy rồi lời lẽ lại tạo nên nhân vật… Thoại bình dân mà diễn tả được cả những khuất lấp tinh tế run rảy nhất trong tâm hồn con người Lê Văn Thảo, vốn rất tài hoa trong thoại, nhưng ở truyện ngắn này thì tài hoa thật đã đến mức trọn vẹn.

*

ở Truyện ngắn chọn lọc Lê Văn Thảo, Đêm Tháp Mười viết năm 1969 đứng riêng một lối, cùng mạch với truyện ngắn năm xưa tôi đã đọc; những con người bình thường thiết tha với hạnh phúc làm người, trước mất mát đau thương kẻ thù gây ra đã buộc phải cầm súng tự vệ, bi kịch cá nhân cũng là bi kịch chung; văn chương tiết chế mà lôi cuốn, rung động khiến hiện thực nó tái tạo thuyết phục người đọc, văn chương của một người thông minh nhiều xúc cảm chân thành và không phù phiếm. Lấy nó vào tập sách gần như một tuyến truyện ngắn viết từ năm 1989 trở lại đây, phải chăng Lê Văn Thảo coi nó đại diện cho văn chương chặng đầu của mình, đã hay trong giai đoạn nào đó và đã không còn thoả mãn ông lúc giai đoạn này kết thúc?

Trong 32 truyện của tập, trừ một số ít loàng xoàng, còn lại, mỗi cái mỗi vẻ đều là những truyện ngắn lý thú, những truyện ngắn hay. Việc điểm một số cái chỉ là nhằm tiếp cận với văn chương Lê Văn Thảo trong quá trình vận động rất đáng suy ngẫm của ông.

6-2004



* Nxb Hội Nhà văn, 2003
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0