Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Nhà văn Siêu Hải - Cây bút của đất trời Hà Nội

0 trả lời, 829 lượt xem — Trang 1 / 1
Nhà văn Siêu Hải - Cây bút của đất trời Hà Nội

Tô Đức Chiêu

Những ngày tham gia chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị, tôi làm đại đội phó một đơn vị pháo mang vác của trung đoàn Gio Cam, đã viết được vài ba bài ký và truyện ngắn gửi ra in trên tạp chí Văn nghệ Quân đội, nghe anh em nói ở trung đoàn pháo xe kéo nòng dài ngoài bờ bắc có ông tham mưu trưởng nhà văn. Chức tham mưu trưởng trung đoàn hồi đó đối với tôi là lớn lắm. Ông viết văn ư? Viết cái gì? Tôi quả thật bán tin bán nghi. Rồi được đọc Đại đội sơn pháo 753, Đoàn voi thép trong chiến dịch Hoà Bình viết chung với Khắc Tính, tôi cho rằng đây chỉ là thể loại ký sự truyền thống hay ký sự lịch sử rất ít chất văn học. Nhưng khi đọc ký sự Voi đi thì tôi ngẩn ngơ đến nỗi gặp gỡ và trò chuyện với ông mà cứ không hiểu sao một con người gầy gò, hai mắt trũng sâu, chẳng có gì đặc biệt, chẳng khoe chuyện văn chương lại có thể viết ra những dòng chữ sống động đến như vậy. Những ngày tháng ấy ông đang toài người viết tiểu thuyết Sông Lô. Nghe nói sửa đi sửa lại tới bao nhiêu lần mà chẳng đâu in. Lại nghe nói nhà văn quá cố Nguyễn Huy Tưởng từng đọc và đỡ đầu cuốn sách nhưng nay ông Tưởng không còn nữa nên số phận nó gieo neo. Một lần tôi cợt kễu nói với ông:

- Thế bác viết mãi mà vẫn không in thì viết làm gì?

Ông trả lời rất bình thản:

- Thì tớ cứ viết. Thậm chí nếu mình có sao mà vẫn chưa in thì con cái mình sẽ viết tiếp!

Ôi chao! Ông “khốt” hâm mất rồi! - ấy là tôi nghĩ vậy. Thế rồi năm 1981 tiểu thuyết Sông Lô ra đời. Tôi không dám xin ông sách tặng mà lặng lẽ kiếm một quyển từ Nhà xuất bản Thanh Niên về đọc xem sao. Lạ thay càng đọc càng cuốn hút. Càng đọc càng đắm say với hình ảnh anh bộ đội áo trấn thủ, mũ ca lô trên chiến trường Việt Bắc những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Đó là cả một lớp thanh niên phần đông là học sinh Hà Nội đã theo tiếng gọi của Cụ Hồ mà rèn luyện và trưởng thành trong khói lửa. Sau này tôi được biết ông có ý định viết tiểu thuyết Sông Lô từ những ngày tham gia bẻ gãy gọng kìm Commuynan mùa thu năm 1947. Khi ấy một đoàn văn hoá cứu quốc gồm các tên tuổi: Nguyễn Huy Tưởng, Văn Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Tư Nghiêm… đi với bộ đội pháo binh và đỡ đầu bộ đội pháo binh. Các ông khuyến khích và sau khi ký sự Voi đi ra đời thì tiểu thuyết Sông Lô hình thành trong trí tưởng tượng của ông. Hoà bình về Hà Nội ông viết lấy viết để và nhà văn Nguyễn Huy Tưởng ra đi tác động không nhỏ vào sự ngắt quãng trong quá trình sáng tác của nhà văn chiến sĩ.

Ông tên thật là Nguyễn Siêu Hải sinh ngày 2 tháng 7 năm 1924 tại Hà Nội trong một gia đình có truyền thống học hành. Cụ thân sinh ra ông là Nguyễn Khắc Hanh từng làm chủ bút báo Thực nghiệm của Bạch Thái Bưởi và báo Nông Công Thương của Phạm Chân Hưng. Cụ cũng là đồng sáng lập báo Đông Tây với Hoàng Tích Chu và Hà Thành Ngọ báo với Bùi Xuân Học. Cụ còn dịch gần ba mươi tiểu thuyết qua tiếng Hán và tiếng Pháp và làm giám đốc nhà in Chân Phương. Nhà văn Siêu Hải tốt nghiệp tú tài và nhập ngũ ngay ngày Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945. Ông cùng đơn vị lên Sơn La đánh phỉ và tháng 5 năm 1946 trên cử về trường võ bị Trần Quốc Tuấn. Cuối năm đó ông được bổ sung về đơn vị pháo quân khu Mười và ngày 25 tháng 1 năm 1947 tham gia sử dụng sơn pháo bẩy nhăm li bắn trực tiếp vào sân bay Gia Lâm phá hỏng hai máy bay Pháp. Rồi khi phải rút khỏi Gia Lâm ông cùng đơn vị lên Việt Bắc tham gia chiến dịch Sông Lô. Tới Điện Biên ông là tiểu đoàn trưởng và giữ chức vụ ấy cho tới ngày vào tiếp quản thủ đô Hà Nội.

Một chi tiết vui vui là nhà văn đã đi dự Đại hội lần thứ nhất các nhà văn Việt Nam năm 1957, nghĩa là hội viên sáng lập của tổ chức này. Nhưng dường như ông không coi cái sự ấy là quan trọng. Ông càng không quan tâm tới sự ấy để có thể làm dáng cho mình. Ông không hề chú ý tới danh vị mà chỉ đắm say nghề nghiệp. Và các cụ tiền bối lãnh đạo Hội khi ấy cũng ngật ngưỡng thế nào quên béng ông. Ông cũng chẳng mảy may ý thức về hội viên của mình. Không đòi hỏi. Không thắc mắc. Chỉ cặm cụi với công việc đơn vị và công việc sáng tác. Sau khi tiểu thuyết Sông Lô ra đời bạn bè khuyên ông viết đơn xin vào Hội. ấy thế là ông viết đơn. Và được kết nạp là Hội viên dự bị. Tận Đại hội lần thứ tư các nhà văn Việt Nam họp ở Ba Đình tháng 10 năm 1989, mấy cán bộ mới được điều về cơ quan Hội là Phùng Khắc Bắc và Nguyễn Hoa, lục lại giấy tờ sổ sách mới phát hiện ra ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam thì ông đã là Hội viên dự bị bao năm rồi. Hôm nay, ngồi vui nhắc lại chuyện đó ông chỉ cười cũng chẳng coi cái sự ấy có gì là quan trọng.

Nhưng nói tới sáng tác thì ông rất hăng hái. Những năm đầu thập kỷ chín mươi thế kỷ trước ông gầy yếu lắm. Tôi tới thăm ở phố Hàng Chiếu nghe ông say sưa mà lòng ái ngại:

- Mình sẽ viết bộ ba tiểu thuyết về đề tài Hà Nội. Mình có đủ tư liệu và tin sẽ làm được. Tập một sẽ là Mảnh trăng Tô Lịch. Tập hai là Bóng chiều Thăng Long. Tập ba là Nắng kinh thành. Thực ra thì ngay tiểu thuyết Sông Lô cũng là viết về đề tài Hà Nội, thế hệ trẻ Hà Nội tham gia kháng chiến và trưởng thành trong khói lửa.

Rồi ông cười rất khiêm nhường:

- Gia đình mình gốc rễ ở Hà Nội mà!

Thú thực lòng tôi thắc thỏm không yên. Tôi chưa hoàn toàn tin ở sức sáng tạo nghệ thuật của ông đã đành và lại càng không tin sức khoẻ sẽ tạo cho ông đi tới cùng bộ ba tiểu thuyết đồ sộ ấy. Ông nói mỗi quyển chừng dăm trăm trang in. Tôi nghe mà phát khiếp! Rồi thời gian trôi đi. Một ngày năm 1991 hay 1992 gì đó ông dắt cái xe đạp còng cọc dừng trước cửa nhà tôi, gọi lớn:

- Chiêu, có nhà không nhỉ?

Tôi chạy ra. Kéo cái xe cà khổ của ông vào trong hè. Ông hoan hỉ: “Mình mang sách tặng cậu. Mới có tập một thôi. Tập hai vừa viết xong chưa kịp tới nhà xuất bản. Họ đang giục. Nhưng vội sao được. Còn tập ba chuẩn bị khởi sự”. Tôi đón nhận tiểu thuyết và nghe choáng váng đến ngẩn người. Vui cho ông và buồn cho mình. Một ông già hom hem đã bẩy mươi tuổi đầu mà còn đắm say, còn tin tưởng mãnh liệt, còn sức sáng tạo khá dồi dào trong khi tôi ít tuổi hơn ông nhiều đã chỉ chực bơ phờ nản chí. Đành rằng sáng tác văn học đầu tiên phải có tài năng. Nhưng nếu lười nhác thì làm sao tài năng ấy phát triển ra được. Ba năm sau ông tặng tôi quyển thứ hai. Hai năm sau nữa ông tặng tôi quyển thứ ba. Dường như ông càng hăng hái thêm, càng khoẻ ra. Tôi xuống thăm ông lúc này đã chuyển nhà về ở khu Nghĩa Tân. Thấy có những bức tranh rất lạ treo trên tường. Tất cả đều ký hoạ bằng bút chì hoặc bút sắt. Nét vẽ sắc và rõ ràng. Hết các chiến sĩ đang đẩy pháo đến động tác nạp đạn…

Tôi hỏi:

- Bác vẽ đây à?

Ông bình thản:

- Thì mình vẽ mà lại.

- Như đang diễn lại những trận đánh trên sông Lô?

- Thì đúng là những trận đánh trên sông Lô. Mình nghĩ tới đâu thì miêu tả trước bằng hội hoạ rồi mới tới miêu tả bằng ngôn ngữ. Thứ này bổ sung cho thứ kia, nhưng mục đích chính vẫn là để có những trang viết tốt. Bản thảo tiểu thuyết Sông Lô hoàn thành mình đã có tới ba trăm tranh ký hoạ hay cứ gọi là minh hoạ cho tác phẩm văn học cũng được. Nhìn tranh cũng có thể đoán được tiểu thuyết mình viết tiểu thuyết như thế nào.

Tôi thấy việc làm này cũng khá độc đáo và ngộ nghĩnh. Thật ra thì nhiều tranh ký hoạ của ông đã mờ do thời gian và do giấy má lúc đó. Cũng không phải bức nào cũng đẹp. Nhưng mà vui! Nhưng mà hay! Lối giữ gìn bản thảo của ông cũng đặc biệt. Từng bó một, trong túi ni lông và chằng buộc rất kỹ, bó nào ra bó ấy, xếp chồng lên nhau trong ngăn tủ như người ta xếp gạch hay xếp thuốc lào bánh, có bó còn đề: Bản thảo đã thắp hương. Ông giơ cho tôi xem một bó, đó là các bút tích kỷ niệm của Tố Hữu, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tư Nghiêm, Văn Cao… từ những năm kháng chiến chống Pháp và hoà bình mới lập lại sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương. Tôi xem xong ông buộc lại cẩn thận rồi cất đi mới lấy ra gói bọc thứ hai, đó là bản thảo đầu tiên tiểu thuyết Sông Lô. Cứ như thế tới bó thứ ba, bó thứ tư, có cả thẩy tới mấy chục bó chằng buộc và chồng xếp.

Tôi đùa:

- Thế này thì có khi mối mọt đến khóc trước các chồng bản thảo của bác.

- ấy thế mà khốn khổ, cả một bộ bản thảo tiểu thuyết viết về Điện Biên Phủ hồi ở Hàng Chiếu, phòng sáng tác là cái đầu hồi vẩy thêm ra phải nhường cho con gái lấy chồng. Mình xếp bản thảo lên giá lửng. Vì là vợ chồng trẻ chúng nó ở đó nên mình ít vào tới khi kiểm tra lại thì ôi thôi nước mưa giột làm mực nhoè và giấy nát hết. Cái thứ mực Cửu Long rởm hồi đó, cái thứ giấy rơm nhẵn một mặt hồi đó, làm sao chịu được sự xâm thực của môi trường nước!

Tôi hoảng hốt kêu lên:

- Chịu mất à?

Ông vẫn cứ điềm tĩnh:

- Đành chịu chứ sao? Có kêu lên tận trời thì trời nào thương cho đặng.

- Thế bác phải lục soát trí nhớ để viết lại chứ?

- Tất nhiên rồi. Nhưng chưa phải bây giờ.

- Bây giờ bác viết gì?

- Tớ vừa phác thảo xong bản thảo tiểu thuyết Ngọn bút trong sương mù cũng về những con người trí thức Hà Nội những năm tháng đầu thế kỷ trước. Thuở thiếu thời nhà mình ở phố Tiên Sinh nằm ở một góc đoạn cuối Hàng Gà bây giờ. Các cụ Bùi Xuân Học, Phạm Chân Hưng, Nguyễn Đỗ Mục, Đào Trinh Nhất, á Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Công Tiễu… thường tới chơi nhà mình và mình chuyên làm chân điếu đóm hầu các cụ. Những câu chuyện của các cụ, hình ảnh của các cụ ngày càng hiện ra đậm đà trong ký ức của mình. Đó là suy nghĩ của tầng lớp trí thức tiêu biểu muốn giữ gìn cốt cách dân tộc trước sự xâm lược của nền văn minh và văn hoá ngoại bang. Mình muốn bạn đọc hôm nay hiểu được phần nào phong thái độc đáo của người Hà Nội trong giai đoạn lịch sử nhất định.

Nhân vui tôi đề cập tới một loạt cây bút tiêu biểu viết về Hà Nội như Chu Thiên với Bóng nước Hồ Gươm, Hà Minh Tuân với Trong lòng Hà Nội, Nguyễn Huy Tưởng với Luỹ Hoa và Những người ở lại, gần đây nữa là Băng Sơn với các tập tuỳ bút và Nguyễn Khắc Phục với Thăng Long ký… Ông vẫn đầy tự tin và điềm tĩnh đánh giá về mình:

- Họ có cái hay và cái mạnh của họ. Mình có cái riêng của mình. Nhờ trời, mình thấy rõ ràng mình chẳng giống ai nên cũng không sợ ai đó lấn át. Trước sau mình vẫn là mình.

Chúng tôi chia tay nhau. Ông nhanh nhanh bước xuống bậc cầu thang tiễn khách. Nắm tay ông thật chặt, nhìn ông khoẻ mạnh, cách nay hơn chục năm tôi cũng nhìn ông như thế này ở phố Hàng Chiếu nhưng lòng đầy nghi ngờ, vì khi ấy bộ ba tiểu thuyết tiêu biểu về Hà Nội chưa ra đời. Hôm nay ông tròn tám mươi tuổi và tôi tin ở con người đầy nghị lực nhưng lúc nào cũng hết sức khiêm nhường.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0