Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Văn Tâm và cuộc đời cầm bút

1 trả lời, 539 lượt xem — Trang 1 / 1
Văn Tâm và cuộc đời cầm bút

Vũ Thanh

Nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình văn học, nhà giáo ưu tú Văn Tâm (Tên khai sinh là Nguyễn Văn Tâm) sinh ngày 05-9-1933 - vừa qua đời ngày 24-6-2004. Cuộc đời ông, đặc biệt là từ khi ông mắc căn bệnh hiểm nghèo - tai biến mạch máu não, bị liệt nửa người, không tự đi lại được - thực sự là một cuộc chiến đấu. Chiến đấu để bảo vệ sự trung thực trong khoa học và trong cuộc đời, để giành giật sự sống, vượt lên hoàn cảnh, để có thể có được những giây phút được cầm bút làm việc trở lại và để chứng tỏ mình vẫn đang tồn tại.
Vào tuổi 24, Văn Tâm cho xuất bản công trình nghiên cứu, phê bình văn học đầu tay xuất sắc Vũ Trọng Phụng, nhà văn hiện thực (NXB Kim Đức, 1957). Đối với một người mới tốt nghiệp đại học mà đã có ngay một chuyên khảo riêng bề thế như vậy cũng là điều hiếm thấy. Chàng trai say mê đọc sách và yêu thích văn học đó ngay từ những ngày còn là học sinh trung học tỉnh Thanh đi sơ tán đã hăng hái sáng tác kịch và say sưa tổ chức biểu diễn hết vở ánh sáng và bóng tối (NXB Kim Đức, 1952), lại đến Giải tán (NXB Thời đại mới, 1953). Nhưng từ khi tốt nghiệp đại học loại Ưu và được giữ lại giảng dạy ở Đại học Sư phạm thì nhà viết kịch trẻ tuổi lại chuyển hướng sang nghiên cứu phê bình và nhanh chóng bị cuốn hút vào không khí đấu tranh tư tưởng và học thuật đang diễn ra sôi nổi lúc bấy giờ trên các giảng đường đại học. Với sự chân thành và hăng hái của tuổi trẻ, ông đứng ra phê phán những tư tưởng không trung thực trong học thuật và dám bênh vực những tư tưởng mới mẻ, động chạm đến ngay cả những người thày của mình. Và sự chân thành đã phải trả giá. Ông buộc phải rời vị trí giảng viên đại học - một vị trí lý tưởng đối với những người làm khoa học lúc bấy giờ để chuyển sang công việc khác. Cuốn sách mà ông công phu sưu tầm tư liệu, ấp ủ bao năm trời với những phát hiện mới mẻ Vũ Trọng Phụng, nhà văn hiện thực đã bị phê phán. Nhà phê bình có cá tính mạnh mẽ, cương trực, một tài năng đã được thể hiện ngay từ tác phẩm đầu tay, tiếc thay, từ đó cũng bắt đầu một số phận long đong, chìm nổi như văn nghiệp nhà văn họ Vũ mà ông yêu quý. Phải hơn 30 năm sau, những ý tưởng khoa học của ông trong cuốn sách này một lẫn nữa lại được thực tế chứng minh là đúng đắn cùng với việc văn nghiệp của nhà văn họ Vũ được phục hồi trở lại.

Năm 1964, Văn Tâm cho ra đời công trình dày dặn thứ hai của mình Tản Đà - khối mâu thuẫn lớn (NXB Khoa học, 1964) dưới một bút danh khác: Tầm Dương, nhưng tiếc thay cuốn sách này cũng trở nên lạc điệu khi con người và văn chương Tản Đà không phải là tâm điểm chú ý của dư luận đương thời. Văn Tâm chính là người đầu tiên nghiên cứu Vũ Trọng Phụng và Tản Đà một cách toàn diện và công phu nhất. Điều đó đã thể hiện rõ bản lĩnh khoa học của nhà nghiên cứu khi dám lao mình vào những vấn đề khoa học gai góc đang có những đánh giá một cách cực đoan, sai lệch đối với hai nhà văn lớn của dân tộc. Với hai tập chuyên khảo đầu tiên trong lịch sử nghiên cứu Tản Đà và Vũ Trọng Phụng, Văn Tâm đã có công đối với nền nghiên cứu phê bình văn học non trẻ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày nay, nhiều trang viết của ông, nhiều vấn đề đặt ra từ hai tập sách này vẫn còn nguyên giá trị, mặc dù ở nhiều phần của cả hai tập sách này cũng không tránh khỏi những hạn chế tất yếu của một thời.

Sau những “tai nạn nghề nghiệp” đó, Văn Tâm dường như “ở ẩn”. Ông chuyển sang dạy văn ở trường phổ thông trung học. Nhà nghiên cứu trẻ tài hoa đó tìm thấy trong công việc mới của mình những ích lợi thiết thực hơn cho cuộc đời. Ông cống hiến cả tuổi trẻ của mình cho công việc “trồng người”: đã có rất nhiều thế hệ học trò, trong đó có nhiều học sinh giỏi văn Hà Nội, miền Bắc và toàn quốc đã bước vào đời và trở thành những người tài giỏi có ích cho xã hội từ sự dìu dắt tận tình và từ những bài giảng sâu sắc của ông. Văn Tâm trở thành người bạn để họ tìm đến tâm tình, kho sách của gia đình ông trở thành thư viện lớn đối với họ, ở đó có rất nhiều cuốn sách mà họ không thể tìm thấy ngoài đời. Ông vinh dự được Nhà nước trao tặng danh hiệu: Nhà giáo ưu tú.

Bẵng đi vài chục năm, cây viết sung sức ấy im hơi, lặng tiếng. Tưởng rằng thời gian và sự nặng nề của cuộc đời đã bào mòn sức lực của ông. Bởi có nhiều người rơi vào hoàn cảnh tương tự ông đã trở nên mòn cũ, mất thói quen viết, chào thua cuộc đời. Nhưng thật mừng là Văn Tâm đã “tái xuất” văn đàn với một bút lực còn sung mãn, mới mẻ, táo bạo và một vốn tri thức được nhân lên gấp nhiều lần.

Chính công cuộc đổi mới của toàn xã hội đã “cởi trói”, đem lại cho những người trí thức tâm huyết với công việc như ông một vận hội mới. Ông như được hồi sinh bởi khát vọng đổi mới nền văn học dân tộc, đổi mới cách nhìn nhận và đánh giá các giá trị văn hóa dân tộc, cũng như mong muốn phục hồi và khám phá trở lại những giá trị văn học bị dập vùi hoặc quên lãng một thời đã trở thành máu thịt, cũng là điều tâm huyết mà ông đã phải chờ đợi bức xúc bao năm trời. Niềm say mê sáng tạo trở lại với Văn Tâm. Ông tự tìm lại mình và giúp bạn đọc tìm lại Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Đoàn Phú Tứ, Phùng Quán, Thơ mới và Xuân thu nhã tập..., tìm lại và khám phá nhiều nhà văn, nhà thơ khác nữa. Có lẽ, do có sự đồng cảm sâu sắc, nên Văn Tâm thích tìm đến những tài năng mà số phận cuộc đời hoặc số phận tác phẩm của họ phải chịu sự long đong, vất vả, tìm đến những trào lưu văn học chịu thiệt thòi do những quan điểm còn cực đoan, phiến diện một thời. Qua những hiện tượng văn chương đó, ông đã phát hiện ra những vấn đề lớn lao của văn học và xã hội Việt Nam, khám phá ra vẻ đẹp của văn chương và tình người. Ông bênh vực Vũ Trọng Phụng khi nỗi oan ức của nhà văn lên đến đỉnh điểm, khẳng định tài năng và nhân cách của nhà văn, ông đánh giá cao giá trị văn chương và tinh thần yêu nước đặc thù của Tản Đà giữa lúc mà người ta có những quan điểm không công bằng về nhà thơ, ông “làm sống dậy” “từ trong bóng tối” ([1]) - một Đoàn Phú Tứ tài hoa tuyệt vời, ông có một thái độ trân trọng trước sau như một đối với bộ phận văn học lãng mạn, đặc biệt là Thơ mới, bị coi là tiêu cực, ông chỉ ra cho mọi người thấy công lao và giá trị đối với sự phát triển văn hóa dân tộc của nhóm Xuân thu nhã tập xưa nay bị coi là tiêu biểu cho chủ nghĩa hình thức bí hiểm, ông chứng minh tính cao cả trong hồn thơ Phùng Quán - một nhà thơ còn chưa được đánh giá đúng mức v.v... Ông xứng đáng với danh hiệu mà nhà văn Xuân Cang dành riêng gọi ông là “Người rũ bụi đường trường văn học” ([1]).

Văn Tâm là một trong những người đi tiên phong góp phần tích cực đổi mới nghiên cứu và phê bình văn học, đổi mới cách tiếp nhận, cách tân các tiêu chí thẩm mỹ, bổ sung công cụ cho việc nhìn nhận và đánh giá văn học, cũng như đổi mới cách giảng dạy văn học trong nhà trường. Những bài viết của ông vừa mang tính phương pháp luận, vừa có tính thuyết phục cao bởi những lập luận sắc bén và những tư liệu đáng tin cậy mà ông chỉ ra cho bạn đọc. Ông là một trong những khuôn mặt không thể thiếu của văn học thời kỳ đổi mới. Chỉ trong vài năm quay lại văn đàn, ông đã cho ra đời vài cuốn sách gây ấn tượng trong bạn đọc như Giảng văn văn học lãng mạn (NXB Giáo dục, 1991), Góp lời “thiên cổ sự” (NXB Văn học, 1992. Tặng thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, 1993), Đoàn Phú Tứ - con người và tác phẩm (NXB Văn học, 1995)... Giữa lúc ông đang hăng hái với những kết quả học thuật đã đạt được, lúc mà tư duy, trí tuệ của ông dường như đã được giải phóng thì bệnh tật lại cướp đi của ông sức khỏe cần thiết.

Đọc Văn Tâm từ lâu, nhưng gần đây do công việc tôi mới có dịp được tiếp xúc nhiều với ông và may mắn được chứng kiến những năm tháng cuối cùng của một cuộc đời lao động không ngưng nghỉ. Mặc dù bị bạo bệnh, thời kỳ đầu tưởng như không qua nổi, luôn phải nhờ người chăm sóc, nhưng Văn Tâm không ngừng làm việc bằng cánh tay yếu ớt còn chưa bị liệt của mình. Một ngày bình thường của ông cũng hết sức bận rộn. Ông dành nhiều thời gian để đọc sách, nhất là sách Phật học, đặc biệt là Thiền, một lĩnh vực mà nhà nghiên cứu say mê tìm hiểu từ lâu, nhưng như ông tâm sự, ông chỉ thực sự thấu hiểu những triết lý cao siêu đó từ khi phải đối diện trực tiếp với cái chết. Và cũng nhờ có tri thức sâu rộng về mặt này mà Văn Tâm đã viết được một loạt bài về ảnh hưởng của Phật giáo trong văn hóa, văn học Việt Nam, trong đó nổi bật là việc khám phá ra chiều sâu độc đáo trong hai vở kịch của Đoàn Phú Tứ: Thiền học trong hai vở kịch nổi tiếng Ngã ba và Thằng cuội ngồi gốc cây đa của nhà viết kịch trứ danh này. Sắc thái Thiền học ấy, theo Văn Tâm, độc đáo thay, là “đợt sóng tràn bờ” sau bao năm thu hẹp dòng của dòng chảy văn chương Thiền học Việt Nam khởi nguồn mênh mang từ thời Lý - Trần. Có được phát hiện này một mặt là do Văn Tâm đã tìm về bối cảnh ra đời của tác phẩm, xem xét tâm trạng người viết lúc đó, nhưng điều cơ bản hơn, là ở đây có sự đồng cảm giữa nhà phê bình và nhà viết kịch. ở Văn Tâm, có lẽ một phần do những “tai nạn” mà số phận bắt ông phải gánh chịu, ông trở nên chuyên tâm tìm hiểu Thiền học và Phật học nói chung, và trên con đường đi tìm niềm an ủi cho thân phận mình, ông đã tìm thấy sự gần gũi với những niềm sâu kín của nhà văn họ Đoàn. Mỗi phát hiện của Văn Tâm đều gắn với những trải nghiệm của cuộc đời ông và nhiều khi đó là những trải nghiệm cay đắng phải đổi bằng một giá rất đắt... Hàng ngày ông dành thời gian ngồi Thiền, nhờ vợ dìu đi dạo và lúc nào thấy làm việc được là cầm bút ngay. Mỗi khi có việc đến gặp ông, tôi đều phải sắp xếp thời gian thật sát sao để khỏi phạm vào những giây phút hiếm hoi đó. Ông nói với tôi: “Đối với mình lúc này, mỗi giây phút đều hết sức quý giá”. Văn Tâm viết khá vất vả, như vật lộn với trang giấy. Ông ngồi gò bó trên ghế, dùng chiếc ba-toong nối dài thêm cánh tay mình để khều những dụng cụ cần thiết cho việc viết như chiếc bút xóa, thước kẻ, cái kính..., bàn tay phải run run cầm bút, mỗi khi viết xong một bài, thường là mất một thời gian khá dài, mái tóc bạc của ông càng trở nên bơ phờ hơn, sự mệt mỏi hiện rõ trên khuôn mặt. Chữ ông run và khó đọc, vợ ông, bà Cao Thị Xuân Cam, ái nữ của Nhà nghiên cứu văn học, Hán học, Nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng nổi tiếng GS Cao Xuân Huy, thường phải tô lại từng chữ, đọc lại cho ông nghe và giúp ông chữa từng câu trước khi cho đi đánh vi tính. Với ông, bà vừa là thư ký, vừa là hộ lý, bác sĩ, đạo hữu... và trên hết là một người vợ rất mực thủy chung, hiền dịu, đảm đang, người bạn đời nâng đỡ cho ông từng giấc ngủ, bước đi. Chính bà là người đã làm dịu bớt đi trong ông những bi kịch mà cuộc đời và số phận đã liên tiếp giáng xuống người trí thức tài hoa - người mà dường như triết lý “chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau” vẫn luôn theo đuổi trên mỗi bước đường đời. Tôi chợt nhận thấy ở trong con người đang phải gồng mình để chiến thắng bệnh tật ấy tiềm tàng một nghị lực phi thường, một sự đam mê cháy bỏng đối với công việc, một năng lực không chịu đầu hàng hoàn cảnh. Một lần nữa Văn Tâm lại chiến thắng số mệnh, nhưng lần này rõ ràng là trong một hoàn cảnh khắc nghiệt hơn rất nhiều. Ông thuộc vào số những người cầm bút hy hữu trên đất nước ta đã viết văn trong một hoàn cảnh thật đặc biệt.

Mỗi khi trao đổi công việc với ông, nghe ông kể lại những lần ông phải bỏ ra rất nhiều công sức, tiền bạc để tìm kiếm tư liệu liên quan đến một tác giả nào đó, đôi mắt ông lại sáng bừng lên niềm vui của sự sáng tạo. Trên khuôn mặt bị căn bệnh hiểm nghèo làm cho mất cân đối của Văn Tâm lại nở nụ cười hóm hỉnh. Niềm vui ấy như được nhân lên gấp bội mỗi khi bài viết của ông được in ra. Ông thường sử dụng hết tiền nhuận bút (nếu nhuận bút quá thấp thì ông bỏ thêm tiền túi) để mua sách báo gửi biếu bạn bè khắp các miền của đất nước. Tôi chợt hiểu ra rằng, bên cạnh sự phóng khoáng, hào hoa, Văn Tâm còn muốn chứng tỏ cho bạn bè chiến hữu gần xa - những người đã nghĩ rằng trong hoàn cảnh của ông, có lẽ chỉ tồn tại được đã là khó lắm rồi, còn nói gì đến viết lách - biết rằng, Văn Tâm vẫn đang tồn tại đây và không chỉ tồn tại mà còn viết một cách “ngon lành” nữa, vẫn có bài in báo và có sách xuất bản đều đặn. Ông thường ký bên cạnh lời đề tặng chữ Tâm theo mẫu tự Hán đã được cách điệu: gồm một vầng trăng khuyết và ba ngôi sao. Trên bầu trời Văn chương chữ Tâm là đích đến: “chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”. Đối với Văn Tâm lúc này, viết chính là cách “nối mạng” với thế giới bạn bè, người thân, học trò, bạn đọc..., là cách hữu hiệu nhất để ông nối dài cuộc đời trong hoàn cảnh không thể khác được của mình.

Văn Tâm viết thành công ở rất nhiều lĩnh vực như: thơ, văn xuôi cả cổ lẫn kim, sân khấu (kịch, chèo), hát nói, hội họa, điện ảnh… Ông luôn đặt đối tượng nghiên cứu vào bề rộng và chiều sâu văn hóa dân tộc và nhân loại để làm bật ra những chiều kích mới, mà những bài viết như Vũ Trọng Phụng trong “Rừng cười nhiệt đới” và Cảm thức nhân loại trong “Nhật ký trong tù” là những ví dụ điển hình. ở bài viết nào sự hiểu biết của ông cũng đến mức thấu đáo, cặn kẽ và mới mẻ. Đó là những bài viết cô đọng, tài hoa, giàu thông tin và hết sức công phu. Đó cũng là những bài viết ngồn ngộn tư liệu nhưng lại mang đậm phong thái lịch lãm, đầy chất nghệ sĩ của người viết, là sự dồn nén tri thức để bật ra thành câu chữ, làm thay đổi nhận thức và cách cảm của bạn đọc ngay cả ở những vấn đề tưởng như đã không còn gì để bàn cãi. Với những cuốn sách và cả những bài viết của mình, Văn Tâm đã xác định tư cách chuyên gia về Tản Đà, Vũ Trọng Phụng và Đoàn Phú Tứ, chuyên gia về văn học lãng mạn Việt Nam, đặc biệt là Thơ mới. ở ông đã hình thành một dạng văn hóa đọc, một cách cảm văn học kiểu Văn Tâm, chỉ nói những điều mình biết trên nền một vốn tri thức sâu sắc, vừa thấm đượm tình người trong từng trang viết, đọc và viết trên nền của một thứ văn hóa hướng tới và tôn trọng người viết, người đọc, bảo vệ đến cùng cái đẹp và chân lý. Điều đó thật có ý nghĩa trong thời buổi văn hóa tranh luận trên sách báo của chúng ta gần đây có những lúc, những người đã đi quá đà, biến các diễn đàn văn học thành nơi để mạt sát và hạ nhục nhau. Trong nhiều bài viết của mình, Văn Tâm đả phá kịch liệt lối nghiên cứu văn học theo kiểu xã hội học dung tục, minh họa, “gác cổng”, hiếu hỉ, mà ông là một trong những nạn nhân trong nhiều năm. Từ lâu ông đã chính thức tuyên chiến với loại văn chương phê bình, nghiên cứu kiểu này. Trong nhiều bài viết của ông có thể thấy rõ tính chiến đấu trong từng lập luận. Người bị phê phán khó có thể bắt bẻ lại được bởi ông có đầy đủ chứng cứ trong tay. Có thể thấy rõ ở Văn Tâm sự hòa quyện giữa những phẩm chất của nhà khoa học và nhà phê bình.

Nhiều bài trong Vườn khuya một mình (NXB Văn hóa Thông tin, 2001), cuốn sách được ông cho ra đời trong những ngày đau yếu, là những bài viết sâu sắc như: Thiền học trong hai vở kịch của Đoàn Phú Tứ (1999), Thể phách và tinh anh hát nói - ca trù, Thể phách thơ Việt Nam - khát vọng tự do (2000), Hồ Dzếnh - từ trái tim ân hận (2001)... Ông Kawaguchi Kenechi, giảng viên trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo, khi giới thiệu bài Thể phách thơ Việt Nam - khát vọng tự do trên Tạp chí Tổng hợp văn hóa nghiên cứu, số 3/1999 xuất bản tại Tokyo, Nhật Bản, đã gọi đó là “một văn phẩm tuyệt tác”. Những năm tháng cuối cùng của cuộc đời mình, Văn Tâm còn căng sức ra để hoàn thiện một loạt bài viết dài hơi, công phu như “Ông vua phóng sự đất Bắc” với thể ký viết về những đóng góp của Vũ Trọng Phụng cho sự phát triển của thể ký trong văn học Việt Nam hiện đại, bài Thơ trong gió của Bằng Việt, trong đó nhà phê bình đề cập đến sự trở lại thành công của Bằng Việt và dự báo một cuộc cách mạng mới trong thơ ca đang tới gần, bài Khuynh hướng cao cả của hồn thơ Phùng Quán ca ngợi vẻ đẹp cao cả đầy nhân cách của con người và thơ ca Phùng Quán...

Tôi bỗng hiểu ra rằng, mọi nỗ lực của ông từ luyện tập, chạy chữa để thoát khỏi sự tàn phế, ngồi Thiền hàng ngày để phục hồi sức khỏe, đến việc đọc rất nhiều sách Phật cuối cùng không phải để tồn tại một cách bình thường mà chính là để giành giật lấy từng phút quý báu cho khát vọng được viết, được làm việc. Tiếc thay những giây phút ấy trong hoàn cảnh sức khỏe của ông thật hiếm hoi. Đó là một cuộc chiến đấu không cân sức nhưng vô cùng oanh liệt, mà đôi khi Văn Tâm còn phải dùng đến cả “mưu mẹo” để làm an lòng chính những người thân của mình, để họ tin rằng việc viết lách không hề ảnh hưởng gì đến sức khỏe của ông.

Ngay sau khi cuốn Vườn khuya một mình ra đời, tôi đã đề nghị Văn Tâm làm một cuốn Tuyển tập những tác phẩm và bài viết của ông nhưng ông chưa đồng ý, có lẽ nhà phê bình nghĩ rằng mình vẫn còn sức viết tiếp, nhất định danh mục các bài viết của ông còn phải dài hơn nữa. Và Văn Tâm lại miệt mài đọc, viết, viết, đọc... Chỉ đến những ngày cuối cùng ốm triền miên, nghĩ mình không qua nổi, ông mới đồng ý làm Tuyển tập, nhưng tiếc thay cuốn sách không kịp ra mắt trước khi ông từ giã cõi đời.

Ngày cuối cùng trước khi ông mất, tôi tới thăm ông, Văn Tâm nắm chặt bàn tay tôi xúc động ứa nước mắt khi tôi báo cho biết đã có nơi nhận in sách của ông, ông phải gắng vượt qua đợt này để nhìn thấy sách của mình. Văn Tâm khẽ gật đầu, trong đôi mắt không còn linh hoạt của ông, tôi bỗng đọc thấy niềm tha thiết được trở dậy tiếp tục làm việc, được tiếp tục viết và hưởng niềm vui từ những trang sách của mình. Ông giơ bàn tay yếu ớt trên cơ thể đã trở nên bất động vẫy vẫy như khích lệ, động viên và vĩnh biệt tôi. Đêm ấy Hà Nội nóng kinh khủng, căn hộ nhỏ bé của tôi lại mất điện không thể ngủ nổi, người ta thông báo có vài trạm điện trong thành phố bị nổ do quá tải và con người chiến đấu để giành giật từng phút sự sống ấy đã ra đi.

Mỗi lần được chứng kiến sự gắng sức của Văn Tâm để được sống, được viết, nước mắt tôi lại trào dâng, thương, phục và tự hào về ông hơn. Sau lúc ông mất, tôi luôn nghĩ đến một viễn cảnh để tự an ủi mình: ở phía sau bầu trời có vầng trăng khuyết và những ngôi sao lấp lánh kia, giờ này chắc Văn Tâm đang trò chuyện tâm tình với những nhà văn thân yêu của ông. Họ: Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Đoàn Phú Tứ, Hồ Dzếnh, Phùng Quán... mỗi người một kiểu, đang hồ hởi chào đón nhà phê bình dũng cảm và nhân ái của mình, người “giũ bụi đường trường” cho họ, người đã dành những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình để bảo vệ họ, để chứng minh cho mọi người thấy được sự cao cả, đẹp đẽ và chân thành trong nhân cách, cũng như trong những áng văn chương bất hủ của họ. ở nơi đó, chắc rằng nụ cười hóm hỉnh của ông sẽ bừng sáng trên khuôn mặt không còn dấu vết của bệnh tật, của những ưu phiền trắc trở mà cuộc đời đã bắt ông phải gánh chịu./.



(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Văn Tâm như tôi nghĩ

Nguyễn Huệ Chi

Tôi thật sự quen thân với Văn Tâm chỉ mới 20 năm nay nhưng tên anh thì tôi đã biết từ những ngày còn rất trẻ. Thuở ấy, mới chân ướt chân ráo từ vùng tự do Khu V bước vào Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội khóa đầu tiên năm 1956 ở số 19 phố Lê Thánh Tông, tôi thật sự ngỡ ngàng trước nhiều cái mới lạ lần đầu mình được thấy ở một ngôi trường đại học có thể gọi là cao cấp nhất Đông Dương khi đó mà một học sinh kháng chiến vừa mới về Hà Nội dù có mơ cũng không thể tưởng tượng nổi. Cái mới lạ thứ nhất là một phòng đại giảng đường rộng lớn và hiện đại do người Pháp xây theo kiểu một giảng đường Sorbonne thu nhỏ với những dãy bàn xếp hình vòng cung từ thấp lên cao, có cả tầng hai cho những sinh viên dự thính hoặc đến chậm có thể len lén đi theo một cầu thang riêng để vào lớp dễ dàng, lại cũng có cả những khu vực ngăn ra theo kiểu ghế loge khuất nẻo ở trên cao để những cặp anh chị sinh viên đã “bắt bồ” với nhau có thể thong dong vừa nghe giảng bài vừa tha hồ tình tự. Từ tít trên hàng ghế phía sau cùng giảng đường nhìn xuống, phía trước bức tường vòng cung lát gỗ nâu đen bóng cao đến một nửa tường, đặt một bục giảng khá cao chếch về bên trái cũng bằng gỗ nâu đen, còn bên phải là một cánh cửa lớn đóng chặt, cũng đen bóng không kém, có người nhân viên đứng chờ sẵn và khi đến giờ, cánh cửa được ông ta trịnh trọng mở ra: Giáo sư từ phía sau bước vào lớp, cất mũ, nghiêng đầu nhìn ngược lên, chào tất cả sinh viên dự buổi giảng của mình. Một không khí như thế thật không thể nào có ở các ngôi nhà mái tranh vách nứa thời còn phổ thông, khiến chúng tôi thấy như mình cũng lớn hẳn lên, đã trở thành người có tư thế hẳn hoi và phải tự trọng với tư thế đó của mình. Nhưng còn thú vị hơn nữa là ở trên sân trường rộng mênh mông có đặt nhiều tấm bảng ghi đầu đề những buổi giảng của các thầy để sinh viên có thể tự do ghi tên đến học hoặc đến nghe dự thính. Cái tên của những vị Giáo sư khả kính như Đặng Thai Mai, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trần Văn Giàu... đập vào mắt khiến chúng tôi cứ nhìn vào cũng đủ ngẩn ngơ. Song không phải chỉ có cái tên, mà hấp dẫn hơn cả cái tên chính là những hàng “tít” khá giật gân đề ngay trên bảng. Tôi còn nhớ ở hai tấm bảng lớn dựng chếch hai bên cổng vào phía sau Đại giảng đường có ghi những dòng bằng phấn trắng và đỏ về hai buổi giảng của hai vị Giáo sư danh tiếng mà người ta chưa kịp xóa đi : Bảng phía bên trái đề: Chiều ngày..., từ 14 giờ, tại giảng đường số 2, Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường giảng 3 tiết về những thử thách của Pénélope đối với Ulysse khi người anh hùng sau hàng chục năm chinh chiến ở Troie và phiêu bạt khắp nơi trở về gặp vợ; và một tấm bảng khác nằm chếch về bên phải lối đi lên cổng: Sáng ngày..., từ 7 giờ 30, Giáo sư Trương Tửu giảng 3 tiết về những nghệ thuật của Hoạn Thư đánh lùi Kiều. Vân vân và vân vân. Có thể nói những ngày đầu tiên mới làm quen với môi trường đại học cách đây đã gần nửa thế kỷ ấy vẫn còn để lại ấn tượng rất đậm trong tôi về cái cảm giác hào hứng khôn tả khi được bước vào một không khí mới lạ, nó kích thích tâm tưởng mình, dường như đang đưa mình đến thật gần với khoa học, với trí tuệ, với khát vọng tự do và sáng tạo. Cũng trong những ngày ấy, trên một tấm áp phích lớn và cao treo ở dãy nhà đối diện với Đại giảng đường, chúng tôi nhìn thấy tên tuổi đỏ chói của 10 sinh viên Đại học Văn khoa và vài chục sinh viên Đại học Sư phạm Văn khoa vừa mới tốt nghiệp, được xếp theo thứ tự thi đỗ từ trên xuống dưới trong khóa học tiền thân của Khoa ngữ văn Đại học Tổng hợp chúng tôi, bên cạnh đó là đầu đề của một trong những bài thi chính không có chút gì là “thời thượng” như đề thi ngày nay: Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử. Trên cái bảng ghi tên dài dặc ấy, từ một quãng rất cao, tôi chú ý đến mấy cái tên : Hà Thúc Chỉ, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Văn Tâm... và gần cuối bảng là một cái tên mà thật ngẫu nhiên là sau này lại sẽ trở thành người bạn thân thiết của gia đình chúng tôi: Ninh Viết Giao. Văn Tâm đã đến với tôi bắt đầu như thế đấy - đến trong cái không khí đầy những huyền thoại về tài năng của một lớp đàn anh xuất chúng đếm trên đầu ngón tay vừa mới ra trường.

ít lâu sau tôi mới biết rằng, ngay khi chúng tôi đang lan truyền những giai thoại đẹp đẽ về các anh, đang đọc những bài thơ dài do các anh viết và giật những giải thưởng lớn (Nhớ hôm nào tiễn con trên bến; Bến dừa xanh trìu mến má hôn con...) thì cũng chính là lúc “tai nạn nghề nghiệp” đến với các anh, khi các anh tham gia vào tờ báo Đất mới cũng chỉ với ý hướng thể nghiệm những tư tưởng dân chủ vừa tiếp thu được trong sách vở của mình. Văn Tâm cũng như một số bạn học xuất sắc được giữ lại trường đã phải sớm rời bỏ chiếc ghế “Trợ lý giảng dạy đại học” để về đầu quân vào các trường phổ thông ở Hà Nội và một số tỉnh, và hầu hết đều an lòng với thân phận nhà giáo trung học cho đến tận cuối đời. Vì thế, lẽ ra đã có thể được nghe anh trình bày các buổi seminaires thay cho các Giáo sư mà anh đóng vai trợ lý cho họ ở trường đại học (như chúng tôi đã từng được nghe anh Hoàng Ngọc Hiến giảng rất hay về Ambramôvits thay cho thầy Hoàng Xuân Nhị hay anh Cao Xuân Hạo dịch tuyệt vời những bài giảng về ngôn ngữ học của một nữ Giáo sư người Nga trong hai năm 1957-1958 anh Hạo cũng bị “thuyên chuyển” nhưng là chuyển về phòng dịch thuật của trường) thì sự sắp đặt của “ông xanh” lại làm tôi đến với anh chậm đi mất mười mấy năm.

Nhưng cũng còn là một cơ duyên may mắn: trong khi học đại học và nhất là sau này khi đã trở thành cán bộ Viện Văn học, tôi đã có diễm phúc được gần gũi Giáo sư Cao Xuân Huy, một nhà triết học phương Đông lỗi lạc và thật chẳng ai ngờ lại chính là bố vợ của anh Văn Tâm. Cơ duyên thật sự đến với tôi khi đất nước thống nhất ít lâu, Giáo sư Cao Xuân Huy đang sống cùng người con trai cả là Cao Xuân Hạo ở Kim Liên thì anh Hạo được lặng lẽ giải oan và chuyển vào Sài Gòn công tác. Thế là người bố đến ở với vợ chồng con gái và nghiễm nhiên cái “đại bản doanh Hán học” mà chúng tôi thiết lập ngày ngày ở Kim Liên cũng chuyển về 13 Phan Bội Châu. ở đấy lúc đầu tôi gặp anh Văn Tâm thi thoảng và về sau thì hầu như thường ngày. Mới đầu anh còn giữ ý, mỗi khi chúng tôi đến học thì anh đi dạy, hoặc nếu có ở nhà cũng ngồi riêng một góc làm việc của mình để thầy trò chúng tôi trao đổi với nhau theo hình thức “phát vấn” - một hình thức học tập kích thích sự động não của người học mà Giáo sư Cao Xuân Huy thường hay sử dụng. Dần dần, những buổi học khác thường ấy cuốn hút được anh, khiến anh cũng ở nhà nhiều hơn, và hễ ở nhà thì không ngồi riêng rẽ mà nhích gần lại, tham gia một cách không tự giác vào lớp học của chúng tôi lúc nào không hay. Có ngờ đâu cái triết lý Thiền mà chúng tôi được học với thầy Huy ngày ấy, trong khi anh thì chỉ là một “bàng thính viên” tích cực, lại đã thấm vào anh nhuyễn đến thế, cộng thêm cả với việc mài miệt đọc sách của cá nhân anh nữa, đã giúp anh lý giải thật đặc sắc những phạm trù “sắc” và “không”, “duyên” và “nghiệp”... bàng bạc trong kịch Đoàn Phú Tứ hay trong không ít áng văn thơ hiện đại, qua các bài tiểu luận và chuyên khảo anh viết sau này.

Được gần gũi anh, nhiều điều trước đây khi đọc anh đọng lại trong tôi như những dấu hỏi thắc thỏm trở nên sáng rõ. Vào năm 1957 đọc cuốn Vũ Trọng Phụng nhà văn hiện thực tôi cứ tưởng anh là người có phương pháp suy nghĩ cực đoan như một thói quen mà rất nhiều sinh viên mới ra trường thường mắc phải. Đến khi tiếp xúc với anh mới biết, cái cực đoan ở anh thật ra lại là chủ kiến của một con người có cá tính mạnh, và không phải mỗi chốc có thể thay đổi dễ dàng. Trong một thời buổi không thể nói là thuận lợi cho những ai muốn sống lương thiện và giữ được chủ kiến, đó chính là điều không may mắn đối với anh. Anh bộc lộ chủ kiến với tất cả sự quyết liệt của mình. Chính cuốn Vũ Trọng Phụng, nhà văn hiện thực thai nghén từ năm 1953 và ra đời năm 1957 mà tôi đã nhắc là một bằng chứng rõ ràng về điều đó. Không phải chỉ mình anh mới yêu Vũ Trọng Phụng. Từ trước 1945, ngay sau khi Vũ Trọng Phụng vừa mất, nhiều cây bút đồng nghiệp có tấm lòng ưu ái và có cái nhìn sắc sảo đã kịp thời lên tiếng về chân giá trị của nhà văn tả thực số một Việt Nam này. Sau 1945, trong Hội nghị tranh luận văn nghệ tại Việt Bắc, cũng đã có người thay mặt cách mạng cám ơn Vũ Trọng Phụng mặc dù ông không phải là cách mạng. Nhưng từ ít lâu sau hòa bình lập lại 1954, một không khí “cảnh giác” đối với sự lơ là lập trường quan điểm cách mạng của văn nghệ sĩ hình như bắt đầu trở thành một ám ảnh, và nạn nhân không phải chỉ là một nhóm văn nghệ sĩ nào đấy lên tiếng đòi “dân chủ quá trớn”, mà còn có cả những nhà văn đã quá cố, trong số ấy Vũ Trọng Phụng, chỉ vì một bài báo vô hại có cái tên quá giật gân, đã trở thành mục tiêu “răn đe” hàng đầu. Lương thiện và biết yêu lẽ phải như Văn Tâm, cố nhiên là không chấp nhận sự phũ phàng không thể hiểu được này. Trước Văn Tâm cũng đã có những tiếng nói có uy tín công khai bênh vực nhà văn họ Vũ, như của các Giáo sư Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu... trong một tập tiểu luận viết chung. Nhưng Văn Tâm đã đẩy vấn đề lên thành cả một chuyên khảo dài hơi, với cách viết luận chiến và cách sử dụng những thước đo giá trị nghiêm chỉnh: từ phương pháp mô tả hiện thực sắc nét có một của họ Vũ, tầm khái quát hiện thực sâu rộng ít ai sánh kịp của họ Vũ (đối chiếu tỷ mỷ với thực tế đương thời qua sự thống kê từng bước xuống cấp ào ạt của đồng lương, giá cả, hàng hóa ứ đọng... của xã hội Đông Dương trong những năm 1930-1936), đối tượng công kích không chệch hướng của họ Vũ, cho đến bút pháp điển hình hóa và bút pháp trào phúng bậc thầy của họ Vũ. Văn Tâm chỉ muốn đứng ra làm người cứu nạn, chống lại những oan trái mà thời thế đang giáng lên đầu Vũ Trọng Phụng một cách thật mai mỉa. Anh bênh vực và bênh vực quyết liệt đến nỗi những lời chế giễu họ Vũ của Tự Lực văn đoàn - không phải không có chỗ hữu lý - hay những lời phê phán chân tình về những mặt khiếm khuyết của ngòi bút Vũ Trọng Phụng - do điều kiện sống không may mắn của ông tạo nên -, của những người bạn văn đáng trọng : Lan Khai, Lê Thanh... đều bị anh coi là phản động tất, là ăn phải bả của kẻ cầm quyền. Để ra được cuốn sách tâm huyết của mình, trong khi bản thân chưa hề là một tên tuổi gì hết trong làng văn làng báo, sau nhiều lần gửi bản thảo đến mấy nhà xuất bản đều bị trả lại hoặc đòi hỏi sửa chữa này nọ mà anh không thể đáp ứng, cuối cùng Văn Tâm đã phải vay của Giáo sư Đào Duy Anh 100 đồng bạc và của cụ bà Phạm Thị Khách, thân mẫu nhà văn Vũ Trọng Phụng 100 đồng nữa, rồi tự mình ngày ngày lên Hàng Bút chọn mua lẻ mỗi lần năm bảy ram giấy loại xoàng, giá lại đắt, và thuê xích lô chở về nhà in Hoà Bình ở 38 A phố Bà Triệu; và sau không biết bao nhiêu lần tích góp kiên nhẫn như thế, sách mới ra mắt độc giả do anh đứng ra in dưới cái giấy phép của nhà xuất bản Kim Đức, để rồi cũng phải bán nhẩn nha trong khá nhiều năm mới trả hết “nợ văn chương”. Trong thời buổi kinh tế thị trường hôm nay, khi việc hợp t¸c giữa tư nhân với các nhà xuất bản đã không thành một điều ngăn cấm nữa, và trên thực tế từ nhiều năm nay việc hợp tác đã diễn ra bán công khai theo hướng khá mạnh tay trong việc thúc đẩy sách vở xuất bản với số lượng phong phú, đa dạng hơn trước, nhìn lại hành động của một thanh niên 24 tuổi thuở ấy, chúng ta giật mình thấy tất cả sự dũng cảm của nhà nghiên cứu Văn Tâm ngay ở bước đầu cầm bút của mình. Nhưng dĩ nhiên anh khác xa những “đầu nậu sách” hôm nay ở chỗ: bỏ tiền in sách không phải vì chữ lợi (dầu rằng chữ lợi không có gì xấu khi chữ lợi ấy là chính đáng) mà trái lại, phải đi vay và chịu lỗ, chỉ với một mục đích: nói được tiếng nói của lương tri, của lẽ phải, nhằm bảo vệ cho một nhà văn có chân tài đang đứng trước khúc quanh của số phận mình. “Liên tài” vốn là bản tính của những người có tâm hồn lớn, và Văn Tâm xứng đáng là một người như thế. Bỏ qua những lời phê phán vô căn cứ của các thứ giáo trình đại học từ những năm 1961 bắt buộc phải nói theo một giọng “mô phạm” (hay tệ hơn thế nữa), đã từng gọi Vũ Trọng Phụng nhà văn hiện thực là cuốn sách “cố tình... gây một tâm lý bi quan, hoài nghi, một thái độ phá hoại vô chính phủ trong thanh niên”; bỏ qua cả những nhược điểm xã hội học thô thiển và thao tác nghiên cứu chưa nhuyễn mà vào thời ấy tác giả khó lòng tránh khỏi; giờ đây, khi Vũ Trọng Phụng đã được khẳng định là một nhà văn hiện thực kiệt xuất, ít có một nhà văn hiện thực cùng thời nào sánh kịp, khi tên đường Vũ Trọng Phụng đã được chính thức đặt ở thành phố Hà Nội, khi toàn tập Vũ Trọng Phụng đã ra mắt độc giả trong Nam ngoài Bắc, và cuốn Số đỏ kiệt tác đã được dịch ở Mỹ và được dư luận bạn đọc Mỹ hết sức quan tâm, cái việc Văn Tâm làm thuở ấy, quả tình là một việc “động trời” trong giới nghiên cứu văn học cận hiện đại mà ta phải coi xứng đáng được xếp công đầu.

Hai công trình khác của Văn Tâm cũng có ý nghĩa “cứu nạn” trong một chừng mực nào đó là Tản Đà khối mâu thuẫn lớn (1964), và Đoàn Phú Tứ con người và tác phẩm (1995). Mỗi cuốn sách của anh ra mắt đều gây một tiếng vang, bởi chúng đều có tác dụng đánh động đối với độc giả. Cứ đặt mình vào không khí tư tưởng những năm 60 của miền Bắc thì mới thấy, không phải một tài thơ như Tản Đà mà đã dễ dàng có một địa vị chắc chắn trong lịch sử văn học. Bởi vì cái xu thế của chúng ta buổi ấy là ưu tiên nói đến những nhà văn trực tiếp cầm bút đánh giặc. Mặt khác hết sức “kiêng kỵ” đối với những nhà văn cầm bút công khai trên văn đàn hợp pháp (1900-1945), trừ một ít người đi theo kháng chiến. Cho đến đỗi một ông Tú thành Nam mà người ta cũng phải viện đến câu thơ “Em hỏi thăm qua bác hãy còn”. (Bác Phan Bội Châu - ấy là người ta cứ gán cho như thế) để biện minh cho “tinh thần cứu nước” của ông. Cho nên đặt vấn đề thơ Tản Đà ra trước công chúng như một giá trị, nhưng lại đặt dưới một hình thức khéo léo là trình bày thơ ông trong tư cách “một khối mâu thuẫn lớn”, chính là một cách Văn Tâm nêu vấn đề về dòng văn học thành thị công khai dưới thời thuộc Pháp, gián tiếp yêu cầu tìm hiểu một cách nghiêm chỉnh và toàn diệnvề dòng văn học ấy - và không phải nghiên cứu để mà mạt sát như một số bài báo hay cuốn sách đã ra mắt cùng thời với cuốn sách của anh - để bộ mặt văn học thế kỷ XX khỏi rơi vào phiến diện. ở phương diện đó mà nói, anh lại cũng xứng đáng đóng vai trò một người mở đầu. Còn như Đoàn Phú Tứ, một nhà văn giàu cá tính lại đã chịu thiệt thòi nhiều trong cuộc đời thì không nói cũng rõ, cuốn sách của Văn Tâm đã lấy lại sự công bằng cho ông, hơn thế nữa đã đi sâu phát hiện những mặt đóng góp độc đáo của bút pháp siêu thực Đoàn Phú Tứ, đại biểu cho một xu hướng cách tân trong văn học Việt Nam trước 1945 mà giới nghiên cứu cố ý hay sơ ý hoặc nói chưa đầy đủ hoặc bỏ qua. Một lần nữa ở đây Văn Tâm lại đã chứng tỏ cái tư cách “phù suy” rất hiếm có, cái tư cách dám xông vào những mảnh đất lắm chông gai và ít bảo hiểm để làm trọn phận sự nhà phê bình nghiên cứu của mình.

Nói cho công bằng, viết được những công trình như trên, không phải chỉ có tấm lòng mà đủ. Tôi đã nói Văn Tâm là người quyết đoán và có cá tính mạnh, nhưng trong lĩnh vực nghiên cứu, hai phương diện ấy của tính cách chỉ có thể phát huy được mặt mạnh của chúng trên cơ sở một sự tỉnh táo và sâu rộng của trí tuệ chứ không phải quyết đoán theo kiểu một người nói càn. Trời phú cho Văn Tâm một thiên hướng mê sách ngay từ tuổi mới lớn khôn. Và vào những ngày kháng chiến chống Pháp tại tỉnh Thanh, ở mạn Cầu Bố, Rừng Thông... người tản cư từ Hà Nội về rất nhiều, nhiều người là trí thức đôi khi mang theo hàng va li sách như những của cải quý giá, để rồi khi không thể mang theo được nữa vì kiệt sức và cạn vốn thì đành đem bán dần từng quyển với những giọt nước mắt nuối tiếc khôn nguôi, đôi khi bán sách mà vẫn xin người mua cho phép xé giữ lại tờ giấy có chữ ký của người tặng mình. ở cái tuổi chỉ nhỉnh hơn 14, đang học cấp II, chú bé Văn Tâm đã biết bỏ hết các thứ chi tiêu mà gia đình cung cấp, dành dụm tiền để mua tất cả những loại sách hiếm ấy. Cho đến khi vào học dự bị đại học thì anh đã có sau ba lô cả một khối sách nặng và cực kỳ quý, những cuốn Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê, Lấy nhau vì tình, Cơm thầy cơm cô và Lục xì, Dứt tình... những tập báo Tiểu thuyết thứ Ba, Phổ thông bán nguyệt san... mà học sinh thời kháng chiến và ngay cả sinh viên đại học những năm 60-80 hầu như không ai biết mặt mũi. Sự say mê kỳ lạ này đã đưa lại cho anh một vốn tri thức sâu rộng về văn học giai đoạn 1900-1945 mà chỉ những dẫn liệu trong mấy công trình đã nói ở trên của anh cũng đủ làm người đọc phải kính nể. Cho nên phải nói anh là một người quyết đoán sáng suốt, quyết đoán trên tư liệu vững chãi chứ không phải như ai đó chỉ nói chay hoặc nói bằng lập trường tư tưởng suông. Bên cạnh lòng say mê sách vở, Văn Tâm còn hai niềm đam mê khác là mê tranh và mê đồ cổ. Anh mê tranh và yêu quý các họa sĩ, yêu với tấm lòng chân thực tài năng khác thường của họ. Nhà anh trở thành nơi lui tới của các họa sĩ hàng ngày, hàng tuần, và mỗi lần tới tuy chỉ có mấy bìa đậu và một cút rượu, nhưng đã trở thành một địa chỉ tin cậy, một thứ “tao đàn” mỹ thuật vừa thân tình vừa tao nhã trong rất nhiều năm . Những bức tranh hiện treo trên tường ở 13 Phan Bội Châu phần lớn đều là quà tặng của các họa sĩ thời danh dành cho Văn Tâm, trừ một vài bức như bức tranh diễn viên chèo của họa sĩ Bùi Xuân Phái, anh từng nói với tôi là kết quả của một cuộc đổi chác lạ kỳ: người có cả một kho tranh, ông NBĐ vốn rất mê Tự Lực văn đoàn mà bấy giờ trong tay anh lại có đến hai bộ. Được tin, ông tìm đến nài nỉ xin được nhường lại một bộ với cái giá là hai bức tranh. Anh vui lòng đổi cho ông nhưng chỉ với điều kiện đấy phải là tranh do anh chọn. Vốn không tin rằng nhà giáo dạy văn mà lại có con mắt sành cả về hội họa, ông khách đã mời Văn Tâm đến tận nhà để Văn Tâm tự chọn tranh. Và Văn Tâm ôm bộ sách Tự Lực văn đoàn đến, đứng ngắm nghía phòng tranh của ông khách một lúc lâu rồi chỉ vào hai bức mà mình thích, trong đó có bức tranh diễn viên chèo nổi tiếng kia. Ông khách chết lặng cả người, nhưng đã chót hẹn đành phải trao tranh tận tay để nhận lấy bộ sách, trong lòng không khỏi thẹn thầm vì đã đoán lầm khả năng của Văn Tâm. Văn Tâm cũng là người mê đồ cổ từ rất sớm. Sau này khi tủ sách đã khá đủ những cuốn sách quý, lại được ở chung với người bố vợ có bìa C (được mua hàng ưu tiên ở cửa hàng Vân Hồ) anh đã làm một việc cũng khá... liều lĩnh là hàng năm, vào dịp đầu năm, khi nhà nước bắt đầu phát tem phiếu vào khoảng trước Tết âm lịch, cũng là lúc đồ cổ bắt đầu hạ giá so với ngày thường thì Văn Tâm lại thương lượng với gia đình “thắt bụng nhịn ăn”, đem hết tem phiếu bán cùng một lúc, kể cả tem phiếu đặc biệt của bố vợ để lấy tiền đến những nơi bày đồ cổ sắm một món mà mình ao ước từ lâu. Cả một nhà nhịn ăn nhịn mặc để những món đồ cổ có mặt ở trong ngôi nhà mỗi năm một thêm nhiều. ấy thế mà anh đã thuyết phục được đến chính bố vợ cũng không nói gì. Hình như nhà triết học phương Đông cũng phải nhân nhượng trước cá tính mạnh của một người ham mê cái thú nhìn ngắm quá khứ trong vân gỗ và men sứ men sành cũng như mình say mê ngắm nhìn những trang sách cổ. Và đến hôm nay, khi anh nhắm mắt xuôi tay, những món đồ cổ vẫn còn nằm nguyên đấy. Chúng không đem lại chút lợi nhuận gì cho anh sau bao nhiêu năm chính anh và vợ con anh nhịn ăn nhịn mặc. Nhưng chúng là những kỷ niệm vô giá để vợ con anh mỗi lần nhìn đến lại khóc vùi vì nhớ đến người chồng, người bố của mình.

Văn Tâm còn là người có cá tính mạnh khi bắt đầu chuyện xây dựng gia đình. Được học với Giáo sư Cao Xuân Huy và làm bạn với Cao Xuân Hạo, anh thỉnh thoảng đến nhà bạn chơi và để ý đến em gái bạn từ ngày vào dự bị đại học. Lúc bấy giờ chị Cao Thị Xuân Cam chỉ mới học lớp Tám ở trường Lam Sơn, Thanh Hóa. Và theo chị cho biết, những ngày ấy, chị cũng chưa một lần nào nói chuyện gì với anh. ấy thế mà, như có chủ kiến từ lâu, một hôm anh mạnh dạn đến gặp thầy học của mình nhân lúc chị Cam vắng nhà, thẳng thắn đề đạt ý nguyện của anh: xin thầy cho gá nghĩa cùng con gái thầy. Cố nhiên là nhà học giả họ Cao hết sức sửng sốt. Nhưng biết anh là một sinh viên giỏi, thầy hứa sẽ tự mình thăm dò để xem ý tứ con gái. Và khi con gái đi học về, người bố hỏi: “Con xem xem, chàng trai ấy muốn làm rể nhà ta có hợp không?” Chị Cam hỏi lại: “Theo thầy thì anh ấy thế nào ?” “Đó là một người tài năng vượt trội hơn người, nhưng lấy anh ta chắc chắn về sau con sẽ khổ. Con hãy suy nghĩ cho kỹ”. Chị Cam đã suy nghĩ đúng một tuần và sau đó nhận lời với bố với câu trả lời mạnh mẽ: “Con không sợ khổ, nếu người ấy có tài”. Bố cũng không hỏi đi hỏi lại, và vị hôn phu tương lai cũng không một lần hỏi đi hỏi lại, coi như mọi việc thế là xong. Mãi hai năm sau, chị học xong phổ thông, vừa đúng một năm sau hòa bình, là con một trí thức đi kháng chiến nên ở vào danh sách dự kiến được đi học nước ngoài. Tình thế khiến anh thấy mình có thể mất chị đến nơi, và anh lại phải quyết đoán dùm chị : “Cứ học ở trong nước, còn chúng ta hãy cấp tốc làm lễ cưới”. Thế là một lần nữa chị lại chiều theo ý của anh. Người làm chủ hôn lễ là Giáo sư Trương Tửu bấy giờ là Giáo sư Trường đại học Văn khoa và Sư phạm Văn khoa. Ông cầm tay hai người đặt vào nhau như muốn khoán ước cho người học trò yêu của mình hãy nhận sự chăm sóc của người con gái vị Giáo sư đồng nghiệp mà mình biết rõ tính nết từ tấm bé. Và lời khoán ước vô ngôn của thầy Trương Tửu ngẫm ra thật nghiệm. Đầu năm 1996, khi anh gặp tai biến mạch máu não, từ ngôi nhà ở phố Hoàn Cầu, trong tư thế đã hoàn toàn biến cải của một Giáo sư trở thành ông lang lành nghề, thầy Trương Tửu đã gửi ngay đến nhà anh chị cuốn sách Bàn tay ánh sáng của nhà nhân điện nữ người Mỹ Barbara với lời nhắn nhủ: hãy thâm nhập môn nhân điện và dùng bàn tay của mình để cứu chồng. Với năng lực tinh tường của một người vốn tốt nghiệp đại học sinh vật học mà ngay từ sau khi ra trường không được dùng lấy một ngày nào mớ kiến thức đã học, với nghị lực phi thường của một người từng có lời nguyền với bố mình rằng mình lấy chồng là lấy người có tài chứ không sợ gì gian khổ, chị Cam đã vượt qua mọi trở ngại, thâu nhận rất nhanh các phương pháp thần kỳ trong cuốn Bàn tay ánh sáng và đem ra ứng dụng nhằm giữ gìn tính mạng người chồng yêu quý. Tám năm trời anh Văn Tâm đã không gục ngã, và đã tiếp tục viết có phong độ như một Văn Tâm khỏe mạnh. Sự quyết đoán của Văn Tâm, cá tính mạnh của anh, ngỡ là “tai vạ” cho anh nhưng rốt cuộc lại chính là phúc, đó chính là biện chứng thần diệu của đạo Lão.

(Văn nghệ số 28)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0