Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Thành phố bông hồng vàng của Hà Linh Chi

0 trả lời, 11 lượt xem — Trang 1 / 1
Thành phố bông hồng vàng của Hà Linh Chi

Trần Ngọc Trác

Cách đây đúng 19 năm - tháng tư năm 1985, nhà thơ Hà Linh Chi viết một bài thơ dài “Thành phố Bông hồng vàng” với 246 câu, chia làm 5 đoạn để ngợi ca thắng cảnh thiên nhiên, con người và lòng quyết tâm đi theo cách mạng đến cùng của cán bộ, nhân dân thành phố Đà Lạt.

Những vần thơ được anh viết ra bằng một mạch cảm chân thành đầy trách nhiệm của một người làm thơ trước quê hương, đất nước. Những dòng thơ đã qua thời gian, đọc lại vẫn hừng hực trong lòng với sự cảm phục người viết đã nói hộ những suy nghĩ của những người đang sống.

Giữa cuộc đời với biết bao lo toan, nhưng trong thơ anh là những suy nghĩ, những câu chữ không còn thô ráp mà được anh chọn lựa, gửi gắm những gì mình muốn tâm sự: Nơi đêm đêm ta lắng từ tiếng thác/ Lòng miên man về biển lớn bạn bè/ Trong cơn mưa nghe bồn chồn lá hát/ Ngọn lửa hồng trăn trở đêm khuya.

“Nghe bồn chồn lá hát” - thật thế, lá hát giữa rừng thông xanh xào xạc, giữa những cơn mưa cao nguyên không còn nặng hạt. “Lá hát” nhưng không hát khúc vu vơ vì trong đất đỏ bazan này có máu của mình, của đồng đội mình ngã xuống. Và anh đã thốt lên: Ly rượu nhạt sao nỡ mời bạn uống/ Khi lòng mình sắc áo lính còn xanh. Đúng vậy, không ai nỡ mời nhau một ly rượu nhạt, không ai có thể quay lưng với mảnh đất đã sinh ra mình, nuôi mình lớn lên, nơi mình từng được yêu, được sống và đã từng trăn trở những đêm khuya thanh vắng.

Nhà thơ Hà Linh Chi đã có mặt rất sớm với thành phố Đà Lạt. Đó là thành phố “bông hồng vàng” ẩn mình trong một bầu không khí ảm đạm của chiến tranh: Thành phố trước năm 1975. Thành phố như con ve đực/ Cồn cào cưa kéo cơn giông/ Lặng im những giò lan đất/ Hoàng hôn mờ xám sương giăng/ Còi khuya hù ré thất thanh/ Lao nhao chùm hoa tầm gửi/ Thép gai rào giăng ngõ tối/ Rằn ri sắc lính đầy đường.

Anh khắc hoạ một thời u tối và nỗi lo lắng hoang mang của những chàng trai trẻ: “trốn lính núp dưới tỏi hành/ anh nằm thu lu gác xép/ Ghiền thuốc cứng đờ mi mắt/ cơn ho giả tiếng mèo hen”;… của người mẹ già: “đêm sâu thao thức/ u ơ giật mình bé khóc/ giày đinh lùng sục cuối vườn”; là nỗi vất vả đoạn trường của người đàn bà: “gầy khô lồng ngực/ lằn trán xếp dày tủi cực/ phận nghèo đi gió về sương”; là tương lai mờ mịt: “bông hồng khô ép giữa trang/ Chốt cửa em ta ngồi học/ Câu thơ ướt nhèm nước mắt/ chân trời mờ xám cô đơn”; là những tiếng cười man rợ của kẻ ngoại bang “lạnh buốt sau lưng”; là những cô gái bán mình giữa lòng đô thị vàng thau lẫn lộn, âm u những điệu nhạc buồn, lê thê đêm đêm giữa “trập trùng sóng núi dồn quanh”.

Anh tái hiện tuổi xuân của lớp trẻ trong chiến tranh: “Như chim cụt cánh/ Xo xo tóc rỉ rền”.

Tức nước vỡ bờ - đó là quy luật tự nhiên. Những gì dồn nén, chịu đựng sau những năm tháng nặng nề, đau thương ấy, tất sẽ có ngày phải bùng phát. Như một quy luật, trước cơn giông ầm ào sấm nổ rền vang sẽ là một cơn mưa như trút nước, và trời lại sáng. Ngày ấy tháng tư lịch sử năm 1975 đã mở ra: “Khát vọng sắc cờ chớp lửa/ Bùng lên trận sấm mùa xuân”.

Để có những ngày chiến thắng rộn ràng ấy, hưng phấn ấy, toại nguyện ấy, là những tháng năm có biết bao những con người của thành phố bông hồng vàng phải chịu bao cơ cực, tra tấn, tù đày do kẻ thù gây ra, mà nhà thơ Hà Linh Chi đã dành hẳn một đoạn thơ dài để kể lại. Đó là: “Những đêm sâu buốt giá tro tàn/ Mẹ ta ngồi khum tay ủ lửa/ Nghe âm thầm rễ cây chuyền nhựa/ Mùa anh đào lặng lẽ đơm bông”; là ký ức về một thời: “Màu thắm đỏ sắc cờ buổi ấy/ Giữa ngực gầy trái tim rực cháy/ Mong chờ ngày thắp sáng quê hương”; dẫu “Da nhăn nheo bầm tím roi đòn/ Chân lê lết lao tù cửa ngục/ Giữa guồng đời nổi trôi bầm dập” nhưng vẫn hướng về cội nguồn miền Bắc yêu dấu; là những ngày: “Cha ở tù suốt hai mươi năm/ Mẹ tảo tần thăm nuôi, nỉa đất”. Nhưng trong: “tờ công phiếu in hình ảnh Bác/ Mẹ cuộn tròn dưới đáy bình nhang” đã nói lên biết bao điều.

Đà Lạt vẫn còn đó dấu tích một thời giặc đưa hai mươi chiến sĩ cách mạng ra xử bắn trên sân bay Cam Ly, giữa đồi ba cây, nhưng kẻ thù không bao giờ giết được ý chí và tinh thần quật cường của những người con nước Việt, không thể nào xoá được tấm lòng: “vẫn thảo thơm xanh vỏ đỏ lòng/ dù hạt muối cọng rau viên thuốc/ Mẹ vượt qua bãi mìn phục kích/ Tay nâng cầm lòng ta rưng rưng”. Những năm tháng thành phố còn nằm trong vòng vây kềm kẹp của địch, một ánh đèn le lói liên lạc có ý nghĩa biết bao: “Đôi mắt nào khắc khoải chờ mong/ Ngọn đèn khuya gió lay mưa lấp/ Xuyên rừng đêm băng qua bãi chết/ Ta gặp nụ cười thắp sáng niềm tin”.

Hình ảnh người mẹ Việt Nam chân chất, hiền lành mỗi khi qua phố về, vẫn còn hằn lên những nỗi đau khi cókẻ trở mặt phản bội nhân dân: “Chợ chiều về gió thắt từng cơn/ Bên gánh rau cuối ngày héo hắt/ Tai lắng hết mọi điều phản phúc/ Mẹ trở về nhớ mặt chỉ tên”.

Không thể làm sao quên được hình ảnh người chiến sĩ, hay anh du kích, những người lính cảm tử không tiếc thân mình vì tổ quốc hy sinh: “Giữa bình minh phố chật người nêm/ Anh thản nhiên bước vào tiệm phở/ Đồn trại giặc bất thần mìn nổ/ Còi thất thanh vây ráp nhoáng nhoàng”.

Và lặng lẽ như người yêu đi bên người yêu giữa phố đông người qua, chị trở thành cô liên lạc thông minh: “Vịn tay chồng chị bước hiền ngoan/ Nghiêng ô che chiều mưa đường dốc/ Nơi gốc cây dừng chân phút chốc/ Chị chuyển giao thư mật ra rừng”.

Hình ảnh cô nữ sinh trung học đến lớp trong những ngày xưa ấy là hình ảnh: “Em dịu dàng như nụ tầm xuân/ Gót chân son hồn nhiên tới lớp/ Bó truyền đơn nằm im đáy cặp/ Chợt bay lên bừng trắng sân trường”.

Và không riêng gì những thầy tu, phật tử cũng xuống đường biểu tình đòi công lý, đòi tự do tín ngưỡng và những người nghèo xóm thợ cũng có mặt trong đoàn biểu tình: “Cháy bùng lên lửa đuốc căm hờn/ Có riêng đâu áo màu phật tử/ Có tay mẹ ấp nghèo xóm thợ/ Chặn dùi cui, khói độc, vòi rồng”. Đất nước đã quy về một mối, thành phố bốn mùa hoa đã trở về với nhân dân thì lớp lớp cháu con hôm nay không thể nào quên những năm tháng cha ông đã chiến đấu ngoan cường giành từng tấc đất cho hôm nay. “Mai ta về Xuân Trường nghe em/ Mình ghé thăm xóm đồi Cầu Đất/ Nơi còn những căn hầm bí mật/ Mẹ cha từng nuôi giấu các anh”.

Đà Lạt thành phố bông hồng vàng đã khoe sắc. Tình yêu đã được nhân lên từ mỗi tấm lòng. Khúc ca dài theo tháng năm như có lửa nhen ấm lên giữa đất trời bình yên: “Giữa tấm lòng thành phố và em/ Cánh rừng thông lặng thầm nhựa lửa/ Như chim én dưới trời rộng mở/ Anh lắng buồn vui vào khúc hoa hồng/ Nghe bồi hồi tiếng thác trong đêm/ Để thắm hết mưa rừng nắng núi/ Trong sắc lá nửa đời xanh lại/ Anh hiểu mình từ ấm áp tay em”.

Khép lại những vần thơ trong “Thành phố bông Hồng Vàng”, ta thầm cám ơn nhà thơ Hà Linh Chi đã để lại những dòng tâm huyết với mảnh đất cao nguyên yêu thương này, để lại những gì mà anh muốn trao gởi, những gì anh muốn nói với chúng ta qua những vần thơ ơn nghĩa với đời.

Tháng tư này đọc thơ anh, lại là thơ dài nhưng trong ta vẫn còn ngan ngát hương thơm từ những câu thơ của anh, như hương thơm của đoá hồng vàng.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0