Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Trần Quang Quý và đồ thị của những giấc mơ

0 trả lời, 11 lượt xem — Trang 1 / 1
Trần Quang Quý và đồ thị của những giấc mơ

Nguyễn Đăng Điệp

(Đọc Giấc mơ hình chiếc thớt - Thơ Trần Quang Quý, NXB Hội Nhà văn. 2003)

Mọi vật đều có một trật tự

Chỉ ý nghĩ là tự do

Với tôi, hai câu thơ khá hay trên đây chưa phải là hai câu thơ đắt giá nhất trong Giấc mơ hình chiếc thớt của Trần Quang Quý. Nhưng đó lại là những câu thơ có ý nghĩa như chiếc chìa khóa mở ra con đường dẫn vào những giấc mơ thi sĩ của anh. Nơi ấy, trong cõi tự do, những ý nghĩ, cơn mơ bùng dậy như những con ngựa hoang phóng trên đồng cỏ và phiêu du trong những chân trời lạ tâm linh. Nơi ấy nhà thơ đã cố gắng bứt thoát khỏi những nguyên tắc thi học mòn sáo để dựng lên hữu thể nghệ thuật riêng mình. Không phải ngẫu nhiên mà cả tập thơ 45 bài nhưng có tới hơn 20 lần trực tiếp nói về mơ, giấc mơ, cơn mơ, xa mơ, mơ ước… Lấy mơ để nói thực, trộn lẫn thực và mơ, xác lập những tương quan mới về chữ, chồng ghép các hình ảnh xa nhau trong một thể thống nhất - sự thống nhất của những giấc mơ chính là nét trội trong cảm thức nghệ thuật của Trần Quang Quý. Nó cũng chính là ý thức đổi mới của anh trên con đường hiện đại hóa thơ ca. ý hướng cách tân ấy không phải đến tập thơ này mới xuất hiện mà đã từng lộ diện trong Viết tặng em trong ngôi nhà chật trước kia và Mắt thẳm gần đây. Nói thế để thấy rằng, lập nên những xác tín nghệ thuật mang màu sắc cá nhân đã khó, nhưng theo đuổi nó đến cùng lại càng khó hơn. Trần Quang Quý chấp nhận những thách thức ấy và trong thực tế, anh đã để lại trong tâm trí người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc.

Tôi hiểu, khi đưa ra cách nói nghịch tai Giấc mơ hình chiếc thớt, Trần Quang Quý có ý thức gây hấn với mỹ cảm truyền thống. Một sự gây hấn lành mạnh trong nghệ thuật. Trong tâm trí nhiều người, giấc mơ bao giờ chẳng đẹp, hay ít nhất nó cũng phải trong trẻo, dịu dàng… Nghĩa là sau giấc mơ kia phải là các tính từ hoặc các danh từ mang sắc thái biểu trưng. Gắn liền với nó là những câu thơ du dương vần điệu, những thi liệu ăm ắp chất thơ và giàu ý vị lãng mạn. Kiểu tư duy nghệ thuật ấy đã từng để lại nhiều câu thơ hay, nhiều hình tượng nghệ thuật đầy sức gợi. Nhưng Trần Quang Quý không muốn lặp lại những nẻo đường người khác đã từng đi. Anh muốn đưa thơ vươn tới tầm tư duy mới mẻ của thơ ca hiện đại. Đó là nỗ lực nhìn những cái rất quen bằng đôi mắt lạ, là ý thức soi chiếu đối tượng từ nhiều góc quét khác nhau, cố gắng thiết lập những mô hình kết cấu nghệ thuật phù hợp với những giấc mơ bất chợt, những biểu tượng nghệ thuật đa tầng. Thực ra, kiểu nhìn như thế đã từng xuất hiện trong người đồng lứa Nguyễn Quang Thiều và một số nhà thơ trẻ về sau. Duy có điều, Trần Quang Quý đã biết kiến tạo mô hình nghệ thuật của riêng anh. Nếu như mạch cảm xúc trong thơ Nguyễn Quang Thiều thường dào lên mãnh liệt, tràn từ câu này sang câu khác: Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái - Đã năm năm, mười lăm năm và nửa đời tôi thấy - Những người đàn bà xuống gánh nước sông… thì Trần Quang Quý lại có ý thức nén cái dào dạt ấy vào bên trong: Tôi đứng ngẩn - Vòm cây chợt lá - Rụng một nỗi buồn xuống mùa đông (Mùa đông). Chính vì biết vùi sự nồng nàn của cảm xúc vào trong nên giọng thơ của Quý điềm tĩnh – sự điềm tĩnh phù hợp với màu sắc triết lý xuyên suốt tập thơ này. Cũng bởi thế, trong các câu thơ của Trần Quang Quý, rất ít khi xuất hiện các hư từ và các từ so sánh. Chiều sâu của những phát hiện thường được bật ra từ những tình thế chứa đầy nghịch lý, từ ý thức đặt những sự vật xa nhau nằm cạnh nhau. ánh lửa của khoái cảm thẩm mĩ xuất hiện chính trong sự “lắp ghép” đầy tính nghệ thuật này. Rất có thể, cái khả năng gây kinh ngạc trong thơ mà Apolinaire từng nhiều lần nói đến đã nhập vào những cơn mơ của Trần Quang Quý, tạo nên khung trời phiêu lãng của những đám mây biểu tượng thơ anh. Nó kết thành những chuỗi hình ảnh rất riêng của Trần Quang Quý: bờ sông thui thủi sóng, hồn ta hoang chân mây, hoàng hôn run rẩy rác, tiếng thời gian vơi tóc trên đầu... Đây là những hình ảnh “biết nói”, chất chứa nhiều ngẫm ngợi của một trái tim nhạy cảm, đa đoan.

Tuy nhiên, bất kỳ sự cách tân về lối viết nào cũng phải mang trong nó chiều sâu của tư tưởng và cái nhìn mới mẻ về cuộc sống. Tôi luôn nghi ngờ những thứ thơ mang danh hiện đại, ngôn từ xủng xoẻng nhưng lại thiếu vắng cái cốt yếu nhất của thi ca là tình yêu. Một khi thiếu đi chiều sâu của tư tưởng, ngôn ngữ thơ sẽ mất đi màu xanh của sự sống. Hiện ra như một sinh thể nghệ thuật đầy sức sống, mỗi một bài thơ là sự thống nhất cao độ giữa nội dung và hình thức. ở đấy, chúng hòa lẫn trong nhau, hình thức là nội dung và nội dung cũng chính là hình thức. Trong những bài thơ hay nhất của Trần Quang Quý, sự chuyển hóa này diễn ra tự nhiên, nhuần nhuyễn. Phía sau những biểu tượng nghệ thuật, phía sau đường chân trời của những giấc mơ là niềm trăn trở và day dứt của nhà thơ về cõi thế, là sự âu lo về sự tồn tại của con người trước một thế giới có quá nhiều nghịch lý, oái oăm. Đó là lý do thơ Trần Quang Quý nghiêng nhiều về phía buồn đau: ký ức phập phồng mụn vá- Đau bạc ngày xanh. Những dòng thẳm ấy chỉ có thể cất lên từ những mắt thẳm suy tư, từ cảm giác cô đơn trĩu nặng:

Không có ai có thể chia sẻ cùng ta

Những buổi chiều chạng vạng bầy dơi gặm bóng tối

Những ban mai ẩm ướt chưa kịp cởi giấc mơ đêm

Những cánh đồng gió hoang dại

Thi sĩ độc hành trên đường

Đó là cái “độc hành” trên con đường sáng tạo, là niềm cô đơn khi đối diện với miền ký ức xa xôi nhưng vẫn hằn lên bỏng rát, là nỗi đau tê lặng không lời: Cô lặng một mình chiếc cốc - Uống không từng dấu xưa. Tôi nhận thấy trong cõi mơ buồn của Trần Quang Quý, cảm hứng thế sự chính là dòng cảm hứng nổi bật nhất. Nó hiện ra qua những trăn trở khôn nguôi:

Và cứ thế

Cuộc sống ở trong nhau, cuộc sống hình hài nhau, cuộc sống

tiếp tục nhau

Những cái ác và đểu cáng ở đâu

Những xu nịnh, lọc lừa dấu ấn ở đâu

Trên những mặt người?

“Trong cuộc nhậu mọi chuyện đều có thể”. Trong cõi thế đa đoan này, ai biết trước những gì sẽ xảy ra, ai lường được sau những vẻ nhân từ lại là điều dối trá. Ngay cả chính thân ta, ai biết lúc nào ta sẽ mất đi khả năng hướng thiện? Con đường “bước về phía thiện” vì thế đâu có đơn giản, dễ dàng: Và có thể mệt nhoài ngã gục - Trên lối mòn nhân loại rủ nhau qua. Nhưng để “học thêm một điều tử tế” không còn cách nào khác là phải nỗ lực “nhích lên từng bước”. Những câu thơ này làm ta liên tưởng đến Một ngày của Hữu Thỉnh: Thêm một lần đi trên gai - Thêm một ngày được làm người lương thiện. Không có “một ngày” làm sao có nhiều ngày, và tất nhiên, không có những bước “nhích” nhỏ nhoi kia thì làm sao có được quãng đường dài? Nỗ lực ấy cần đến lòng kiên nhẫn và lòng quả cảm. Chìm gắn với những suy tư và những cơn mơ trong thi giới Trần Quang Quý hóa ra không phải là những đám cầu vồng ngũ sắc, những giấc mơ đẫm màu huyền thoại mà là những trăn trở xót xa về thân phận con người. Những trăn trở ấy hiện ra ngay trong thi phẩm mở đầu Giấc mơ hình chiếc thớt . Tại đây, nhà thơ nhìn thấy hàng loạt những giấc mơ trái khoáy, lạ kỳ:

Cây rơm mơ ngoạm những đàn bò

Thảnh thơi nằm ở góc vườn, vàng một màu thắng cuộc

Những chú chuột mơ gặm sống bầy mèo và rửa vuốt

vinh quang…

Quả là những giấc mơ không tưởng trước một thực tế quá ư nghiệt ngã. Trong tâm thức kẻ bị thôn tính vẫn có khoảng trống cho những ước ao muốn đổi thay số phận. Oái oăm là ở chỗ cuộc sống có những “trật tự” không thể nào hoán đổi. Đó là trật tự mang khuôn mặt của bi kịch muôn đời:

Giấc mơ của bầy cá luôn ám ảnh bóng hình chiếc thớt

Những mắt lưới gài bẫy trong veo

Biển mỗi ngày mỗi sóng.

Từ cái nhìn đậm chất triết lý, nhà thơ nhận ra bi kịch muôn đời kia của các loài cũng chính là niềm bi ca của con người cất lên trong hàng loạt giới hạn thiên tạo và nhân tạo vây quanh. Triết lý trong thơ Trần Quang Quý không ngả màu tư biện, không rơi vào màu xám của những luận đề bởi đó là những triết lý ngấm đầy cảm xúc:

Ta đọc những giấc mơ trên từng mơn mởn lá

Trong thẳm sâu những đôi mắt lặng im kia

Trong cả những từng trải và khờ dại

Những trái tim yếm thế cất lên

Nguồn thi hứng trong thơ Trần Quang Quý thường được triển khai từ những miền quan hệ đối nghịch ngược chiều như thế. Anh không dừng lại ở những so sánh đơn, những luyến láy từ ngữ mà nội lực và chiều sâu ý tưởng thơ thường hiện ra trong những phát hiện đầy bất ngờ về các trạng huống đời sống khác nhau. Điều đó có thể thấy trong Cát, Cây đèn đường, Trong cuộc nhậu, Thập phân, Rác, Cám dỗ, Nhật ký ghi ở chùa, Cái tai… Đã lâu rồi tôi mới lại được cầm trên tay một tập thơ trĩu nặng cảm xúc thế sự như tập thơ này của Trần Quang Quý. Ai cũng biết, khi hướng tới những vấn đề thế sự, thơ rất dễ rơi vào khô khan và tác giả rất dễ rơi vào triết lý vặt. Trần Quang Quý đã vượt qua được cái thế chênh vênh, hóc hiểm ấy để tạo nên sự cộng hưởng cảm xúc từ phía người đọc. Anh biết tạo ra sự “bùng nổ” trong thơ trên cơ sở xác lập các chuỗi tương quan: Trong những ánh mắt người nông dân- Tôi thấy từng vết rạn cánh đồng tháng chạp- Lấm tấm chân cua bò ngang số phận- Cọng rơm ngày không thóc (Mắt thẳm), Bóng tối tự do đi rỗng dưới trời- Tức tưởi những bờ tre rụng tóc- Thương đất, một trái cây chín vội- Rụng bàng hoàng vườn khuya! (Đêm ở làng)… Ngay cả trong những nụ hôn mềm dại, thiên đường, nhà thơ vẫn nhìn ra vị đắng. Đó là vị đắng làm ta lớn hơn, trừng trải hơn. Có lẽ tác giả đã tỉnh táo quá chăng? Có lẽ giấc mơ đã biến mất để nhường chỗ cho sự lạnh lùng của lý tính? Không hẳn thế. Trong Giấc mơ… của Trần Quang Quý rất nhiều chất lửa yêu đương hiện về “hây hẩy” nồng nàn: Ta rót mắt em đầy Huế- Em một ngày rót Huế say ta; Em của điệu xòe- Hoa văn hổn hển- Hoang vu em bừng bừng bản Thái- Buộc ta vào lúng liếng Mai Châu... Tại đây ta nhận ra một “bí mật” trong cơ chế sáng tạo thi ca của Trần Quang Quý: anh muốn tạo những ngụ ngôn về đời sống và xây dựng những triết lý nhân sinh trên nền những xúc cảm sâu sắc đến độ kết lắng thành những suy tư. Đó là lý do khi chạm vào thơ Trần Quang Quý, người đọc không bị cuốn vào những luồng điện mê say mà phải biết mở rộng các chiều liên tưởng để nhận ra sự phong phú của tiếng thơ này. Màu sắc trí tuệ và việc tỉnh lược các quan hệ từ, việc giấu bớt các vế được so sánh trong thơ Trần quang Quý đòi hỏi người đọc phải bắt kịp với những cách tân trong thơ hiện đại.

Nhưng kẻ đã quen dấu thị thành kia không chỉ day dứt về thế sự mà luôn đau đáu một nỗi nhớ thương: Thăm thẳm sau lưng một nỗi làng. Cái cuống nhau văn hóa làng quê đã bám chặt vào đứa con của phiêu bạt trở về: Tôi ngủ lẫn tiếng ve lép dần mùa hạ- Mồ hôi làng trằn trọc chảy sang tôi. Tôi hiểu, Trần Quang Quý không hiện đại thơ mình bằng những nổi loạn “vị lai” mà anh biết hướng về văn hóa truyền thống như hướng về vùng “dưỡng chất” của thơ ca. Và chính anh, đúng như lời nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo nhận xét, lại biết “mang hơi thở hiện đại trở về làm mới những câu chuyện cổ tích chốn đồng quê…”. Cuộc trò chuyện với mảnh đất trung du của Trần Quang Quý vì thế vừa đằm sâu vừa mới lạ. Hình ảnh của quê hương gắn liền với hình ảnh nhân hậu của bà, niềm âu lo của mẹ, mùi hương còn vương hơi bùn đất của tình đầu vụng dại và cả cảnh bê tông đang lấn dần ngõ quê như một niềm nhức nhối... Phải gắn bó với làng quê sâu sắc đến nhường nào Trần Quang Quý mới cảm thấy hết chiều sâu của quê hương qua bao mùa khốn khó: Làng cất nhọc nhằn vào bóng tối- Đất cất làng về thuở nghìn năm. Thơ ca Việt Nam có nhiều câu thơ hay về làng quê nhưng tôi tin có một thế giới quê của riêng Trần Quang Quý. Trong sâu thẳm cảm hứng “nhớ nguồn” anh đã tạo được nhiều câu thơ da diết và ám ảnh: Bàn chân tê thấp, bà vẫn lên chùa - Nắm oản dìu giấc mơ qua bể khổ - Và cổ tích đêm đem lại thì thầm ổ rạ - Có một chân trời mọc sau những cơn ho (Bà); Tôi ngược về thương cũ áo tơi - Chum vại tháng ba nằm rỗng - Quả cà muối dón qua rào hàng xóm - Bát trăng đong ngấn mắt đêm rằm (Nhớ nguồn)…

Là người có ý thức đổi mới tư duy nghệ thuật, Trần Quang Quý không tổ chức cấu trúc thơ theo những mô hình quen thuộc, không dùng lại hình ảnh bờ tre, mái rạ, gốc đa, giếng nước một cách dễ dãi mà anh biết vượt qua những “xác chữ” để tạo nên những kết hợp ngôn từ mới: Sân trăng rúc rích dần sàng (Bà), Chợt một ngày dựng búp- Chợt một ngày lửa xanh (Những chiếc lá ngụ ngôn), Hoa xoan chợt hoang vu chiều nhớ - Tóc ai về gợi gió bờ đê (Nhớ nguồn), Ta uống mùa thu men trời thả- Ta nhấp vàng cây gương lá say (Phố thu)… Đây là những câu thơ có khả năng lay thức cảm xúc thẩm mỹ của người đọc kể cả những người đọc khó tính nhất. Tôi nghĩ, trong quá trình đổi mới thơ ca, để thuyết phục được nhiều người yêu thơ như Trần Quang Quý đã làm không phải là chuyện dễ dàng. Rất may, anh đã đáp ứng được những yêu cầu khắt khe ấy của đời sống tiếp nhận văn chương trong thời buổi kinh tế thị trường bằng nhiều câu thơ đa nghĩa, giàu sức gợi.

Giấc mơ hình chiếc thớt có khá nhiều bài thơ nói về rượu. Rượu khiến ta say nhưng cũng có khi làm ta tỉnh. Rượu khiến ta nhớ nhưng cũng giúp ta quên. Có thứ rượu bạn bè, có thứ rượu đãi bôi. Có cả rượu đưa ta vào “bờ mê bến lú”: Em hây hẩy núi đồi- Ngựa chùng chân quỳ gối- Lam khói lên. Lam khói biếc ta rồi. Đó là những thứ lửa mang hình hài của nước, là nhân tố neo giữ nhà thơ trong chuếnh choáng say mê. Nhưng trong cảm nhận của riêng tôi, trong chùm “rượu thơ” khá đa dạng của Trần Quang Quý, hai câu thơ khép lại Với sông Đà có lẽ là hai câu thơ giàu ma lực hơn cả:

Nào rượu! Nào rượu! Ta với sông Đà

Nâng một chén nghìn sau còn chảy.

Toát lên từ những câu thơ này là sự mạnh mẽ của nhịp điệu, sự phóng khoáng của cảm xúc và sự hào hùng của thi tứ. Nó mang mang phong khí của tiên tửu tiên thi Lý Bạch. Trên cái nền triết lý và niềm trắc ẩn chảy suốt cõi mơ thơ, cái hùng tráng của những câu thơ kiểu này khiến cho nguồn mạch thơ Trần Quang Quý trở nên đa dạng, phong phú sắc màu.

Hẳn đã vài lần, thậm chí nhiều lần Trần Quang Quý băn khoăn, lo lắng:

Đâu chiếc lưỡi của tôi, có lẫn vào ảo ảnh

Trong cơn mơ, có lạc giọng mình?

Quả là một giấc mơ “nghiêm trọng” bởi nó liên quan đến một trong những vấn đề cốt yếu nhất trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật: vấn đề giọng điệu. Đơn giản, một khi nhà thơ không tạo được giọng điệu riêng, một khi giọng nói của anh ta lẫn/lạc vào giọng nói của người khác thì toàn bộ nỗ lực của nhà thơ đồng nghĩa với công việc của dã tràng trên cánh đồng chữ mênh mông. Với Giấc mơ hình chiếc thớt, Trần Quang Quý thực là một nhà thơ có giọng. Muốn có giọng, không còn con đường nào khác, thơ họ phải hay. Cái đó thì Trần Quang Quý đã có. Vâng, anh đã có khá nhiều trong thơ!

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0