Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Ước thơ Tây Nguyên như dã quỳ trong gió

0 trả lời, 15 lượt xem — Trang 1 / 1
Ước thơ Tây Nguyên như dã quỳ trong gió

Văn Công Hùng

Ngày nay, những dậu mùng tơi, những bến sông bờ bãi con đò, những cánh cò lũy tre, những cỏ may trăng sáng, những cánh buồm tiếng dế… đang nhường chỗ cho một đời sống hiện đại, thực dụng, một đời sống văn minh không thể khác nhưng lại là những thách thức của thi ca trong hành trình đi tới. Song bản chất của thi ca là vẫn thế. Trái tim con người vẫn thế. Cảm xúc của con người vẫn phải thế, dẫu đã phải có những điều chỉnh.

ở Tây Nguyên, thi ca cũng đang mang trong mình những trọng trách nặng nề và những thách thức không nhỏ.

Trọng trách của thi ca, ấy là việc đánh thức nhân cách của con người, lay động những phần tâm can bí ẩn nhất, mỏng manh nhất để hướng con người tới cái thiện cái đẹp, tới cõi cảm xúc vô biên mà thăng hoa một cách thánh thiện và nhân bản. Là việc thanh lọc, tẩy rửa tâm hồn con người, giữ nó lại ở phía trong trẻo nhất, run rẩy nhất để mà nuôi dưỡng cảm xúc, nuôi dưỡng tình yêu, niềm tin vào con người và thế giới do con người sáng tạo ra. Trọng trách còn là việc vẽ lại khuôn mặt thời đại mình, dân tộc mình để lưu lại cho hậu thế.

Thách thức, ấy chính là sự can thiệp một cách mạnh mẽ của đời sống vật chất, đời sống kỹ trị, của văn minh vào không chỉ thi ca, mà cả văn hoá. Tất nhiên, văn hoá cũng như thi ca, là một dòng chảy. Dù có lên thác xuống ghềnh thì vẫn không bao giờ đứt đoạn để cuối cùng hướng ra biển lớn. Thách thức ấy còn là nuôi giữ và đánh thức tình yêu thi ca trong tâm hồn mỗi người giữa thế giới tiện nghi và mốt, giữa phố phường đô hội với tốc độ và những vòng quay chóng mặt…

Phần lớn các nhà thơ đang sinh sống và lao động sáng tạo ở Tây Nguyên là người sinh ra ở đồng bằng, mang dấu ấn của văn hoá đồng bằng, văn hoá lúa nước. Lên sống ở Tây Nguyên, họ tiếp nhận một nền văn hoá nữa, ấy là văn hoá núi, văn hoá nương rẫy. Và thơ họ là sự hoà trộn hai nền văn hoá ấy. Vậy sự hoà trộn ấy là gì? Sự khu biệt giữa thơ của các nhà thơ sống ở Tây Nguyên với các nhà thơ ở đồng bằng là gì? Hiện tại Tây Nguyên đã có một đội ngũ những người làm thơ tương đối đông đảo như Hương Đình, Phạm Đức Long, Nguyễn Thiện Đức, Quốc Thành, Nguyễn Quảng Hà, Nguyễn Thị Bích Phụng, Hoàng Thanh Hương, Ngọc Cảnh, Ngô Thị Thanh Vân, Nguyễn Thanh Vân… (Gia Lai), Tạ Văn Sĩ, Hữu Kim, Vũ Hùng, Từ Dạ Linh… (Kon Tum), Phạm Doanh, Lê Vĩnh Tài, Văn Thảnh, Hoàng Thiên Nga, Tôn Nữ Ngọc Hoa, Nguyễn Thị Thái, Trần Văn Hội, Văn Thanh, Nguyễn Phi Trinh, Lê Tiến Dị… (Đắc Lắc), Phạm Quốc Ca, Phạm Vũ, Uông Thái Biểu, Lê Văn Hiếu, Nguyễn Tấn On, Nguyễn Thánh Ngã, Trần Ngọc Trác, Nguyễn Thanh Đạm… (Lâm Đồng), nhưng để trở thành từng nhà thơ riêng biệt, đọc không thể lẫn, xưng tên lên là biết ngay… thì đếm chưa hết bàn tay. Số nhà thơ là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam cho cả 5 tỉnh Tây Nguyên hiện nay là tròn 5 người gồm có các nhà thơ Phạm Quốc Ca, Phạm Doanh, Văn Công Hùng, Tạ Văn Sĩ và Huỳnh Trung Hiếu. Sự thành công của từng nhà thơ, theo tôi nó được quy định không chỉ bởi tài năng, tâm huyết mà cả ở hướng đi của từng tác giả trong việc chọn vùng sáng tác cho mình. Mỗi người có một khu vườn thâm canh, trước khi anh có ý định khai phá vùng đất mới, một điều tất nhiên của nhà thơ, có lẽ cần nhào nặn đến kiệt cùng khu vườn của mình trước đã. Công việc hiểu vùng đất mình đang sống một cách cặn kẽ là vô cùng cần thiết và quan trọng với người cầm bút. Có cảm giác hiện nay chúng ta đang tách rời đời sống thi ca với hiện thực đời sống. Nhà thơ khai thác triệt để tâm trạng cá nhân mà chưa chú trọng tâm lý cộng đồng. Tất nhiên tâm trạng cá nhân của nhà thơ là vô cùng cần thiết, song tâm lý cộng đồng cũng rất quan trọng. Bởi nhà thơ là một cá nhân trong cộng đồng ấy. Làm sao để hai yếu tố này hoà quyện với nhau một cách nhuần nhuyễn tự nhiên chính là cách thể hiện tài năng của nhà thơ. Mà hiện thực đời sống Tây Nguyên vô cùng rộng lớn và thẳm sâu. Phía sau màu vàng lộng lẫy mê hồn của từng thảm quỳ vàng rực là chất đắng đến tê người. Bên trong sự thô mộc của đời sống vật chất Tây Nguyên là một đời sống tinh thần phong phú và những tầng văn hoá đậm đặc. Vừa qua, ngành văn hoá Gia Lai mới công bố kết quả khảo cổ ở di chỉ Ta Pei, Chư Sê. Phía dưới vườn cà phê hôm nay là cả một thế giới đời sống của con người đã tồn tại cách đây 3, 5 đến 4 nghìn năm. Tôi thấy thơ gần giống với sự đánh thức ấy. Những sự đánh thức kiên trì bằng tài năng và nhân cách, trách nhiệm công dân và cả hứng khởi cá nhân của người cầm bút.

Một yếu tố nữa là ngôn ngữ và cách thể hiện. Rõ ràng đã qua cái thời dùng ngôn ngữ ngô nghê để gọi tên sự vật và gọi đấy là… Tây Nguyên. Cũng như vậy là cái nhìn, cách thể hiện cảm xúc trước hiện thực. Điều này thì chả ai khuyên ai được. Nó thấm vào máu, vào tình yêu và cả sự hiểu biết của người làm thơ đối với mảnh đất họ đang sống. Nó bật ra, trào ra như nó phải thế, không thể uốn éo, gọt giũa. Tôi biết, hầu như khắp nước ta, nơi nào cũng có hoa quỳ dại, loại hoa mà tôi thích gọi là dã quỳ, còn nhân dân thường gọi cúc quỳ. Nhưng lạ thế, cứ nhắc đến cúc quỳ là người ta liên tưởng ngay đến Tây Nguyên. Và hình như các nhà thơ Tây Nguyên cũng hay nhắc đến cúc quỳ hơn. Cúc quỳ trở thành một biểu trưng của cái đẹp Tây Nguyên. ấy là vẻ đẹp dịu dàng mà cứng cáp. Vượt qua khắc nghiệt, càng khắc nghiệt càng tươi. Càng nắng, càng gió, hoa quỳ càng phô bày hết vẻ đẹp hoang dã kiều diễm của mình. Từng thảm, từng thảm, lớp lớp gối nhau trong chiều cao nguyên chạy đến ngút tầm mắt. Cứ tưởng tượng một ngày nào đó, đi dọc đường 14 mà lại không gặp cái màu đỏ mỡ màng đến nhức mắt của đất đỏ ba zan tiệp với màu vàng đam mê của dã quỳ thì Tây Nguyên sẽ ra sao trong tâm tưởng chúng ta nhỉ? Mà dã quỳ thật lạ, cứ dân dã thế, mộc mạc thế, cứ hoang dại thế, lắt lay thế mới đẹp, chứ lại ngắt ra, cắm vào lọ như hoa hồng là hỏng, hỏng một cách không thể xót thương. Nhà thơ Đỗ Bạch Mai, Trưởng ban Văn Nghệ Trẻ của báo Văn nghệ, bao giờ có dịp vào Tây Nguyên chị cũng cố tìm bằng được hoa dã quỳ. Vừa rồi vào đúng mùa mưa, chị cứ thẫn thờ như mất một cái gì? Của đáng tội, mùa mưa lácđác cũng có hoa quỳ, nhưng mà nó thảm hại lắm, mặc dù nó không thối, không rữa như các loài hoa khác, nhưng nó không lộng lẫy, kiêu sa, không tươi tắn hồn nhiên như mùa khô. Một nhà thơ trẻ ở Gia Lai, anh Phạm Đức Long, lấy hẳn tên tập thơ thứ 2 của mình là “Hoa Quỳ”, dù bạn bè nhiều người can, sợ hoa quỳ nó khu biệt quá, người nơi khác không hiểu! Một nhà thơ nữ ở Nam Bộ khẩn nài tôi ép cho một cách quỳ trong phong bì để con gái chị được tận mắt trông thấy và tả trong bài tập làm văn của mình… Gió cao nguyên như những đàn ngựa hoang lồng lộn giữa thảo nguyên, chúng tuyên chiến với tất cả những gì gặp trên đường, thế mà lạ, với hoa quỳ, chúng lại tôn nhau lên, làm nên một đặc trưng Tây Nguyên, khiến bất cứ ai đã đến, dẫu chỉ một lần đều không thể quên. Nó như cây bần cây đước phương nam, hoang dại thế, nhỏ nhoi thế nhưng lại gắn bó biết bao với những người mở đất, chính chúng cùng người lấn từng xăng ti mét đất ra biển, bằng chính những chiếc rễ mỏng manh mà can đảm của mình, mở mang thêm bờ cõi bằng ý chí và nghị lực. Ngày xưa, trên vùng cao nguyên mênh mông mà bây giờ là bạt ngàn cà phê, cao su, chè… trước mắt chúng ta kia cũng là dã quỳ. Có sự liên tưởng nào đó ở quỳ và đước, ở sự nhỏ nhoi vô danh, ở sự hy sinh thầm lặng, hoàn thành xứ mệnh mở đất và giữ đất.

Ước thơ Tây Nguyên cũng như quỳ, ngờm ngợp trong nắng rồi ràm rạp nghiêng trong gió, để rồi lưu lại trong đời cái dáng lay lắt kiêu hãnh bất tử kia, cái màu vàng đắm say bất tận kia…

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0