Tô Thi Vân -Nhà thơ của cánh đồng trăng
Hà Nguyên Huyến
Có những chiều như thế, những buổi chiều tôi được nghe Tô Thi Vân đọc thơ ở văn phòng Hội. Ngồi bên anh tôi vẫn thầm tự hỏi: Anh đọc cho tôi hay đó chính là nỗi lòng anh… Có lẽ cả hai! Anh cứ đọc, ngoài kia, bóng tối cứ luênh loang dần trên bầu trời thành phố, con đường cao tốc băng qua cửa toà soạn chỉ còn là một vệt sáng câm lặng vùn vụt ngoài cửa kính. Tiếng đọc cứ ngân lên, vang mãi, quây tròn lấy tôi và anh, có lẽ cả hai chúng tôi đều có cảm giác được bay lên, cao mãi lên hoà vào đời sống muôn thuở của làng quê… Rồi anh bàng hoàng sực tỉnh, ngơ ngác như vừa bước ra khỏi một thế giới nào đó, một thế giới xa lắm, mà cũng gần lắm, chỉ gang tấc thôi, rộn ràng trong lồng ngực, râm ran dưới từng đường gân thớ thịt…! Tôi cũng lấy lại được cảm xúc thực của mình khi anh đẩy cửa dắt xe đạp, sấp ngửa hoà vào dòng người tấp nập ngược xuôi trên đường. Nhìn theo bóng anh nhập nhoà trong ánh đèn phố xá, tôi không sao có thể minh định được đâu là con người thi sĩ, đâu là người thợ nguội lành nghề của Nhà máy Cơ khí nông nghiệp Hà Tây, rất nhiều năm nay, anh đã từng đi lại trên những con đường của thị xã (Hà Đông) này. Bất giác tôi nhớ đến những câu thơ anh viết:
Không đất khách quê người
Quê mình mình như khách
(U diều - Vọng cố hương)
Nỗi cô đơn thấm thía chợt ào đến, một cảm giác lành lạnh bao trùm làm cho tôi thoáng rùng mình. Và, có lẽ cả anh nữa… Hôm nay gió trên đường nhiều lắm, hỡi chàng thi sĩ, chẳng biết có ai đã hỏi chàng: “Anh đang đi về đâu trong cái cõi này?”… Hoà vào từng nhịp lọc cọc bánh xe lăn như những vòng quay thiên mệnh. Tô Thi Vân tìm về cội nguồn lắng nghe và cảm nhận:
… Cố hương!
Xin bái vọng một thời son trẻ
Rêu phong rồi… hoa gạo tháng ba tươi…
(Vọng cố hương)
Tôi run rẩy trên từng dòng, từng trang thơ anh, lật giở lần tìm như lạc vào cổ tích, rồi thảng thốt giật mình bởi những gì đang mất dần theo năm tháng thời gian:
… Đâu những cột chùa làu bóng vuốt thời gian
Vòng tay trai làng ôm không xuể
Đau một thời nạn binh đao giằng xé
Khói hương mờ mắt cay
Những mái rơm chỉ vàng trong ký ức
Xóm thông tuông đêm ngỏ tuềnh toàng
(Bóng xưa)
Có ai đó nói rằng: Thi sĩ là người thư ký trung thành nhất của mọi thời đại, xin cảm ơn các nhà thơ! Chính anh (Tô Thi Vân) đã bỏ bùa tôi và có lẽ còn nhiều người khác nữa cũng có tâm trạng như vậy khi đọc thơ anh… ở đấy ta bắt gặp một đời sống, một đời sống tưởng như đã bị mai một đi trước những cơn lốc ồ ạt của một thời mở cửa. Lâu lắm rồi ta lại được sống với Tháng Mười, một Tháng Mười óng ả như mơ:
Mẹ thắt áo đai rơm ren rét quẩn bên người
Con háo hức trên vai toòng teng đôi lượm lúa.
Cha vung néo mùa bộn bề sân ngõ
Hạt mồ hôi toé trăng.
(Tháng Mười)
Làng quê trong thơ Tô Thi Vân dịu dàng thuần khiết, mượt mà như một dòng chảy mà âm thanh cứ vang mãi. Một rặng sòi, một cánh đồng thơm cốm, một vạt áo nâu, một chiếc chõng tre… Tất cả, tất cả những hình ảnh mộc mạc, đơn giản ấy mang lại cho người đọc những ám ảnh kỳ lạ. Phải chăng sự góp mặt có lựa chọn đã làm nên tiếng đồng vọng thi sĩ để người đọc phải xốn xang? Chẳng biết có phải do gần gũi anh nhiều, nhất là được đọc những vần thơ còn chưa ráo mực của anh, nên đôi khi tôi cho rằng công việc làm thơ cũng không phải là quá khó! Cứ thử xem, rất nhiều lần như vậy tôi mới nghiệm ra rằng: Chính những chất liệu rất đời sống ấy làm nên phong cách Tô Thi Vân, anh là thi sĩ của đồng quê (ít nhất là ở chỗ không lặp với những người đi trước)…
*
Tô Thi Vân (tên thật là Tạ Văn Thiệu) ở làng Tê Quả, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai (Hà Tây), đó là một làng quê bình dị như trăm nghìn làng quê khác. Tại quê nhà, ngay cả với dân làng họ cũng không thể ngờ rằng, ngay bên cạnh mình có một nhà thơ! Có lẽ không phải anh cách biệt đến mức xa lạ, mà bởi Tô Thi Vân rất… “nhà quê”. Tôi đã một đôi lần được tất bật cùng anh, ấy là những lúc mùa về khi ngày tàn nắng lụi, trên cánh đồng của vùng quê năm tấn chạy tít tắp đến tận chân trời chỉ còn lại những rơm cùng lúa… Cả làng đều phải cật lực trước khi bóng tối đang từ từ nuốt chửng cánh đồng. Chúng tôi chở rơm về, ấn tượng của những chiều ấy còn đọng lại mãi trong tôi. Không có một khuôn mặt nào, chỉ có những bó rơm ngự trên vai, trên cổ. Những bó rơm lù lù di động trên cánh đồng âm u hoàng hôn. Tôi khao khát một nét cười hồn nhiên thơ ngây trên môi của một em nhỏ, tôi mơ ước cái rạng ngời giãn bớt những nếp nhăn trên khuôn mặt những người già… Hoàn toàn không có, chỉ có những bó rơm câm lặng di động trên đồng. Tôi đi tìm khuôn mặt nhà thơ!
Sau rất nhiều lần phải ngớ người ra vì nhầm lẫn tôi mới tìm được anh, “nhà thơ” hiện dưới một… bó rơm! “Bó rơm” quát to:
- Nhanh lên, trời sắp mưa rồi!
- Để cho người ta còn phải thở nữa chứ.
Trong xùm xoà của những sợi rơm vàng óng, dưới đôi chân mày rậm đen nhánh nhíu lại, một cặp mắt ngời lên cháy bỏng… có lẽ đó là lần đầu tiên tôi hiểu anh (kể từ khi biết nhau):
Đêm ấy trăng lên.
Chúng tôi ra cánh đồng nơi buổi chiều đã làm việc, lặng lẽ ngồi bên nhau, mỗi người mải miết theo một dòng suy tưởng. Càng khuya, trăng càng sáng, trăng vuốt ve làm lành cánh đồng, cánh đồng yên ả để trăng dát vàng vào mênh mông… Cuộc sống với những lo lắng mưu sinh dường như bị đầy lùi vào dĩ vãng. Tôi mệt mỏi thiếp đi trên cánh đồng đầy trăng! Lúc tỉnh dậy có lẽ trời đã khuya lắm, không gian ba bên bốn bề im lặng quá, mà sao chỉ còn một mình tôi ở đây? Thế mà mọi người vẫn bảo Tô Thi Vân rất trọng bạn! Tôi đứng dậy đi về nhà.
Hình như có người, lại gần thì hoá ra Tô Thi Vân! Tôi vô cùng ngạc nhiên, có lẽ anh vừa tắm dưới sông lên… Nhưng ở đây làm gì có sông. Tôi định thần nhìn kỹ, thì ra Tô Thi Vân đang đứng dang rộng tay chân, trên mình không xống áo, mặt ngưỡng trời đối diện với vầng Trăng. Trăng lúc ấy sáng lắm, trăng như được lọc qua một làn sương mỏng đang dâng lên tràn ngập. Trăng đầm đìa tràn chảy thành từng dòng trên người thi sĩ. Tôi khẽ rùng mình chợt nghĩ, chẳng biết có phải vì thế mà nhà thơ đã cả đời phải thao thức! Trong hai tập thơ vừa ra mắt bạn đọc có hơn một trăm lần nhắc đến từ Trăng mà không trùng lặp cũng là đáng kể trong phép tu từ của anh… Mãi cho đến tận bây giờ, khi ngồi viết lại những dòng này, tôi cũng đành cam phận với mình cả đời không gieo nổi một câu “sáu tám” là đáng lắm, bởi chẳng bao giờ tôi có được một phút cuồng si…
*
Thơ Tô Thi Vân chan chứa một tình cảm làm xúc động lòng người, trước nhất là tình cảm với cha với mẹ. Một buổi sáng người cha hút thuốc lào, một bữa cơm mới… Những hình ảnh đó thật mộc mạc vẫn làm ta cay cay mắt.
Đã có lần nhà thơ tâm sự: Đời anh có một lần ân hận ấy là lúc anh viết bài thơ Vọng cố hương, một bài thơ nặng tâm huyết trong hành trình sáng tác của mình. Năm đó là năm 1994, vào khoảng cuối xuân đầu hè, cha anh lâm bệnh. Tô Thi Vân vẫn thường thức trắng đêm bên giường. Những lúc người cha thiếp đi, anh lại trải chiếu ra trước hè, quây ngọn đèn bằng một tờ giấy xi măng để lầm lũi đam mê thiên nghiệp. Anh đâu hay cha bước lâng châng gần đất xa trời, để rồi phải nấc lên:
Oan nghiệt quá, trăm câu hay không gì bù đắp nổi
Giữa đồng không lạnh lắm gió sương phơi
(Hương mùa thu - Thao thức những vầng trăng)
Bao trùm lên tất cả là tình yêu một nông thôn Việt Nam, một nông thôn đẹp như tranh lụa mà anh đã chấm phá những nét thuỷ mặc, rất tươi tắn trong khắp cả hai tập thơ vừa xuất bản. Phải chăng đó chính là chỗ thi sĩ đồng cảm được với người nông dân chăm chỉ hiền lành. Những người đã làm nên huyền tích trong hai cuộc kháng chiến vừa qua mà không bao giờ đòi hỏi cho cá nhân mình, Tô Thi Vân viết:
Hừng hực một thời súng nổ
Bức bối đêm đêm trống mõ
Tàn cuộc rồi… lại cái cuốc, con trâu
Người của thời chỉ mặc áo nâu
(Hương mùa thu)
Năm 1995 Tô Thi Vân được giải thưởng cuộc thi thơ của Tuần báo Văn nghệ với bài Chiều bên mẹ. Dĩ nhiên giải thưởng không thể phản ánh được tất cả. Song ở một mặt nào đó nó cũng là kết quả của một giai đoạn sáng tác mà anh đã rất nhiều năm âm thầm làm việc. Năm 1996 Tô Thi Vân về làm việc tại Văn phòng Hội Văn học Nghệ thuật Hà Tây (Biên tập Thơ cho Tạp chí Tản Viên Sơn). Từ đó đến nay anh được rất nhiều giải thưởng. Giải thưởng cuộc thi thơ của Tạp chí sáng tác Tản Viên Sơn (1996), hai lần được giải thưởng văn học Nguyễn Trãi (lần I và II) của cả hai tập thơ đã xuất bản. Đặc biệt tập thơ Thao thức những vầng trăng được tặng giải A của Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 2000.
Đọc hai tập thơ của Tô Thi Vân ta ghi nhận một cây bút viết về nông thôn với những cảm nhận rất tinh tế, những hình ảnh, ngôn ngữ mang tính truyền thống được tái hiện sinh động. Đó là một nông thôn nề nếp, phong tục, thanh bình… Tôi thích Vọng cố hương hơn chính là vì lẽ đó! So với Vọng cố hương, Thao thức những vầng trăng kỹ hơn, mềm hơn…
Anh là người hạnh phúc, bởi hạnh phúc có khi đơn giản chỉ là được làm theo điều mà mình yêu thích, say mê, cho dù có phải chấp nhận mọi thử thách. Chúng ta tin rằng anh sẽ vượt qua như đã từng vượt qua:
… Nhưng không thể? Cái con quay không thể…
Đêm ba mươi xoay khít vung trời
Kênh Càn phương, này trăng ta gọi
Những mồng mồng nhu nhú nõn nà tươi
(Với trăng)
Hà Nguyên Huyến
Có những chiều như thế, những buổi chiều tôi được nghe Tô Thi Vân đọc thơ ở văn phòng Hội. Ngồi bên anh tôi vẫn thầm tự hỏi: Anh đọc cho tôi hay đó chính là nỗi lòng anh… Có lẽ cả hai! Anh cứ đọc, ngoài kia, bóng tối cứ luênh loang dần trên bầu trời thành phố, con đường cao tốc băng qua cửa toà soạn chỉ còn là một vệt sáng câm lặng vùn vụt ngoài cửa kính. Tiếng đọc cứ ngân lên, vang mãi, quây tròn lấy tôi và anh, có lẽ cả hai chúng tôi đều có cảm giác được bay lên, cao mãi lên hoà vào đời sống muôn thuở của làng quê… Rồi anh bàng hoàng sực tỉnh, ngơ ngác như vừa bước ra khỏi một thế giới nào đó, một thế giới xa lắm, mà cũng gần lắm, chỉ gang tấc thôi, rộn ràng trong lồng ngực, râm ran dưới từng đường gân thớ thịt…! Tôi cũng lấy lại được cảm xúc thực của mình khi anh đẩy cửa dắt xe đạp, sấp ngửa hoà vào dòng người tấp nập ngược xuôi trên đường. Nhìn theo bóng anh nhập nhoà trong ánh đèn phố xá, tôi không sao có thể minh định được đâu là con người thi sĩ, đâu là người thợ nguội lành nghề của Nhà máy Cơ khí nông nghiệp Hà Tây, rất nhiều năm nay, anh đã từng đi lại trên những con đường của thị xã (Hà Đông) này. Bất giác tôi nhớ đến những câu thơ anh viết:
Không đất khách quê người
Quê mình mình như khách
(U diều - Vọng cố hương)
Nỗi cô đơn thấm thía chợt ào đến, một cảm giác lành lạnh bao trùm làm cho tôi thoáng rùng mình. Và, có lẽ cả anh nữa… Hôm nay gió trên đường nhiều lắm, hỡi chàng thi sĩ, chẳng biết có ai đã hỏi chàng: “Anh đang đi về đâu trong cái cõi này?”… Hoà vào từng nhịp lọc cọc bánh xe lăn như những vòng quay thiên mệnh. Tô Thi Vân tìm về cội nguồn lắng nghe và cảm nhận:
… Cố hương!
Xin bái vọng một thời son trẻ
Rêu phong rồi… hoa gạo tháng ba tươi…
(Vọng cố hương)
Tôi run rẩy trên từng dòng, từng trang thơ anh, lật giở lần tìm như lạc vào cổ tích, rồi thảng thốt giật mình bởi những gì đang mất dần theo năm tháng thời gian:
… Đâu những cột chùa làu bóng vuốt thời gian
Vòng tay trai làng ôm không xuể
Đau một thời nạn binh đao giằng xé
Khói hương mờ mắt cay
Những mái rơm chỉ vàng trong ký ức
Xóm thông tuông đêm ngỏ tuềnh toàng
(Bóng xưa)
Có ai đó nói rằng: Thi sĩ là người thư ký trung thành nhất của mọi thời đại, xin cảm ơn các nhà thơ! Chính anh (Tô Thi Vân) đã bỏ bùa tôi và có lẽ còn nhiều người khác nữa cũng có tâm trạng như vậy khi đọc thơ anh… ở đấy ta bắt gặp một đời sống, một đời sống tưởng như đã bị mai một đi trước những cơn lốc ồ ạt của một thời mở cửa. Lâu lắm rồi ta lại được sống với Tháng Mười, một Tháng Mười óng ả như mơ:
Mẹ thắt áo đai rơm ren rét quẩn bên người
Con háo hức trên vai toòng teng đôi lượm lúa.
Cha vung néo mùa bộn bề sân ngõ
Hạt mồ hôi toé trăng.
(Tháng Mười)
Làng quê trong thơ Tô Thi Vân dịu dàng thuần khiết, mượt mà như một dòng chảy mà âm thanh cứ vang mãi. Một rặng sòi, một cánh đồng thơm cốm, một vạt áo nâu, một chiếc chõng tre… Tất cả, tất cả những hình ảnh mộc mạc, đơn giản ấy mang lại cho người đọc những ám ảnh kỳ lạ. Phải chăng sự góp mặt có lựa chọn đã làm nên tiếng đồng vọng thi sĩ để người đọc phải xốn xang? Chẳng biết có phải do gần gũi anh nhiều, nhất là được đọc những vần thơ còn chưa ráo mực của anh, nên đôi khi tôi cho rằng công việc làm thơ cũng không phải là quá khó! Cứ thử xem, rất nhiều lần như vậy tôi mới nghiệm ra rằng: Chính những chất liệu rất đời sống ấy làm nên phong cách Tô Thi Vân, anh là thi sĩ của đồng quê (ít nhất là ở chỗ không lặp với những người đi trước)…
*
Tô Thi Vân (tên thật là Tạ Văn Thiệu) ở làng Tê Quả, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai (Hà Tây), đó là một làng quê bình dị như trăm nghìn làng quê khác. Tại quê nhà, ngay cả với dân làng họ cũng không thể ngờ rằng, ngay bên cạnh mình có một nhà thơ! Có lẽ không phải anh cách biệt đến mức xa lạ, mà bởi Tô Thi Vân rất… “nhà quê”. Tôi đã một đôi lần được tất bật cùng anh, ấy là những lúc mùa về khi ngày tàn nắng lụi, trên cánh đồng của vùng quê năm tấn chạy tít tắp đến tận chân trời chỉ còn lại những rơm cùng lúa… Cả làng đều phải cật lực trước khi bóng tối đang từ từ nuốt chửng cánh đồng. Chúng tôi chở rơm về, ấn tượng của những chiều ấy còn đọng lại mãi trong tôi. Không có một khuôn mặt nào, chỉ có những bó rơm ngự trên vai, trên cổ. Những bó rơm lù lù di động trên cánh đồng âm u hoàng hôn. Tôi khao khát một nét cười hồn nhiên thơ ngây trên môi của một em nhỏ, tôi mơ ước cái rạng ngời giãn bớt những nếp nhăn trên khuôn mặt những người già… Hoàn toàn không có, chỉ có những bó rơm câm lặng di động trên đồng. Tôi đi tìm khuôn mặt nhà thơ!
Sau rất nhiều lần phải ngớ người ra vì nhầm lẫn tôi mới tìm được anh, “nhà thơ” hiện dưới một… bó rơm! “Bó rơm” quát to:
- Nhanh lên, trời sắp mưa rồi!
- Để cho người ta còn phải thở nữa chứ.
Trong xùm xoà của những sợi rơm vàng óng, dưới đôi chân mày rậm đen nhánh nhíu lại, một cặp mắt ngời lên cháy bỏng… có lẽ đó là lần đầu tiên tôi hiểu anh (kể từ khi biết nhau):
Đêm ấy trăng lên.
Chúng tôi ra cánh đồng nơi buổi chiều đã làm việc, lặng lẽ ngồi bên nhau, mỗi người mải miết theo một dòng suy tưởng. Càng khuya, trăng càng sáng, trăng vuốt ve làm lành cánh đồng, cánh đồng yên ả để trăng dát vàng vào mênh mông… Cuộc sống với những lo lắng mưu sinh dường như bị đầy lùi vào dĩ vãng. Tôi mệt mỏi thiếp đi trên cánh đồng đầy trăng! Lúc tỉnh dậy có lẽ trời đã khuya lắm, không gian ba bên bốn bề im lặng quá, mà sao chỉ còn một mình tôi ở đây? Thế mà mọi người vẫn bảo Tô Thi Vân rất trọng bạn! Tôi đứng dậy đi về nhà.
Hình như có người, lại gần thì hoá ra Tô Thi Vân! Tôi vô cùng ngạc nhiên, có lẽ anh vừa tắm dưới sông lên… Nhưng ở đây làm gì có sông. Tôi định thần nhìn kỹ, thì ra Tô Thi Vân đang đứng dang rộng tay chân, trên mình không xống áo, mặt ngưỡng trời đối diện với vầng Trăng. Trăng lúc ấy sáng lắm, trăng như được lọc qua một làn sương mỏng đang dâng lên tràn ngập. Trăng đầm đìa tràn chảy thành từng dòng trên người thi sĩ. Tôi khẽ rùng mình chợt nghĩ, chẳng biết có phải vì thế mà nhà thơ đã cả đời phải thao thức! Trong hai tập thơ vừa ra mắt bạn đọc có hơn một trăm lần nhắc đến từ Trăng mà không trùng lặp cũng là đáng kể trong phép tu từ của anh… Mãi cho đến tận bây giờ, khi ngồi viết lại những dòng này, tôi cũng đành cam phận với mình cả đời không gieo nổi một câu “sáu tám” là đáng lắm, bởi chẳng bao giờ tôi có được một phút cuồng si…
*
Thơ Tô Thi Vân chan chứa một tình cảm làm xúc động lòng người, trước nhất là tình cảm với cha với mẹ. Một buổi sáng người cha hút thuốc lào, một bữa cơm mới… Những hình ảnh đó thật mộc mạc vẫn làm ta cay cay mắt.
Đã có lần nhà thơ tâm sự: Đời anh có một lần ân hận ấy là lúc anh viết bài thơ Vọng cố hương, một bài thơ nặng tâm huyết trong hành trình sáng tác của mình. Năm đó là năm 1994, vào khoảng cuối xuân đầu hè, cha anh lâm bệnh. Tô Thi Vân vẫn thường thức trắng đêm bên giường. Những lúc người cha thiếp đi, anh lại trải chiếu ra trước hè, quây ngọn đèn bằng một tờ giấy xi măng để lầm lũi đam mê thiên nghiệp. Anh đâu hay cha bước lâng châng gần đất xa trời, để rồi phải nấc lên:
Oan nghiệt quá, trăm câu hay không gì bù đắp nổi
Giữa đồng không lạnh lắm gió sương phơi
(Hương mùa thu - Thao thức những vầng trăng)
Bao trùm lên tất cả là tình yêu một nông thôn Việt Nam, một nông thôn đẹp như tranh lụa mà anh đã chấm phá những nét thuỷ mặc, rất tươi tắn trong khắp cả hai tập thơ vừa xuất bản. Phải chăng đó chính là chỗ thi sĩ đồng cảm được với người nông dân chăm chỉ hiền lành. Những người đã làm nên huyền tích trong hai cuộc kháng chiến vừa qua mà không bao giờ đòi hỏi cho cá nhân mình, Tô Thi Vân viết:
Hừng hực một thời súng nổ
Bức bối đêm đêm trống mõ
Tàn cuộc rồi… lại cái cuốc, con trâu
Người của thời chỉ mặc áo nâu
(Hương mùa thu)
Năm 1995 Tô Thi Vân được giải thưởng cuộc thi thơ của Tuần báo Văn nghệ với bài Chiều bên mẹ. Dĩ nhiên giải thưởng không thể phản ánh được tất cả. Song ở một mặt nào đó nó cũng là kết quả của một giai đoạn sáng tác mà anh đã rất nhiều năm âm thầm làm việc. Năm 1996 Tô Thi Vân về làm việc tại Văn phòng Hội Văn học Nghệ thuật Hà Tây (Biên tập Thơ cho Tạp chí Tản Viên Sơn). Từ đó đến nay anh được rất nhiều giải thưởng. Giải thưởng cuộc thi thơ của Tạp chí sáng tác Tản Viên Sơn (1996), hai lần được giải thưởng văn học Nguyễn Trãi (lần I và II) của cả hai tập thơ đã xuất bản. Đặc biệt tập thơ Thao thức những vầng trăng được tặng giải A của Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 2000.
Đọc hai tập thơ của Tô Thi Vân ta ghi nhận một cây bút viết về nông thôn với những cảm nhận rất tinh tế, những hình ảnh, ngôn ngữ mang tính truyền thống được tái hiện sinh động. Đó là một nông thôn nề nếp, phong tục, thanh bình… Tôi thích Vọng cố hương hơn chính là vì lẽ đó! So với Vọng cố hương, Thao thức những vầng trăng kỹ hơn, mềm hơn…
Anh là người hạnh phúc, bởi hạnh phúc có khi đơn giản chỉ là được làm theo điều mà mình yêu thích, say mê, cho dù có phải chấp nhận mọi thử thách. Chúng ta tin rằng anh sẽ vượt qua như đã từng vượt qua:
… Nhưng không thể? Cái con quay không thể…
Đêm ba mươi xoay khít vung trời
Kênh Càn phương, này trăng ta gọi
Những mồng mồng nhu nhú nõn nà tươi
(Với trăng)
Love mickey,