Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Đọc “Mâm ngũ quả” trên sông Hương, nghĩ về việc không ngừng đổi mới thơ

0 trả lời, 17 lượt xem — Trang 1 / 1
Đọc “Mâm ngũ quả” trên sông Hương, nghĩ về việc không ngừng đổi mới thơ

Vĩnh Nguyên

Đổi mới thơ là cả quá trình tư duy cực nhọc.

Vào năm 1940 ba nhà thơ Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh cụng đầu vào nhau như ba chân kiềng đàm đạo “suốt ngày dài lại đêm thâu” mới nẫy lên cái cây “Xuân Thu Nhã Tập”. Kế đó, Nguyễn Lương Ngọc (nhà văn) Nguyễn Đỗ Cung (hoạ sĩ) Nguyễn Xuân Khoát (nhạc sĩ) là thành bộ sáu và tạp chí Xuân Thu Nhã Tập ra đời (1942).

Lạ thay, Xuân Thu Nhã Tập chỉ xuất hiện một lần với một chùm thơ.

ấy vậy mà dư luận rộ lên tiếng khen tiếng chê hai phía đối kháng. Người thì cho là viết thành tâm nghệ thuật. Người thì nói thơ bế tắc cá nhân chủ nghĩa. Cho đến những năm 60, 70 và cả 80 của thế kỷ hai mươi, trong nhiều trường học, các thầy giáo cô giáo dạy văn (tuy không giảng thành tiết học) nhưng vẫn điểm lướt qua cái tên Xuân Thu Nhã Tập và cho đây là một đời đoạn thơ khủng hoảng tắc tị khó hiểu. Khó hiểu mà 60 năm qua Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ vẫn tinh tế lay động trong lòng ta và còn mãi lay động:

Màu thời gian không xanh

Màu thời gian tím ngát

Hương thời gian không nồng

Hương thời gian thanh thanh

Và nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh thì được nhiều người nhắc nhất với câu “đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà ”. Ôi nó hay đến thế sao coi là bí hiểm tắc tị? Là bởi người bình thường thì nhìn mùa đi qua cây vườn, còn thi nhân thì có cách nhìn khác người thường - tác giả nhìn mùa ở đáy đĩa. Hoa trái thiên nhiên bày trên đó là biết mùa đi và mùa thời gian quay trở.

Trong Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh và Hoài Chân có bàn về Nguyễn Xuân Sanh: “Đọc Nguyễn Xuân Sanh trong Xuân Thu Nhã Tập đừng cố hiểu các ý tứ rạch ròi, hãy thả hồn mình theo câu thơ mà cảm nhận”. Như vậy là đã có người hướng dẫn thi tứ của họ, giải nỗi “trắc ẩn” ấy trong công chúng. Tại sao chúng ta không chịu khó đọc, chịu khó cảm nhận thơ họ mà cứ hở miệng là “bí hiểm tắc tị” như một căn bệnh lây lan truyền kiếp?

Thơ không ngừng đổi mới - đó là dòng chảy định mệnh ở mọi quốc gia, mọi thời đại. ở ta, đến nay là thế hệ thơ thứ tư như có người đã đề cập. Và đương nhiên xảy ra hai dòng thơ trẻ - thơ già. Thơ trẻ thơ già là thế nào? Nếu tính tuổi già thì tạm xếp từ 30 trở lên, trẻ từ 30 trở xuống. Nhưng nếu xếp thơ trẻ - thơ già thì khó mà rạch ròi, bởi có người rất già nhưng thơ rất trẻ, ngược lại, có người còn quá trẻ nhưng thơ thì quá già.

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo nhận định: “Sự bùng nổ thơ ca thường khởi ra từ những người trẻ tuổi” (Sông Hương số tháng 2-2003).

Trong mâm “ngũ quả” thơ trẻ sông Hương có những ai? - Đó là những gương mặt thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh, Văn Cầm Hải, Phan Huyền Thư, Lê Thị Mỹ ý và Vi Thuỳ Linh.

Nguyễn Hữu Hồng Minh viết: “Tôi đã ăn một hải cảng trong vòng ba tiếng đồng hồ ”. Mới nghe qua thì cũng là lạ. Nhưng ngẫm ra thì dễ hiểu. Dân gian thường nói: ăn hàng, ăn quà, ăn chợ. Người quê này thì ăn chợ đâu? Người phố này thì ăn chợ nào để người ta còn tính đường đất? Chữ nghĩa kiểu nhà văn Nguyễn Tuân là siêu hạng. Thời Hà Nội đánh Mỹ trên không, Nguyễn Tuân viết: “Chúng bom Hà Nội rồi!” Bom là danh từ, ở đây, bom thành động từ. Câu văn năm chữ, ngắn gọn mà hay quá. Nhưng Nguyễn Tuân cũng có nhiều câu rất dài, tít bài cũng rất dài. Thí dụ một tít bài: “ánh đèn phố phường Hà Nội ta sáng hơn bất cứ lúc nào” (13 chữ) thì đố ai dám biên tập cắt bỏ được chữ nào của ông? Bởi câu dài câu ngắn, bài dài bài ngắn là tuỳ tư duy của người viết:

Tôi đã ăn một hải cảng trong vòng ba tiếng đồng hồ.

Hải cảng đó hai mươi năm xa, bỗng quay về

Không nghĩ mình có thể ăn nhiều thế!

Bài Ăn hai cảng.

Ăn hải cảng là bởi tác giả ẩn mình thành con tàu nên có thể ăn như thế. Và đây là một cách nói mới, cách nói khác cách người khác nói.

Nhà thơ Trần Dần hồi vào Huế (5-1988) nói với tôi: “Ông chúc Bờ sông có bài thơ tựa đề 2 từ và nội dung chỉ một từ”. Và ông đọc: “Vợ chồng” - xong. Thì quả quá độc đáo. (Cho đến nay chưa thấy bài “Vợ chồng” này in ở đâu cả).

Văn Cầm Hải là một hiện tượng “cảm xúc nhảy cóc bất ngờ” (chữ của Nguyễn Trọng Tạo - Sông Hương số tháng 2-2003). Viết về bão lũ miền Trung, Văn Cầm Hải thể hiện:

... Anh đã nhận ra em con nước vỡ bờ

lũ sớm nhiều tự dưng được giải phóng lọn cỏ

cuồng lưu xanh thắm

xốc mùa đông nôn nao trên ổ rơm vàng chết đuối

bão cháy lập thể

dáng bùa yêu miền Trung phơi phới bao lần

trái đất đòi hất quê hương ra biển bè chuối

nổi khô dao vết mủ, xóm trên nhầm xóm dưới -

cuốn phăng đám cưới

... dốc đứng ngôi làng

giây bão miền Trung

đủ dày lịch sử

ai chưa qua chưa biết mùi bi tráng huống hồ

chi đòi biết em tôi.

(Bão số 5 - 20-11-1998). Bài Đỉnh em (Sông Hương số tháng 3-2003) thì quả là cơn bão lũ hung hãn đến như thế nào? Tôi tưởng như tác giả đã chìm chết đuối.

Phan Huyền Thư trong tập Nằm nghiêng là một cách làm chữ rất mới. Nhà phê bình Đào Huy Hiệp và nhà thơ Nguyễn Thuỵ Kha đều cho rằng: “Thư đã học được cách làm chữ của Trần Dần, Lê Đạt” (Phụ bản Thơ số 6 và Sông Hương số tháng 2-2003). Nếu quả vậy thì quý hoá quá! Bởi Trần Dần, Lê Đạt là hai-ông-tổ-chữ mà ai cũng khéo nhắc yêu! Nhưng học là học chữ. Còn qua thơ là sự sáng tạo của từng người. Phan Huyền Thư có lặp lại ai đâu?

Viết

buồn thành gió

lang thang cánh đồng

con trâu già ức chế luống cuối cùng

đường trách nhiệm lên mặt cày nhăn nhở...



Viết

nỗi buồn của tôi thành tình yêu của anh

tình yêu vô sinh

nỗi buồn thụ tinh ý nghĩ...

Bài Viết trong tập N.N.

Lê Thị Mỹ ý lại có cách viết khác. Cái ảo đã quá phần cái thật, cái cụ thể. Tứ thơ không chốt về cuối như nhiều người. Tứ thơ của Mỹ ý lồng vào đan cài vào từng câu thơ, khổ thơ của cả bài thơ. Như vậy người viết phải có một tư duy tổng quát của người nhạc trưởng để điều khiển cả một dàn nhạc nhiều loại nhạc cụ:

Bàn bạc giữa mông lung điều gì chưa rõ

Cát

Nắng

Và gió trời

Mỗi thời khắc trôi qua lại xây cho mình ngôi nhà mới.



Không một ai viếng thăm, những cánh cửa ngôi

nhà ấy

Những tầng mắt mở ra hư vô

Niềm nở đến không ngờ

Như chờ đón bình minh phía trước.



Chiếc bóng của tôi cũng tham gia cuộc bàn bạc

giữa mông lung

Vào một ngày nhắm mắt

Và tôi không làm sao cảm nhận được dòng sông

đất đai đang che phủ mặt mình

Lan chầm chậm mùi hương cám mít

Giữa cát - nắng - gió trời

Từ từ bật nắp

Bài Vào một ngày

Chùm thơ 3 bài đoạt giải nhì (không có giải nhất) mà Sông Hương trao cho Mỹ ý đều “bàn bạc giữa mông lung” như thế. Và bài nói của Tổng biên tập Sông Hương tổng kết cuộc thi thơ 2001 - 2003 nhận xét về chị: “Đọc thơ Mỹ ý cần sự cảm hơn là sự hiểu”. Người thơ này có tập thơ đầu tay Khi em mười chín (Nxb Thuận Hoá 1998) từng viết:

... Hãy tha thứ cho em!

Xin - anh - nhớ - muộn - phiền

Em sợ ngày mai

Em sẽ ngã vào vòng tay người khác! Dưới bài ghi: Đồng Hới 1996. Đó là bài thơ trải nỗi lòng cụ thể của người con gái “khao khát yêu thương”. Sáu năm sau (2002) đến chùm thơ được giải Sông Hương, Mỹ ý đã lao động cho thơ mình mới hoàn toàn như là một sự lột xác, cái ảo đã hàm ẩn hai mặt trong thơ chị. Và, bước đầu chị đã thành công.

Quả thứ năm là quả Vi Thuỳ Linh

Linh đã có hai tập thơ Khát và Linh. Trong tay tôi chưa có tập nào của chị. Tôi chỉ đọc được một số bài thơ lẻ in trên các báo. Nhiều bạn đọc hai tập của Linh đều tâng với tôi rằng: “Dữ dội lắm, nữ tính cao độ lắm, Vi Thuỳ Linh biểu hiện mình trần trụi cháy bỏng khát vọng...”

Thì biết bao nhà thơ biểu hiện khát vọng thẳng - thật.

Nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến day trở một nỗi đau xa cách găm vào xương tuỷ:

Như gai không dễ khêu

Như dằm không thể nhổ!

Qua khúc 2:

Phải gai đâu mà khêu

Phải dằm đâu mà nhổ!

Và khúc kết:

Với gai chưa được khêu

Với dằm chưa được nhổ!

Bài Trăn trở trong tập thơ Châm khói thì, nỗi đau vượt trên cả nỗi đau. Đọc đến đây, thú thực, đôi mắt tôi như có ai xát muối!

Vi Thuỳ Linh lại có cách nói thẳng nói thật riêng:

Nằm lại với cánh đồng theo tôi là một bài thơ khóc bạn khá hay:

... Vùng quê Hải Hậu không có “hậu” cho một kết thúc

Cuộc đời Bình không yên bình

Cú ngã đã mang bạn đi

Tôi còn

Tiếp tục sống

Tiếp tục ngã?!

Phờ phờ đường đồng phạc cỏ

Bạn nằm trong con tàu đó

5 giờ chiều phù thũng

Linh lội xuống cắm bùn ôm lấy bạn muốn

ngã vào nấm mộ nhão

Nước đồng ngầu cá quẫy

Nhà thờ cũ lao lên trời xót chói

Nhà của những người chết trước - bên tay trái

cánh đồng - khô và yên ổn

Đến khi nào bạn mới có thể giang - tay - khô

như cây thập giá?

Ba - năm - học - nói - cho - kiếp - khác

Ba - năm - dềnh - trong - nước - đồng

thì cảm kích quá lắm! Là bởi vùng đồng chiêm trũng nên nước dềnh huyệt mộ. Phải chờ ba năm sau mới có thể cát táng nên bạn cứ phải “Ba - năm - học - nói - cho - kiếp - khác”! Chưa thôi, tác giả còn kéo tiếp:

... ở phương này

Tôi mưa trước cho tôi ngày bạc mệnh

Cứ tung bốn mắt kính của chúng ta lên, cào nát

mặt trời cuồng

Đẩy ngã những kẻ - đội - lốt - người vẫn trơ trẽn sống

Bạn ơi! Bạn ơi!

Hãy thoát xác trong đường cong cánh diều

Từ cánh đồng sũng nước

Chúng mình lau bạn bằng nước mắt

Lúa con gái xanh lạc lõng

Bản thánh ca nén gió

Bùng lên!

thì nó hàm chứa vừa nỗi xót xa vừa nỗi u uất thế sự chứ đâu chỉ đơn thuần khóc cho người bạn chắc tên là Bình vừa nằm xuống!

Đó là sự sáng tạo. Nhà thơ Bằng Việt tuyên bố: “Sáng tác thơ là một thái độ sống” (Văn nghệ số 8-2004). Bởi sáng tác là nội hàm sáng tạo. Mỗi người có cách hiểu cách cảm riêng, sáng tạo riêng nên chưa thể chịu nghe nhau. Nhà thơ Đoàn Thị Kỹ yêu cầu “thơ cần sự đồng cảm” (Phụ bản Thơ số 3). Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật kêu gọi “cần một tiếng nói đồng tình” (Phụ bản Thơ số 6). Anh còn nhấn mạnh: “Chúng ta còn nhớ khi Freud xuất hiện một phần nhân loại chưa hiểu và không thừa nhận học thuyết của ông. Bởi cái “siêu tôi” (theo Freud) của con người sẽ tạo ra năng lượng sáng tạo. Sáng tạo liên quan nhiều đến vai trò của vô thức. Sau này, bằng mọi con đường độc giả Việt Nam mới nhận chân Freud”.

Bây giờ nhiều người kêu “thơ trẻ khó đọc” - Khó đọc là phải vì nó là thơ. Thơ là ý tại ngôn ngoại là đa chiều. ý tứ chữ nghĩa nội tâm sâu kín, hình tượng hình ảnh lấp lánh, nó không như văn hoá truyền hình là dễ xem dễ hiểu. Nhưng tác hại là từ những thứ dễ dễ ấy sẽ tạo nên nhờn sự suy nghĩ, nó tạo nên trung bình hoá trong nhận thức.

Lời ông cha xưa: Phải “nấu sử sôi kinh”, “đèn sách”. Nay thì: “văn hoá đọc” quả là cấp bách để giúp chúng ta kiện não mới mong đáp ứng nhiều xu thế, nhiều trường phái sáng tạo văn học nghệ thuật nói chung và thơ nói riêng, bởi thơ là cực khó.

Người viết bài này chỉ mới điểm qua một số câu thơ, đoạn thơ trong mâm “ngũ quả” thơ trẻ Sông Hương bài ở một số báo Tết trên địa bàn Huế như là khơi gợi hơn là đi sâu vào hồn thơ của họ. Bởi một phần chưa có tài liệu trong tay đã đành, nhưng nếu có đủ, chắc gì đáp ứng được phần nào trước công chúng khi mà người viết không là nhà phê bình và khi mà lớp trẻ đang kiếm tìm một hướng đi riêng, đi mới trên con đường thi ca để được nhận chân trước thời cuộc.

Mong dịp nào sẽ được nói trở lại và mong có những mâm “ngũ quả” thơ khác trên những địa bàn khác vậy.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0