Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Có một vũ trụ trong thơ

0 trả lời, 17 lượt xem — Trang 1 / 1
Có một vũ trụ trong thơ

Lê Lâm

Cho đến nay, không phải nhiều người biết Gia Ninh (ông họ Phạm, tuổi Đinh Tỵ, sinh năm 1917, vào một đêm “gà kêu, trăng mọc” trong một gia đình có truyền thống Nho học) là một nhà thơ trong phong trào Thơ mới, sau sự “ra đi” của Xuân Diệu, Mộng Huyền, Phan Khắc Khoan, ông là một trong sáu người còn lại còn sống ở Hà Nội.Thơ Gia Ninh như dòng Hương lặng lẽ, êm đềm giữa hai bờ của thời gian và soi bóng xuống là những đền đài kỳ vĩ và phong cảnh một miền quê xinh đẹp giàu truyền thống văn hóa, dù với công tác ông đã trải qua rất nhiều miền đất và cuối cùng hơn nửa thế kỷ nay lại gắn bó với thủ đô Hà Nội.

Làm thơ từ tuổi 15 mà mãi hai mươi năm sau ông mới cho in tập thơ đầu (Lớn lên - NXB Văn học, 1962), rồi phải hơn hai mươi năm sau nữa mới cho in tập thứ 2 (Thời gian gọi - NXB Tác phẩm mới, 1983), trong khi ở vào lứa tuổi ông có người đã cho ra mắt đến vài chục tập.

In ít, xuất hiện ít, lại vốn tính thận trọng, đã khiến con sóng xô bồ của thời gian dễ đưa ông vào quên lãng!

Nhưng với một người “chí cốt” với thơ như ông, ông buộc người đời phải nhớ, đấy là vào thập kỷ 90, khi ông đã trong ngoài tám chục tuổi đời; sự xuất hiện của hai tập thơ với số lượng bài khá lớn: Tuyển tập Gia Ninh (1934 - 1994), NXB Văn học, 1995 và Nhặt lại thời gian, (1936 - 1996) chọn lọc những bài thơ cuối đời (NXB Văn hóa - Thông tin, 1999, giải thưởng Hội Nhà văn năm 2000) có thể cũng được xem như một Tuyển tập, . Điều đáng nói là qua 2 tập thơ này, không chỉ ngạc nhiên vì dung lượng mà kiên nhẫn đọc hết, đọc kỹ, khiến người ta phải vẽ lại chân dung ông và xếp lại vị trí của ông trong văn đàn. Sự thẩm định của người đọc cũng được thỏa mãn, ở ông dường như trước đây, ta bị dắt dẫn đi tìm một vũ trụ thơ khác, mà một vũ trụ thơ quanh ta, dường như ta lại ít chú ý!

Thơ Gia Ninh là một thứ thơ vũ trụ - tâm linh mà xuyên qua là cuộc sống con người với thực thể hữu hạn và khát vọng vươn tới chiếm lĩnh cái vô hạn. Không gian trong thơ ông rộng rãi mà không khiến người ta rợn ngợp trong đó hoặc gây cho ta cảm giác sợ hãi vì sự kỳ bí của nó, trái lại, vũ trụ bao giờ cũng giao hòa với con người, điều mà trí tuệ con người chưa bao quát hết được, không phải do lỗi của vũ trụ mà chỉ kích thích trí tưởng tượng, khám phá của con người.

Cũng như không gian, thời gian trong thơ Gia Ninh thật không cùng, tồn tại một cách khách quan và chảy theo một chiều, không một thế lực nào, dù là một sức mạnh siêu nhiên có thể ngăn trở được.

Nhưng như vậy, không có nghĩa là con người bất lực, không làm chủ được thời gian, không gian? Gia Ninh đã trả lời câu hỏi này. Trong đề từ cho tập Nhặt lại thời gian, Gia Ninh viết khi đã vào tuổi 80, năm 1996:

... Qua hết rồi chăng?

Thời gian - không gian

Thời gian mất, không tìm lại được

Không gian tàn, biến hóa mênh mang

Thời gian trước mắt: không trôi ngược

Không gian sau đời: không sao không trăng?



- Duy bóng thời gian lưu bộ nhớ

Duy hình không gian in mắt xanh

Lan ra tiếng vọng đời muôn thuở

Tái hiện trung trùng gương tâm linh...

Mãi mãi không nhòa

mãi mãi tồn sinh!

Níu giữ được thời gian, không gian, họa chăng chỉ là tâm hồn con người, và không loại hình nào ưu thế hơn nghệ thuật!

Chẳng có gì là lạ khi bài thơ Tâm hồn vô giới của Gia Ninh, lần đầu xuất hiện trên báo Ngày nay, một tờ báo có vị trí thời bấy giờ trên lĩnh vực văn học, được công chúng nhiệt liệt tán thưởng vào năm 1938 và cũng chính là lúc ông được đón chào trong làng thơ. Bài thơ không chỉ là “giấc mơ” của chàng thi sĩ về nỗi ám ảnh của một giai nhân mà qua đó nói hộ lớp người trẻ tuổi bấy giờ; cái đẹp làm “mê mẩn” tâm hồn con người, cái làm con người vươn ra khoảng không vô hạn, thời gian vô cùng sẽ không bao giờ mất:

Anh sẽ lại và anh còn sẽ lại

Trong sương khuya đón lấy tâm hồn em

Để nhạc hòa cùng với bóng hồn Đêm

Đau thương, nhớ phá tan sầu hạ giới!

...

Anh sẽ lại và anh còn sẽ tới

Gội trên em làn sóng khói thời gian

Gội trên em huyền bí cõi đêm tan

Để hương khói bay mù trong Vô giới

Đấy là một trong mười bài thơ mà tác giả tâm đắc. Bài thơ được xếp đầu tiên trong Tuyển tập. Hơn nửa thế kỷ sau, bài Chiều xa, một kỷ niệm về Huế khó phai nhòa, cũng in đậm trong ký ức nhà thơ. Đích thực là nhà thơ của xứ Huế rồi, dù đã trải qua nửa đời người, thì những gì vào sâu tâm thức vẫn có sức sống bất diệt! Và cái chất Huế, dù có đi qua hàng trăm vùng đất thì cái nền thơ của chốn kinh kỳ, cũng không thể nào mất được, trái lại càng hiện lên rõ nét qua sương khói của thời gian:

Nhớ chiều rất xa

Nhớ chiều rất xưa

Những chiều rất Huế

Chờ nhau trong mưa



Người xưa hay xa

Anh sà xuống Huế

Mấy mươi năm lẻ

Trong lòng còn mưa

Hầu hết thơ Gia Ninh là thơ tình. Có lẽ tình yêu là nơi bộc lộ tâm hồn con người rõ rệt nhất. Cũng chỉ tình yêu mới giúp con người vượt qua cái hữu hạn của nhân sinh, mới để cho con người tìm thấy cái “bản ngã” của mình mà ông đã để lại qua gần ba chục tập thơ tình, hầu hết đều chưa in.

Thơ tình của Gia Ninh lại nghiêng về phía tâm linh. Có thể chất kỳ ảo của một thiên nhiên thơ mộng của một “cố đô” nhiều đền đài, lăng tẩm đã làm nên phẩm chất này chăng? Hay bản tính của thi sĩ đã được định hướng ngay từ khi bước vào làng thơ? Lấy tâm linh làm cứu cánh? Bởi cái thực tại bao giờ cũng có giới hạn, cái ảo mới là vô cùng. Cái ảo chắp cánh cho cái thực có điều kiện bay xa. Thơ Gia Ninh hữu hình đấy mà vô hình đấy! Cái thực tưởng dễ nắm bắt thì cái ảo đã đẩy cho xa vời cũng như hình ảnh một tiên nữ thời trẻ hiện diện mà biến hóa, khiến ta không còn tin vào mắt mình nữa, trước mắt ta chỉ còn là cái Đẹp, cái Nghệ thuật! Chính điều này đã góp phần làm nên thi pháp thơ Gia Ninh, cho nên sau này ông cứ thế mà viết, không băn khoăn nhiều tới tìm cách thể hiện như những nhà thơ khác. Với ông, viết là một phản xạ tự nhiên, một sự thôi thúc của lý trí và sự giải tỏa tâm hồn!

Gia Ninh chung thủy với thơ như chung thủy với con người mình. Ông từng tham gia mặt trận Việt Minh, là cán bộ tiền khởi nghĩa, từng gia nhập quân đội, từng là trưởng ty thông tin tuyên truyền Khánh Hòa, quyền giám đốc Sở Thông tin tuyên truyền Trung bộ, từng phụ trách báo, từng là phóng viên rồi cuối cùng là biên tập viên ở một tòa soạn báo để được làm cái công việc mà mình yêu thích là làm thơ và giúp các bạn thơ, nhất là các thơ trẻ. Ông từng tốt nghiệp cao đẳng tiểu học để có bằng thành chung, tốt nghiệp trung học và có bằng tú tài, rồi cuối cùng học đại học, ngành văn để có dịp đi sâu nghiên cứu và làm thơ. Ông cũng từng viết truyện và được giải về truyện, từng viết nghị luận, phê bình và cả dịch thuật nữa...

70 năm cầm bút, ông đã để lại 3.500 bài thơ. Có tiếp xúc với ông mới biết điều này. Lúc đầu tôi cũng chỉ nghĩ đó là một con số tượng trưng, nhưng khi nhìn kỹ danh mục mà ông đã cẩn thận đánh dấu và nhìn các quyển vở đã ố vàng tôi mới tin là thật!

Ông làm thơ như một thiên chức nghệ sĩ và như trách nhiệm một nhà thơ với xã hội. Hình như trước mỗi cơn đau hay sau một đợt bình phục và về cuối đời, thơ ông xuất hiện nhiều hơn “trẻ trung” hơn.

Gặp ông lần này, ông yếu đi nhiều, tiếp tôi ông phải nửa nằm nửa ngồi vì sau khi bị tai biến mạch máu não, nửa người ông đã bị liệt, phải có người đỡ mới dậy được. Giọng ông đã yếu, tôi phải hỏi đi hỏi lại nhiều lần, tiếng nói của người miền trong vốn vang và vỡ mà bây giờ lưỡi ông cứ líu lại. Ông lại còn bị suy tim nặng, nên tôi chỉ ngồi với ông không được lâu, sợ ông xúc động và mệt. Thế mà nói chuyện thơ ông vẫn ý thức rất rõ về thơ mình, thậm chí vẫn rất dè dặt, không hề tỏ ra là một bậc cha chú trong văn giới. Ông không quên các bạn đi đầu trong phong trào thơ mới cũng như các nhà phê bình, nghiên cứu đã có những bài viết đúng mực về thơ ông, có sự chia sẻ giữa các thế hệ. Ông cũng không quên các bạn trẻ. Ông nhớ mãi hai câu thơ mà ông cho là của Mạnh Hạo Nhiên thời Đường ở Trung Quốc:

Bất tài minh chủ khí

Đa bệnh cố nhân sơ ([1])

Ông cũng không hề lên tiếng trách cứ ai trong cảnh già cắm cúi, âm thầm chỉ còn hai người già - ông và bà vợ - già với nhau, con cái phải đi làm ăn xa, bạn bè thưa vắng, cũng như khi đương chức, ông đã không hề lên tiếng đòi hỏi phải được cấp nhà, đi nước ngoài hay một sự đãi ngộ nào đó...

Thế mà lúc biết tôi sắp ra về ông lại tỏ ra tức giận với một người đã hứa đưa tặng thơ trong đó có bài của ông hết lần này đến lần khác chẳng thấy. Đến lúc này tôi mới ngớ ra: Thì ra cái cốt cách miền Trung qua những câu thơ năm chữ, những bài thơ tự do, số chữ không hạn chế, chỉ có người “trường lực” mới viết được. Hình như đó là Hoành Sơn cao vút, dằng dặc và dòng sông Gianh sâu thẳm đang cuồn cuộn để ra biển Đông./.



(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0