Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Yếu tố phi lý tính trong thơ

0 trả lời, 21 lượt xem — Trang 1 / 1
Yếu tố phi lý tính trong thơ

Hồ Sĩ Vịnh

Trong nhiều định nghĩa về thơ từ trước tới nay, có một định nghĩa của nhà thơ Nga Xô Viết - Ôxíp manđenxtam (1891 - 1938) mà tôi cho là ứng nghiệm với đề tài đang bàn: "Thơ là ý thức mình có lý" ([1]). Như vậy, cũng có hàm nghĩa biện chứng: một trong những đặc trưng của thơ là Phi lý tính, phải nhờ sự can thiệp của nhà thơ thì cái phi lý tính kia trở thành có lý. Hướng tiếp cận của đề tài này tập trung vào ba bình diện sau đây: Yếu tố phi lý tính thường hiện diện trong thơ văn cổ truyền dân tộc; những đặc trưng của phi lý tính trong thơ. Vai trò của phi lý tính trong thơ hiện nay.

Lần theo yếu tố phi lý tính trong ca dao, thơ văn cổ truyền dân tộc

Ca dao, dân ca phản ánh lịch sử, xã hội, con người, thiên nhiên qua các thời đại. Ca dao cũng phản ánh tình yêu và muôn mặt đời thường của con người. Để đến được với người đọc, thi pháp của ca dao gồm nhiều cách diễn đạt, trong đó phổ biến là tiếng hát trữ tình của con người được miêu tả bằng những biện pháp ngoa dụ, ẩn dụ, hoán dụ... mà thường mang yếu tố phi lý tính. ở biện pháp ngoa dụ phóng to ta đọc: Đàn ông một trăm lá gan/Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người/Khó khăn thì chẳng ai nhìn/Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em... ở ngoa dụ thu nhỏ ta có: Ước gì sông hẹp bằng ao/Bắc cầu dải yếm qua trao ân tình/Cô kia tát nước bên sông/Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang.

Người sáng tác ca dao thường dùng biện pháp ẩn dụ nhân hóa sự vật để nói lên tâm trạng nghịch cảnh đau đớn của con người: Lá vàng còn ở trên cây/Lá xanh rụng xuống trời hay chăng trời?

Với biện pháp hoán dụ, chúng ta đọc: Thấy anh như thấy mặt trời/ Nói năng khó nói trao lời khó trao/Trông anh như thể sao mai/Biết rằng trong có như ngoài hay không?

Cảnh sắc thiên nhiên ở ca dao thường được diễn tả bằng nhận thức lôgic, cũng có khi bằng biện pháp phi lý tính: Gió đưa trăng, trăng thanh vằng vặc/Trăng đưa gió, gió mắt hiu hiu.

Mượn trật tự đầu phi lôgic (gió đưa trăng, trăng đưa gió...) để nói trật tự sau lôgic hơn (trăng thanh vằng vặc, gió mát hiu hiu...). Để triết lý về thời gian, ta có câu: Trăng bao nhiêu tuổi trăng già/Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non.

Trong truyện nôm khuyết danh, yếu tố phi lý tính hiện diện ở dạng tính kỳ, là phương tiện làm gia tăng kịch tính của câu chuyện. Câu chuyện thường được xem như một bài thơ; ví dụ như truyện Hòn vọng phu hoặc Truyện Trầu Cau. Nhiều nhà nghiên cứu của văn hóa sử đã coi tính kỳ của truyện Lưu Bình - Dương Lễ nhuốm màu huyền thoại, thể hiện ước mơ của người xưa về sự cao thượng của đạo lý làm người, về sức mạnh tự thân vượt lên chính mình để làm được những nghĩa cử cao đẹp. Đây là một tình huống lý tưởng, phi lý (chứ trong thực tế làm gì có một người vì quí bạn mà gửi vợ mình đi nuôi bạn ăn học trong ngần ấy năm!) Câu chuyện được phóng to đến mức cực đại nhưng người đọc không ai băn khoăn gì về các chi tiết; chỉ biết rằng, hạt nhân câu chuyện là tình bạn cao cả, nghĩa vợ chồng chung thủy sắt son.

Trong thơ ca cổ điển dân tộc, đặc biệt trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã vận dụng tài tình yếu tố phi lý tính. Dưới bàn tay tài hoa và sự tư duy lấp lánh hình tượng của nghệ sĩ, chất liệu được phi lý tính hóa nhằm xây dựng một hình tượng tính cách, phát ngôn một triết lý sống, tổng kết một kinh nghiệm lao động, đề xuất một thái độ ứng xử v.v... Khi nhà thơ đã vượt thoát chất liệu, không chịu sự ràng buộc của lôgic cuộc đời để đi vào thế giới nghệ thuật với cảm hứng sáng tạo chân thật, thì hình tượng thơ trở thành ma lực, ngôn ngữ thơ trở nên tỏa hương, ý nghĩa bài thơ hàm chứa triết lý xanh rờn. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã vượt lên trên những "lời quê chắp nhặt dông dài", bước ra khỏi thi pháp miêu tả "những điều trông thấy" đã làm cho 3254 câu thơ lục bát của Truyện Kiều được kể theo lối truyện thơ mà hấp dẫn từ đầu chí cuối là nhờ đại thi hào không ngần ngại sử dụng yếu tố phi lý tính trong thơ, thường là phi lý tính ẩn dụ. Để miêu tả cuộc đời trầm luân, bụi bặm, bèo trôi sóng vỗ của Kiều, nhà thơ đã khái quát hóa cuộc đời là: chốn bụi hồng, hồng trần, trần ai, đường xa bụi hồng... (Sự đời đã tắt lửa lòng, còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!). Vẽ chân dung người đẹp, trong đó có chân dung Vương Thuý Kiều, người đọc bắt gặp những nét son: má hồng, hồng nhan, cánh hồng, sắc tía, bóng hồng, sắc hồng... Ngay cả một lĩnh vực tình cảm mênh mông là vậy, sâu thẳm là vậy, cũng được nhà thơ dùng thủ pháp "lượng hóa" trong các câu: Sen tàn cúc lại nở hoa/ Sầu dài, ngày ngắn, đông đà sang xuân/Sầu đong càng lắc càng đầy/Ba thu dồn lại một ngày dài ghê...

Đầu thế kỷ XX luồng gió mới cải cách nhiều bình diện xã hội trong đó có văn chương học thuật. Cánh cửa sổ nhìn về văn hóa phương Tây ngày càng mở rộng, Thơ Mới ra đời. Thơ mới là một hiện tượng văn hóa mới lạ đã tạo nên bước biến chuyển mới về nội dung lẫn hình thức.

Được như vậy, có nhiều nguyên nhân; riêng trong lĩnh vực kỹ xảo thơ, sự sáng tạo ngôn ngữ thơ đó là sự mạnh dạn sử dụng yếu tố phi lý tính. Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ là một ví dụ: Màu thời gian không xanh/Màu thời gian tím ngắt/Hương thời gian không nồng/Hương thời gian thanh thanh...

Thời gian chỉ đo bằng năm tháng, đo bằng chiều dài lịch sử, sao lại đo bằng màu, bằng hương? Tứ thơ này chịu ảnh hưởng thơ Pháp là đúng rồi, nhưng còn là sự tự biểu hiện tình yêu của chính nhà thơ đối với thiên nhiên, đối với loài hoa màu tím. Cũng ảnh hưởng thơ Pháp, Xuân Diệu trong Vội Vàng đã không nén được dục vọng, nỗi đam mê ở tuổi đang yêu đã muốn hưởng mọi lạc thú ở đời: Tôi muốn tắt nắng đi cho màu đừng nhạt mất/Tôi muốn buộc gió lại cho hương đừng bay đi... và tiếp theo là những hành vi hưởng thụ: Ta muốn ôm (sự sống); Ta muốn siết (mây đưa gió lượn); Ta muốn say (cánh bướm với tình yêu); Ta muốn tham (trong một cái hôn nhiều) và hơn tất cả: ta muốn cắn vào ngươi (Xuân hồng). Trong bài thơ Thiên nhiên, Bôđơle đã có lần viết rằng, "màu sắc, hương vị, và âm thanh đều đối đáp lẫn nhau". Có lẽ Xuân Diệu đã ảnh hưởng nhà thơ Pháp bằng lối chơi màu sắc, hương vị với những yếu tố phi lý tính.

Lưu Trọng Lư trong Tình điên (Hôm ấy trăng thu rụng dưới cầu...); Chế Lan Viên trong Điêu tàn (Sợ lời than lay đổ bóng đêm thâu...); Hàn Mạc Tử trong Ave Maria (Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu?); Bích Khê trong Tình huyết (Ô, Hay buồn vương cây ngô đồng, Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông v.v...); Quách Tấn với Đêm thu nghe quạ kêu (Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng?) và nhiều nhà thơ khác đã mạnh dạn sử dụng yếu tố phi lý tính để tô vẻ thiên nhiên thêm màu nhiệm, thoáng đượm mùi hương, làm cho hồn người bớt hiu quạnh và nhịp đời thêm náo nức...!

Mấy đặc trưng của yếu tố phi lý tính trong thơ

Nếu chưa xác định được nhiều hơn, thì ít nhất có ba đặc trưng: Sự liên tưởng, sức tưởng tượng và ý nghĩa triết lý.

Liên tưởng là một trạng thái của tư duy, là một phẩm chất của con người. Trong từng hoạt động của não bộ, nhất là những hoạt động trí tuệ thường xuất hiện sự liên tưởng. Trong sáng tạo nghệ thuật, sự liên tưởng giúp nhà văn thêm chất liệu để xây dựng hình tượng. Liên tưởng là hiện tượng trực giác, nó có sức mạnh thuyết phục bằng tri giác, chứ không chứng minh bằng thực nghiệm. Khi Huy Cận viết trong Tràng giang: Lòng quê dờn dợn vời cơn nước/Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà... thì người đọc biết ngay tình cảm ngổn ngang nhớ quê của người xa xứ lúc chiều tà. Còn Xuân Diệu nhìn thấy lá liễu thướt tha, là nghĩ ngay đến người con gái đẹp: Lá liễu dài như một nét mi. (Nhị hồ). Vậy làm thế nào để liên tưởng đi vào thơ một cách chân thật? ở chỗ này nên nhớ đến ý kiến của Phơlôbe: "Đừng bao giờ sợ sự phóng đại và xu hướng phóng đại... sự phóng đại vừa độ, hợp lý, hài hòa", tức là sự khái quát hóa và tính sinh động trong cách thể hiện liên tưởng. Dùng sự liên tưởng trực tiếp để so sánh hiện tượng này với sự vật kia; ở đây những liên từ: như, tựa, hay, thường được sử dụng: Thời gian đi, chóng tựa đưa thoi, (Hồ Chí Minh - Gửi Bộ chính trị) - Mắt em như nước giếng thôn làng. (Quang Dũng - Mắt người Sơn Tây) - Biển như một con tàu sắp sửa kéo còi đi (Hữu Thỉnh - Phan Thiết có anh tôi) - Em là ai cô gái hay nàng tiên. (Tố Hữu - Người con gái Việt Nam). Ngoài ra, sự liên tưởng ẩn dụ giúp nhà thơ tìm kiếm cách nói độc đáo, gây ấn tượng khi cảm hứng đang trào dâng: Sông Đuống trôi đi/Một dòng lấp lánh/Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ. (Hoàng Cầm - Bên kia sông Đuống), hoặc: Ôi cái gió Tuy Hòa/Cái gió chuyên cần và phóng túng. (Trần Mai Ninh - Tình sông núi). Sức tưởng tượng của con người là không giới hạn. Trí tưởng tượng xán lạn, óc phán đoán minh mẫn sẽ bổ sung cho trí tuệ phong phú, năng lực tư duy mẫn cảm của con người. Sức tưởng tượng chân chính bao giờ cũng sánh vai với lý tính. V.I. Lê Nin coi "tưởng tượng là một phẩm chất, là một giá trị vĩ đại nhất của loài người". Nhưng cũng có loại tưởng tượng quái dị, điên rồ, sự bịa đặt vô cớ, vô bổ, thậm chí có hại. Vì vậy mà có người nói sức tưởng tượng có khi là "con điên trong nhà". Chúng ta từ chối loại tưởng tượng kiểu đó. Con đường đúng đắn dẫn đến sức tưởng tượng chân chính là sự kết hợp hai sức mạnh tự nhiên: Cái vô thức và cái lý tính. Fr. Hebel, nhà thơ Đức, (1813 - 1863) có lần nói rằng, tưởng tượng có thể chấp nhận được trong sự có mặt của lý tính... tưởng tượng chân chính thường xuyên gắn kết với lý tính. Đúng vậy, sức tưởng tượng chỉ có thể làm gia tăng sức mạnh của hình tượng nghệ thuật, chỉ khi nào nhà thơ tổng hợp được những tri thức trực giác với sức tưởng tượng của trí tuệ và sự thăng hoa cảm xúc. Sau đây là những ví dụ: - Ôi những cánh đồng quê chảy máu/Dây thép gai đâm nát trời chiều. (Nguyễn Đình Thi - Đất nước) - Buổi sáng em lên rẫy/Thấy bóng cây Kơnia/Bóng ngả che ngực em/Về nhớ anh không ngủ... (Ngọc Anh - Bóng cây Kơnia) - Đưa người, ta không đưa qua sông/Sao có tiếng sóng ở trong lòng. (Thâm tâm - Tống biệt hành) - Tình cờ anh gặp lại vầng trăng/Một nửa vầng trăng thôi một nửa/Trăng vẫn đấy mà em xa quá/Nơi cuối trời em có ngắm trăng lên. (Hoàng Hữu - Hai nửa vầng trăng). Sử dụng yếu tố phi lý tính trong thơ, nhà thơ muốn phát ngôn ý nghĩa triết lý sống, thường được thể hiện dưới mấy dạng thức sau: Nói lên khí phách anh hùng cá nhân: Kiếp sau xin chớ làm người/Làm cây thông đứng giữa trời mà reo (Nguyễn Công Trứ); Phát biểu một cách chân lý lao động: Bàn tay ta làm nên tất cả/Có sức người sỏi đá cũng thành cơm. (Hoàng Trung Thông); Ký thác nỗi đau chia cắt đất nước vào một bức tranh thiên nhiên: Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị/Tận chân trời mây núi có chia đâu!? (Tế Hanh); Khẳng định một thái độ sống, một nhân sinh quan biện chứng... Ta đẻ ra Đời, sao khỏi những cơn đau... Hãy biết ơn vị muối của Đời cho thơ chất mặn (Chế Lan Viên)...

Phi lý tính và thơ hôm nay

ở trên chúng ta có nói đến sự chật hẹp của lý tính, mà sự sáng tạo của nhà thơ thì không dừng lại ở lý tính. Nhà thơ lớn nào cũng muốn ôm cả chiều sâu lịch sử, chiều rộng cuộc đời, chiều cao tư tưởng thời đại mình. Vậy nên các nhà thơ cùng một lúc vừa nhận thức bằng duy lý, vừa nhận biết bằng trực giác. Nhiều nhà khoa học tổng kết rằng, con người không thể nhận thức thế giới khách quan nếu không đi trên con đường trực giác và con đường duy lý. Một mình suy lý, con người sẽ bất lực trước chân lý khách quan. Vì vậy, sự bổ sung trực giác, tưởng tượng, phi lý tính có thể coi là quy luật. Người cổ đại thường dùng thơ và văn chương hình ảnh trong các tác phẩm triết học. Vì sao vậy? Bởi vì, khi khoa học còn ở buổi bình minh, chưa phát triển, người ta vay mượn nghệ thuật để diễn đạt tính chân thật của thức giác, về sau trở thành đối tượng của khoa học.

Muốn cho nghệ thuật thơ thực sự đổi mới, vượt lên trên cái đã biết, cái đã quen, cái đã thấy nhà thơ cần cấu tạo những hình tượng độc đáo, những vần thơ vi điệu, có màu sắc có âm thanh... nơi mà suy lý lôgic không phát hiện được; chứ không phải là sự lạm dụng ngôn ngữ, sự vay mượn tứ thơ bên ngoài, cố tình phá hủy trật tự sự vật, làm rối loạn giác quan mình và giác quan người đọc.

Điểm tựa để thực hiện kỹ năng, kỹ xảo, các biện pháp tu từ ngôn ngữ thơ là trình độ tư duy khái quát, chiều cao của trí tuệ, chiều rộng của tri thức văn hóa và chiều sâu của cảm xúc nhân văn của nhà thơ. Nhà thơ là nhà nhân văn chủ nghĩa. Không phải ngẫu nhiên mà trong thời đại mình, Cao Bá Quát gọi "phẩm chất của người là phẩm chất của thơ, phẩm chất của người cao, thì phẩm chất thơ cao".

Phi lý tính trong thơ chỉ là một phẩm chất, nhưng là phẩm chất đặc thù để phân biệt với những đặc trưng của mọi thể loại văn chương còn lại. Thơ là tiếng nói của trái tim, của tình cảm, của tâm sinh lý, của bản năng con người. Nó cần được sự hướng dẫn của lý trí, trí tuệ. Nó có những cái lý riêng mà lý trí thuần túy không hiểu được. Phi lý tính trong thơ khác với sự lập dị, sự suy nghĩ mù quáng, quái dị, cường điệu vô mục đích trong cảm hứng nhà thơ. Trái lại nó là phần khuất của tảng băng chìm trong dòng sông thơ. Nó có lập luận riêng, mà chỉ đọc bằng lý lẽ thông thường thì không giảng giải được. Nhưng khi hình tượng thơ đã được phi lý tính hóa một cách nghệ thuật, có sự thôi thúc của cảm hứng dồi dào, sự chân thật tối đa của nhà thơ đối với đối tượng miêu tả, thì câu thơ trở nên có cánh, hình tượng thơ trở nên lấp lánh, tạo được sự nhập cảm, sức lan truyền của bài thơ đối với người đọc./.



(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0