Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Nhà văn Vũ Trọng Can

0 trả lời, 349 lượt xem — Trang 1 / 1
Nhà văn Vũ Trọng Can

Anh Chi

Nhà văn Vũ Trọng Can, trong mấy thập kỷ qua đã được một số nhà văn, nhà thơ có tên tuổi lớn nhắc tới qua những trang hồi ký văn học, như hồi ký của Đinh Hùng những năm 60 và hồi ký của Tô Hoài những năm 90, thế kỷ XX. Tuy nhiên, những hồi ký đó viết về Vũ Trọng Can với những chi tiết cuộc đời không giống nhau, thậm chí có những đánh giá khác hẳn nhau. Bộ sách rất công phu Lược truyện các tác gia Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XX) do nhà sử học Trần Văn Giáp (chủ biên) cùng các nhà nghiên cứu Tạ Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Tường Phượng, Đỗ Thiện soạn xong năm 1972, phần ghi về Vũ Trọng Can: ... còn chưa rõ sinh năm nào và quê quán ở đâu... Và, về phần tác phẩm, thì ghi 8 đầu mục: Nước mắt người đàn bà (tiểu thuyết), 1940; Sự động cỡn của đàn bà (tiểu thuyết), 1940; Tâm lý ái tình, 1940; Người em sầu mộng (tiểu thuyết), 1941; Tang tóc (tiểu thuyết), 1942; Dã tràng se cát (truyện thiếu nhi), 1942; Người chiến quốc liệt truyện, 1943; Cái tủ chè (kịch). Với những đầu mục tác phẩm và năm xuất bản như vậy, thấy sức làm việc của nhà văn thật đáng khâm phục. Càng phục hơn khi biết, Vũ Trọng Can qua đời năm 1943, nghĩa là ông viết nhiều cho đến những ngày tháng cuối cuộc đời! Và, chúng tôi cũng muốn lưu ý ngay với bạn đọc văn học rằng, ngoài các tác phẩm trên, chúng tôi, khi đi tìm hiểu về nhà văn Vũ Trọng Can, đã thấy ông còn có thêm nhiều tác phẩm nữa: Hội khỏa thân (tiểu thuyết) do Laibrairie Centrale xuất bản năm 1939; và một loạt tác phẩm đã đăng trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Năm, gồm các tiểu thuyết, truyện dài: Đêm trăng ngà; Ngoại tình; Nắng hanh vàng; các truyện cổ tích cho thiếu nhi: Nòng nọc đứt đuôi; Đọc canh chịu tội... Vũ Trọng Can còn có thơ và tiểu luận in trên báo TTTN, đặc biệt, có mười truyện ngắn đăng trên tuần báo này, trong đó có những truyện tiêu biểu: Bến Vị Hoàng; Điêu tàn; Tiếng bánh xe thổ mộ...

Đến nay, có thể nói, trong các nhà văn tiền chiến của nước ta, Vũ Trọng Can ít được giới thiệu cho hậu thế biết. Bởi thế mà chúng tôi có tham vọng tìm hiểu để viết về ông, ngõ hầu giúp người đọc hiểu được một nhà văn từng có những đóng góp đáng trân trọng cho văn học nước nhà. Do được sự mách bảo của một số người quan tâm, chúng tôi đã biết được quê ông và đến tận nơi ông sinh sống ngày xưa. Chúng tôi còn gặp được những người thân của nhà văn Vũ Trọng Can. Nghe kể về Vũ Trọng Can, chúng tôi đã có được tiểu sử của nhà văn. Vũ Trọng Can sinh năm 1915, người làng Yên Thái, là một trong hệ thống các làng Bưởi của Hà Nội xưa. Thân sinh nhà văn là cụ Vũ Năng Tĩnh, một bậc túc nho nổi tiếng hay chữ cũng như lòng nhân ái, tiết nghĩa. Thân mẫu nhà văn cũng là người giỏi nho học. Nhờ vậy, ngay từ nhỏ, Vũ Trọng Can cũng như các anh chị em của mình đều được nuôi dạy chu tất. Vũ Trọng Can sớm thông bác nho học. Sau, Vũ Trọng Can theo tân học, do thông minh và ham hiểu biết, nên sớm trở thành người rất có tri thức. Vừa lớn lên, Vũ Trọng Can đã khẳng định thiên hướng văn chương, báo chí. Từ năm mười tám tuổi đã viết báo, viết truyện, rồi sáng tác kịch, làm thơ và hoạt động sân khấu. Ông còn dùng một bút danh nữa là Vị Hoàng. Chúng tôi còn có nghi vấn bút danh Cô Yến, hoặc Bạch Yến, cũng là của Vũ Trọng Can. Từ năm 1935, Vũ Trọng Can cộng tác khăng khít với Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư trên tờ Hà Nội báo. Ông giao lưu thân thiết với các bạn văn cùng chí hướng như Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Bùi Huy Phồn, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân... ở Hà Nội; và, giao lưu với nhiều nhà văn, nhà thơ ở các tỉnh xa; khá thân thiết với Yến Lan, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên... ở Quy Nhơn. Sau thời kỳ làm Hà Nội báo, Vũ Trọng Can lại cùng Lê Tràng Kiều, Bùi Huy Phồn, rồi Phạm Văn Kỳ, Phạm Huy Thái, Nguyễn Bính... làm tờ tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Năm từ 1938 đến 1940. Tại tuần báo TTTN, Vũ Trọng Can phụ trách Ban biên tập, và giai đoạn cuối, năm 1939, ông kiêm luôn Thư ký tòa soạn khi nhà văn Phạm Văn Kỳ phải về Hưng Yên một thời gian. Ngoài làm báo, sáng tác văn học, Vũ Trọng Can còn cùng Lê Tràng Kiều, Chu Ngọc và Bùi Nguyên Cát lập ra Ban Kịch Hà Nội rất được khán giả những năm đó yêu thích. Vũ Trọng Can có viết một số vở kịch, trong đó có vở Cái tủ chè nổi tiếng đương thời, do nghệ sĩ Chu Ngọc dàn dựng. Tuy nhiên, sự nghiệp của Vũ Trọng Can chính yếu vẫn là sáng tác văn học. Với hàng loạt tác phẩm của ông mà chúng tôi ghi ở trên, có thể thấy rõ giai đoạn từ 1936 đến 1940 Vũ Trọng Can sáng tác rất ào ạt, tạo nên được hầu hết các tác phẩm của đời văn ngắn ngủi mà ông được sống để viết. Bởi, sau khi báo TTTN ngừng bản, cuối năm 1940, ông sống quá lao khổ, sức khỏe suy giảm nhanh rồi mất ở quê nhà năm 1943 vì yếu phổi và bệnh thương hàn.

Một nhà viết kịch tiền chiến, cũng là bạn thân của Vũ Trọng Can thời gây dựng Ban Kịch Hà Nội là Bùi Nguyên Cát, hiện cư ngụ tại phường Bách Khoa, Hà Nội, đã kể cho chúng tôi nghe: Vũ Trọng Can là người rất nỗ lực tự học và sáng tác, nên nhanh chóng trở thành tác giả có tri thức cao cũng như có sáng tác hay. Nhà ông Vũ Trọng Can ở Yên Thái, thỉnh thoảng về 42 phố Đồng Xuân, nhà của ông Bùi Nguyên Cát, chơi, rồi ngủ lại cùng một giường. Vũ Trọng Can người mảnh khảnh, rất nho nhã và đặc biệt ít khi nói đến chuyện yêu đương, trai gái. Vũ Trọng Can sống rất lành mạnh. Có ai đó rủ đi hát cô đầu chẳng hạn, là tìm cách lẩn trốn liền. Tận tụy với bạn bè, tận tụy với công việc là phẩm chất quý của Vũ Trọng Can...

Tại căn hộ của nhà viết kịch Bùi Nguyên Cát, một ngày cuối năm 1999, chúng tôi được nghe ông bồi hồi cảm động kể lại những kỷ niệm về người bạn văn hơn nửa thế kỷ trước. Khép lại buổi trò chuyện, ông Bùi Nguyên Cát khẳng định: “Là người cầm bút ở Hà Nội những năm tháng đó mà sống cao đẹp như Vũ Trọng Can là vô cùng hiếm đấy!”

Nhà văn Phạm Văn Kỳ, nguyên Thư ký tòa soạn tờ báo TTTN, hiện cư ngụ tại khu Nam Thành Công, Hà Nội. Từng làm việc và sống khăng khít cùng nhà văn Vũ Trọng Can, nhà văn Phạm Văn Kỳ kể cho chúng tôi nghe về Vũ Trọng Can những năm tháng làm báo TTTN: Nhà Vũ Trọng Can ở Bưởi, nhưng ông ấy hay ngủ lại tòa soạn để làm cho xong việc của tòa báo. Viết thì rất tài, rất nhanh. Ông ấy hay có những truyện dài đăng nhiều kỳ trên báo. Những lần bận nhiều việc quá, lịch in báo đã ập tới, ông ấy còn chưa có bản thảo để đăng tiếp. Khi đó, ông mới ngồi vào bàn để viết bản thảo cho kịp đưa in. Vậy mà chất lượng vẫn tốt lắm. Vũ Trọng Can là người rất chân chất, nhưng khi làm việc cũng như lúc tiếp khách đều ăn mặc rất chỉnh tề mà không chút đỏm dáng. Trông ông ấy nho nhã, tài hoa lắm. Một đặc điểm của ông ấy là rất thích thắt cravát màu hoàng yến. Sở thích đặc biệt đó liên quan đến chuyện tình cảm của ông. Vũ Trọng Can phụ trách biên tập báo TTTN, và chính ông khởi xướng trang Văn chương cho thiếu nhi trên báo, phong phú lắm. Chính trang Văn chương cho thiếu nhi của báo TTTN đã góp phần quan trọng khởi lên phong trào sáng tác truyện cổ tích năm 1939, mà truyện Cô gái gỗ của tác giả Văn Vinh được trao giải nhất chính là một thành công của phong trào này. Bản thân Vũ Trọng Can cũng viết nhiều tác phẩm cho thiếu nhi. Ông còn dành riêng các buổi chiều thứ Năm và chủ nhật hàng tuần để đón tiếp các em thiếu nhi đến chơi với tòa báo TTTN. Đây là hình thức sinh hoạt văn học cho thiếu nhi, có thể nói là lần đầu tiên có ở nước ta. Những buổi sinh hoạt cùng các em nhỏ, Vũ Trọng Can kể chuyện cổ tích, đọc văn, thơ, truyện ngụ ngôn cho các em nghe; trò chuyện cùng các em về văn chương; và động viên các em mơ ước trở thành người sáng tác văn chương... Thời đó, Vũ Trọng Can mới hai mươi ba, hai mươi bốn tuổi, mà sống tận tâm và hồn nhiên hết mình như vậy cho nghề văn, thật quý hóa vô cùng.

Sống hết lòng với cuộc sống, với văn chương, nên Vũ Trọng Can có thể viết được nhiều, thật nhiều trong một quãng thời gian không dài của đời ông. Và, đáng kể hơn, là chất lượng của các tác phẩm Vũ Trọng Can. Văn của ông trong sáng, trau chuốt và ngôn ngữ rất giàu biểu cảm. Những vấn đề ông đặt ra trong nhiều tiểu thuyết, truyện dài và những truyện ngắn là rất phong phú. Từ đề tài lịch sử, như truyện Điêu tàn; đến truyện phong tục, như Bến Vị Hoàng hay những truyện tâm lý xã hội, như Tiếng bánh xe thổ mộ... đã thấy ngọn bút Vũ Trọng Can trong các truyện ngắn thật tinh anh. Tâm lý và tính cách nhân vật khá tinh tế và đậm nét. ở các truyện dài và tiểu thuyết, bút lực của Vũ Trọng Can khá dồi dào. ở những truyện viết cho thiếu nhi, lối viết của ông thật trong sáng và chân thành. Vào thời điểm cách đây hơn 60 năm, ông đã viết những chuyện cổ cho thiếu nhi với bố cục dài hơi như những truyện vừa và cách phân chương, phân đoạn linh hoạt, lý thú... Theo chúng tôi, đó là một thành công đáng kể cho văn chương Việt Nam. ở truyện Nòng nọc đứt đuôi, nhà văn kể câu chuyện trong thế giới loài cá và loài cóc thật sinh động, mà cũng chất chứa những chuyện buồn vui, sướng khổ và những nỗi đời quanh co lắm nẻo trong cuộc sống những con người ở một làng quê nước Việt những năm đầu thế kỷ XX. Qua văn chương Vũ Trọng Can, thấy ông có một trái tim thật dễ đau buồn. Truyện Bến Vị Hoàng viết về một người nghệ sĩ của làng Vị Hoàng có cái bến sông Vị Hoàng. Đó là Pháo, vì tình yêu mà anh trở thành tay chơi đàn hồ hay đến huyền diệu khiến người anh yêu, là cô Thắm, phải yêu anh, dẫu cô đã đi lấy người khác. Mỗi ngày tiếng đàn hồ của anh càng thêm sức cuốn hút ghê gớm, đến mức dường như tiếng hồ ấy đã dằn vặt cô Thắm khiến cô đã chết. Và đến lúc đó thì chính Pháo cũng không thể sống được nữa, rồi bỏ quê ra đi với cây đàn hồ cùng nỗi đau buồn to lớn trong tâm can. Vậy là Vị Hoàng mất đi một nghệ sĩ tài ba. Còn ở đường phố Hà Nội có thêm một anh xẩm có sức quyến rũ người ta bằng một tiếng hồ yếu đuối mơ hồ và một giọng ca khàn khàn xa xôi... Có lẽ về sự nghiệp văn chương của Vũ Trọng Can, cần được nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng, đủ đầy hơn. Bởi, theo chúng tôi, Vũ Trọng Can là nhà văn xuất sắc trong nhóm các nhà văn nhà thơ ở báo TTTN nói riêng, và là một nhà văn có đóng góp đáng kể cho văn học đương thời.

Cuối năm 1938 sang đầu năm 1939, Vũ Trọng Can cùng Phạm Huy Thái có một chuyến đi Sài Gòn để quảng bá cho tờ TTTN, vừa là để có thêm độc giả, vừa là để làm cộng tác viên. Ngoài thời giờ diễn thuyết với bạn đọc và gặp gỡ các bạn viết, Vũ Trọng Can cũng viết được một số truyện ngắn về cuộc sống, con người Sài Gòn khi đó. Truyện Tiếng bánh xe thổ mộ và truyện Tết giang hồ là những truyện có chất lượng, và thể hiện rõ phẩm chất của một nhà văn tả thực sắc sảo. Đây là hai câu chuyện buồn đau về thân phận người phụ nữ, mà cuộc sống đầy xáo động của Sài Gòn hoa lệ đã xô đẩy họ xuống hố sâu tối tăm, phải làm gái điếm. “Nếu ở Sài Gòn độ hai tháng thì chúng tôi một là sẽ điên, hai là sẽ ghét viết văn. Hai sự đó chúng tôi đều sợ như người ta sợ chết - là vì suốt ngày đêm chúng tôi cứ nhức óc lên vì tiếng xe, tiếng người. Từ bốn giờ sáng đến bốn giờ sáng, nào xe điện, xe hơi, xe tay, xe ngựa, xe lửa, hàng ngàn cái luôn chạy, chạy và chạy, như là chạy đi ăn cho xong đi, để rồi lại chạy đi ăn...” (Tiếng bánh xe thổ mộ). Nhà văn, người kể chuyện, mô tả Sài Gòn hồi cuối năm 1938 như vậy. Và trong cái thành phố đó, do sự tình cờ và do sự nhiệt tình thái quá của một người quen, nhà văn được đưa đến một tiệm hút, một túp nhà điêu tàn ở ngoại ô. Rồi người quen còn cho đi gọi một ả giang hồ đến tiêm thuốc. Thật trớ trêu, ả giang hồ đó hơn một năm trước còn là một thiếu nữ trong trắng, một độc giả mến mộ nhà văn, đã gửi cho nhà văn một tấm ảnh!... Truyện Tiếng bánh xe thổ mộ, và cả truyện Tết giang hồ có cấu trúc gọn với sự miêu tả chân thực, rung cảm người đọc.

Năm 1939, Vũ Trọng Can còn có một chuyến đi Huế. Đến Huế, Vũ Trọng Can có điện vào Quy Nhơn cho Yến Lan. Hai ông có tình cảm tương giao thật thân thiết. Yến Lan đã từ Quy Nhơn ra Huế gặp Vũ Trọng Can. ở Huế lần này, có một đêm mưa buồn, hai ông nằm với nhau trên một con đò, thức rất khuya, vì sáng hôm sau sẽ chia tay nhau, kẻ vào Nam, người ra Bắc. Con đò trên sông Hương, nhưng thi sĩ Yến Lan đã tưởng tượng một con đò khác, một bến sông khác, một cảnh huống khác, và viết bài thơ Bến My Lăng tặng Vũ Trọng Can. Năm sau, 1940, tờ tuần báo TTTN ngừng bản hẳn. Nghề báo chí, văn chương lúc này, do thời cuộc, đã gặp nhiều khó khăn. Vũ Trọng Can sống tiếp nghiệp văn nghệ bằng nghề diễn kịch. Chúng tôi, do tình cờ, năm 1974, khi đón nhà thơ Yến Lan vào dự Đại hội thành lập Hội Văn nghệ Thanh Hóa, đã được nghe câu chuyện về quãng đời Vũ Trọng Can năm 1940. Trong một buổi tối, tại sân nhà riêng của chúng tôi, nhà thơ Yến Lan đã kể: Hồi đó, ở Quy Nhơn, Yến Lan nhận được điện của Nguyễn Bính và Vũ Trọng Can báo rằng họ đã lập gánh kịch thơ, đã vào Huế và lưu diễn tại đấy, mời Yến Lan ra tham gia. Yến Lan liền đáp tàu hỏa ra Huế để tham gia. Tới Huế mới biết, gánh hát kịch trơ trọi chỉ có Vũ Trọng Can và Nguyễn Bính, và họ bảo tin tưởng Yến Lan sẽ ra nhập gánh hát. Và, kế hoạch là sẽ thuê thêm nghệ sĩ tại Huế tham gia, tùy nhu cầu vở diễn mà thuê thêm diễn viên. Câu chuyện nhà thơ Yến Lan kể lại là chuyện về cuộc lưu diễn gian nan của những người nghệ sĩ nghèo đang túng kế sinh nhai. Vũ Trọng Can, Nguyễn Bính và Yến Lan đã cùng hiệp sức sáng tác vở kịch thơ Giai nhân. Đến khi dàn dựng, các tác giả cũng tham gia diễn. Không mời được đào hát sắm vai nữ, bởi không đủ tiền, mà chỉ nhờ được một cô giáo dạy trẻ rất yêu thơ, có thể diễn tạm được, nhưng không biết ca ngâm. Một vở kịch thơ, nhân vật nữ chính không thể ca ngâm. Do bí bách quá, các tác giả đành phải sửa kịch bản, chỉ cho vai nữ thấp thoáng đi lại sau bức màn mỏng, không phải ca ngâm gì cả. Vở kịch sửa hoàn chỉnh, thành kịch thơ Bóng giai nhân. Sau đó, dù rất cố gắng, nhưng cuộc diễn kịch này không thành công. Chi phí hết cả số tiền các ông có, mà không thu được tiền bán vé. Gánh hát của các nghệ sĩ nghèo còn nợ tiền trọ khá nhiều. Không còn cách nào khác, Yến Lan vội đáp tàu vào Quy Nhơn gom góp được ít tiền gửi ra Huế cho bạn đỡ khó khăn. Nguyễn Bính đành phải ra Bắc tìm kế kiếm tiền để đóng góp trả nợ. Vũ Trọng Can có nghiệp vụ về nghề in, ở lại Huế làm công cho một xưởng in để trả nợ dần, cho đến khi hết nợ mới trở về Hà Nội. Chính thời gian lao động quá nặng nhọc này, Vũ Trọng Can bị nhiễm chì ở phổi, nên rất ốm yếu. Trở về làng Yên Thái, Hà Nội, Vũ Trọng Can đã xuống sức lắm, phải nằm dưỡng bệnh. Ông không sáng tác được nữa, chỉ tập trung biên soạn bộ sách Người chiến quốc. Ông còn kịp viết Lời nói đầu cho tập sách vào mùa xuân năm Quý Mùi, 1943. Sau đó ít lâu, ông qua đời.

Từ đó đến nay, đã sáu mươi năm trời, biết bao biến động cuộc đời. Nhưng, một số cụ già làng Yên Thái còn nhớ về Vũ Trọng Can. Khi chúng tôi hỏi về nhà văn Vũ Trọng Can, họ còn nhắc nhớ tới Vũ Trọng Can như một niềm tự hào của vùng Bưởi, của Hà Nội. Các cụ còn nhớ mộ nhà văn để ở xóm Vạc, bên cạnh sông Tô Lịch. Và, họ còn có thể kể lại đám tang nhà văn vô cùng cảm động bởi có một bài điếu văn do ông Nguyễn Quý Khôi, một người trí thức có uy tín bậc nhất làng Yên Thái, đọc trước linh cữu nhà văn Vũ Trọng Can yêu quý.

Khép lại bài viết này, tôi muốn mượn lời nhà thơ tiền chiến Đinh Hùng, trong thiên hồi ức Đốt lò hương cũ ([1]), ông viết trước khi qua đời tại Sài Gòn ngày 24-8-1967: “... Kho tàng văn học nước nhà sẽ phong phú thêm bao nhiêu, nếu cho tới hôm nay, hàng ngũ văn nghệ của chúng ta vẫn còn đủ những Vũ Trọng Phụng, Lan Khai, Nguyễn Nhược Pháp, J. Leiba, Hàn Mạc Tử, Bích Khê, Phạm Hầu, Thâm Tâm, Vũ Trọng Can, Khái Hưng, Trần Tiêu, Thạch Lam, Đặng Thế Phong, Tô Ngọc Vân, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Kim Hà... Khi còn sống trong cuộc đời thực tại, có thể thân thế họ chìm nổi bất trắc, có thể họ chỉ dạo qua cuộc đời phồn tạp như một người khách lạ. Nhưng bây giờ, họ đã nằm yên dưới lòng đất, thể xác họ đã dần dần tiêu tan, sự cách biệt hầu như không còn nữa, linh hồn họ bình thản hơn và thanh tuyền hơn, hình như cũng gần chúng ta hơn”.../.



(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0