Trần Quốc Thực thầm thĩ tâm tình
Ngô Quân Miện
Chỉ trong vòng mươi năm, từ 1989 đến 2003, Trần Quốc Thực đã ra được bốn tập thơ: Miền chờ (1989), Nét khắc (1995), Trái tim hoa bìm (1998) và Tháp cúc (2003). Tập Miền chờ đã được giải thưởng Nguyễn Khuyến 1985 - 1990, tập Nét khắc được giải A ủy ban toàn quốc LHVHNT 1995.
Ngày thường, hình như anh sống lặng lẽ, ẩn mình nơi vắng vẻ, ở tòa báo cả ngày anh chỉ ngồi trong cái phòng khuất cùng với Đăng Bẩy, nếu tôi không nhầm thì có cái điếu cày. ít thấy anh đi dự những cuộc họp đông đảo của các nhà thơ, nhà văn, những cuộc gặp gỡ nhiều người. Anh như con người lắng vào trong nhiều hơn, cái nhìn như cũng nhìn vào trong. “Chưa ai nói ta là ông cụ non song cũng nhắc khéo không còn trẻ nữa.” Đó là câu thơ anh tự nói với mình như thế.
Đọc tập thơ Tháp cúc của anh mới cho, tôi cảm thấy thơ anh cũng giống con người anh. Thơ anh lặng lẽ tâm tình, đọc chậm, đọc kỹ thấy lặn vào chiều sâu và đôn hậu tình người. Cứ như người thủ thỉ một mình, ở chỗ vắng, cái điều “một mình mình biết, một mình mình hay”. Thế nhưng, đọc anh, ta lại bắt được ngay cái mạch đập thầm kín, có lúc nồng ấm, lúc cô đơn, lúc ưu phiền.
Nói về một cô gái đứng trước mộ người yêu đã hy sinh trong lúc cả nước đang vui mừng chiến thắng, anh cảm nhận được cái điều tinh vi giữa nỗi đau riêng và nỗi vui chung:
Em đứng trước anh rất im lắng nghe
Tiếng hát màu xám la đà trên mộ
(Trước anh)
Với tình yêu, anh muốn hết mình “một nụ hôn rung chuyển rừng tôi”, nhưng lại lẳng lặng khiêm nhường:
Nếu đến lúc nào, em thôi yêu tôi
Tôi sẽ như cây trút lá dưới trời
Lặng lẽ tôi về thềm mẹ
(Lặng lẽ)
Anh như kìm nén những đợt sóng bề mặt để dồn vào lượn sóng ngầm dưới đáy. Nhưng cũng có những lúc tình yêu - dậy thì trong thơ, lúc ấy ta thấy bừng lên những sắc màu trong trẻo và tươi sáng: ngôi sao xanh, bông hoa cúc là biểu tượng nồng ấm của hạnh phúc êm đềm.
thuở ấy nắng cũng tươi và mưa cũng tươi không gì sánh được
em khi ấy chưa lạc vào được mắt ta như ngôi sao xanh đêm nào cũng về thắp biếc
... cúc quỳ dọc suối hôm xưa ơi
em còn nhớ ta và ngôi sao bên trời
(Hoa cúc quỳ)
Và:
nhắm mắt mang mang cúc
khuôn mặt có vầng sáng đến tuyết cũng không sánh nổi
mà em lại dụi đầu vào bạn gái ngồi bên
mà tóc dày lắm
xõa che
anh có cảm giác ngủ trong đó được
(Tặng)
Trần Quốc Thực có một loạt bài thơ về con rất thực và rất nặng tình. Xa con, lúc nào bố cũng xót xa, mong nhớ, thương thầm: Bố ở nơi đầu mom, bố ở chỗ đầu nguồn/mưa nắng thất thường, và bố cũng không được khỏe/chỉ khi nghe tiếng con, bố mới hết ưu phiền (Từ nơi xa xôi).
Những câu thơ giản dị như lời nói hàng ngày mà đau đáu vì nó phát ra từ gan ruột người bố. Nhiều hình ảnh của đời thường mà ngộ nghĩnh cảm động, mà ấm áp, mà tội nghiệp:
Những chiếu chăn quần áo phơi giăng giăng, cái bếp lò buổi chiều bố nhóm, chậu nước ngải cứu/buổi tối cả nhà ngâm chân, bàn chân con bé tẹo đỏ hồng chen huých chân bố mẹ/bố có về với con không?/ (Cho con).
Mấy bài thơ viết về bạn bè của anh đều cảm động và có những câu hay. Như trong bài Trăng Hoàng Hữu: Một miệng cười hao hụt như trăng / Đó Hoàng Hữu hay không Hoàng Hữu/ Hay trong bài Lửa viết về Nghiêm Đa Văn:
Lửa của những năm lửa của những năm
Ngời trang sử đỏ
Duy lúc anh nằm dưới cây
Chỉ còn đất in dấu chữ
Tôi đặc biệt lưu ý đến cấu trúc và nhịp điệu thơ của Trần Quốc Thực. Nếu trong tập này có tất cả 31 bài thì chỉ có 8 bài viết theo các thể truyền thống: một bài lục bát (Nắng), còn các bài khác thì khi 8 chữ (Đứng trước anh, Trăng Hoàng Hữu), khi 4 chữ (Giọt sao, Không đề, tháp cúc), khi 5 chữ (Ngày tình yêu, Bài 3 của chùm thơ bà ngoại). Đó là những bài có số âm tiết đều nhau trong mỗi câu và có vần đều đặn. Có thể nói là gần 3/4 tập thơ là những bài thơ tự do hiện đại không lệ thuộc vào số âm tiết và vần, có phần gần với văn xuôi mà vẫn có nhạc điệu. Thơ anh chủ yếu không viết hoa đầu dòng, cũng ít khi chấm câu, đôi khi có những dấu phẩy hiếm hoi. Đặc biệt có một số bài có những câu thơ - tôi nói câu thơ, hiểu theo nghĩa lôgích của ý thơ - gồm rất nhiều dòng. Xin lấy một bài ngắn Sân trường nghiêng để làm một thí dụ. Cả bài chỉ gồm có hai câu thơ dài được chấm câu bằng một dấu chấm (.),số dấu phẩy cũng hiếm hoi:
Sân trường nghiêng
con ơi, bố biết mọi cuộc chia tay Trời đều định trước
bố tự nguyện lùi ra rất xa để mẹ được toàn quyền về con
bố lặng lẽ đến trường con học để được nhìn con từ rất xa, nhìn con rất gần, rồi bố gọi
con ào đến bố một lúc rồi chạy ra chơi với bạn bè
con chơi với sân trường. Cái sân trường cứ nghiêng nghiêng thế nào ấy trong mắt bố
sân trường cứ nghiêng nghiêng mà bố không dám hỏi vì sao.
Thật là đau xót khi hai bố mẹ chia tay nhau, đứa con ở giữa, người bố phải lén đến sân trường nhìn con, và cảm thấy cái sân trường nghiêng đi! Sân trường nghiêng hay trái tim người bố nghiêng!
Trong bài Cho con, có nhiều câu dài, có câu dài tới 7 dòng. Bài Con sông còn có những câu dài hơn nữa. Bài 1 trong chùm thơ bà ngoại cũng là một bài có những câu dài, những bài nói trên là những bài tiêu biểu cho cấu trúc và nhịp thơ Trần Quốc Thực: hiện đại, không lệ thuộc vào các lề luật cũ (số âm tiết, vần), gần văn xuôi mà vẫn có nhạc điệu riêng, có cảm xúc hồn nhiên, không giả tạo. Bằng những câu thơ ấy, Trần Quốc Thực vẫn giữ được cái giọng thơ thầm thĩ tâm tình. Đọc thơ anh, tôi cứ như nghe tiếng rủ rỉ của một dòng sông xa vắng với giọng hát tự nhiên với những nỗi buồn vui tình người./.
(Tạp chí Nhà văn)
Ngô Quân Miện
Chỉ trong vòng mươi năm, từ 1989 đến 2003, Trần Quốc Thực đã ra được bốn tập thơ: Miền chờ (1989), Nét khắc (1995), Trái tim hoa bìm (1998) và Tháp cúc (2003). Tập Miền chờ đã được giải thưởng Nguyễn Khuyến 1985 - 1990, tập Nét khắc được giải A ủy ban toàn quốc LHVHNT 1995.
Ngày thường, hình như anh sống lặng lẽ, ẩn mình nơi vắng vẻ, ở tòa báo cả ngày anh chỉ ngồi trong cái phòng khuất cùng với Đăng Bẩy, nếu tôi không nhầm thì có cái điếu cày. ít thấy anh đi dự những cuộc họp đông đảo của các nhà thơ, nhà văn, những cuộc gặp gỡ nhiều người. Anh như con người lắng vào trong nhiều hơn, cái nhìn như cũng nhìn vào trong. “Chưa ai nói ta là ông cụ non song cũng nhắc khéo không còn trẻ nữa.” Đó là câu thơ anh tự nói với mình như thế.
Đọc tập thơ Tháp cúc của anh mới cho, tôi cảm thấy thơ anh cũng giống con người anh. Thơ anh lặng lẽ tâm tình, đọc chậm, đọc kỹ thấy lặn vào chiều sâu và đôn hậu tình người. Cứ như người thủ thỉ một mình, ở chỗ vắng, cái điều “một mình mình biết, một mình mình hay”. Thế nhưng, đọc anh, ta lại bắt được ngay cái mạch đập thầm kín, có lúc nồng ấm, lúc cô đơn, lúc ưu phiền.
Nói về một cô gái đứng trước mộ người yêu đã hy sinh trong lúc cả nước đang vui mừng chiến thắng, anh cảm nhận được cái điều tinh vi giữa nỗi đau riêng và nỗi vui chung:
Em đứng trước anh rất im lắng nghe
Tiếng hát màu xám la đà trên mộ
(Trước anh)
Với tình yêu, anh muốn hết mình “một nụ hôn rung chuyển rừng tôi”, nhưng lại lẳng lặng khiêm nhường:
Nếu đến lúc nào, em thôi yêu tôi
Tôi sẽ như cây trút lá dưới trời
Lặng lẽ tôi về thềm mẹ
(Lặng lẽ)
Anh như kìm nén những đợt sóng bề mặt để dồn vào lượn sóng ngầm dưới đáy. Nhưng cũng có những lúc tình yêu - dậy thì trong thơ, lúc ấy ta thấy bừng lên những sắc màu trong trẻo và tươi sáng: ngôi sao xanh, bông hoa cúc là biểu tượng nồng ấm của hạnh phúc êm đềm.
thuở ấy nắng cũng tươi và mưa cũng tươi không gì sánh được
em khi ấy chưa lạc vào được mắt ta như ngôi sao xanh đêm nào cũng về thắp biếc
... cúc quỳ dọc suối hôm xưa ơi
em còn nhớ ta và ngôi sao bên trời
(Hoa cúc quỳ)
Và:
nhắm mắt mang mang cúc
khuôn mặt có vầng sáng đến tuyết cũng không sánh nổi
mà em lại dụi đầu vào bạn gái ngồi bên
mà tóc dày lắm
xõa che
anh có cảm giác ngủ trong đó được
(Tặng)
Trần Quốc Thực có một loạt bài thơ về con rất thực và rất nặng tình. Xa con, lúc nào bố cũng xót xa, mong nhớ, thương thầm: Bố ở nơi đầu mom, bố ở chỗ đầu nguồn/mưa nắng thất thường, và bố cũng không được khỏe/chỉ khi nghe tiếng con, bố mới hết ưu phiền (Từ nơi xa xôi).
Những câu thơ giản dị như lời nói hàng ngày mà đau đáu vì nó phát ra từ gan ruột người bố. Nhiều hình ảnh của đời thường mà ngộ nghĩnh cảm động, mà ấm áp, mà tội nghiệp:
Những chiếu chăn quần áo phơi giăng giăng, cái bếp lò buổi chiều bố nhóm, chậu nước ngải cứu/buổi tối cả nhà ngâm chân, bàn chân con bé tẹo đỏ hồng chen huých chân bố mẹ/bố có về với con không?/ (Cho con).
Mấy bài thơ viết về bạn bè của anh đều cảm động và có những câu hay. Như trong bài Trăng Hoàng Hữu: Một miệng cười hao hụt như trăng / Đó Hoàng Hữu hay không Hoàng Hữu/ Hay trong bài Lửa viết về Nghiêm Đa Văn:
Lửa của những năm lửa của những năm
Ngời trang sử đỏ
Duy lúc anh nằm dưới cây
Chỉ còn đất in dấu chữ
Tôi đặc biệt lưu ý đến cấu trúc và nhịp điệu thơ của Trần Quốc Thực. Nếu trong tập này có tất cả 31 bài thì chỉ có 8 bài viết theo các thể truyền thống: một bài lục bát (Nắng), còn các bài khác thì khi 8 chữ (Đứng trước anh, Trăng Hoàng Hữu), khi 4 chữ (Giọt sao, Không đề, tháp cúc), khi 5 chữ (Ngày tình yêu, Bài 3 của chùm thơ bà ngoại). Đó là những bài có số âm tiết đều nhau trong mỗi câu và có vần đều đặn. Có thể nói là gần 3/4 tập thơ là những bài thơ tự do hiện đại không lệ thuộc vào số âm tiết và vần, có phần gần với văn xuôi mà vẫn có nhạc điệu. Thơ anh chủ yếu không viết hoa đầu dòng, cũng ít khi chấm câu, đôi khi có những dấu phẩy hiếm hoi. Đặc biệt có một số bài có những câu thơ - tôi nói câu thơ, hiểu theo nghĩa lôgích của ý thơ - gồm rất nhiều dòng. Xin lấy một bài ngắn Sân trường nghiêng để làm một thí dụ. Cả bài chỉ gồm có hai câu thơ dài được chấm câu bằng một dấu chấm (.),số dấu phẩy cũng hiếm hoi:
Sân trường nghiêng
con ơi, bố biết mọi cuộc chia tay Trời đều định trước
bố tự nguyện lùi ra rất xa để mẹ được toàn quyền về con
bố lặng lẽ đến trường con học để được nhìn con từ rất xa, nhìn con rất gần, rồi bố gọi
con ào đến bố một lúc rồi chạy ra chơi với bạn bè
con chơi với sân trường. Cái sân trường cứ nghiêng nghiêng thế nào ấy trong mắt bố
sân trường cứ nghiêng nghiêng mà bố không dám hỏi vì sao.
Thật là đau xót khi hai bố mẹ chia tay nhau, đứa con ở giữa, người bố phải lén đến sân trường nhìn con, và cảm thấy cái sân trường nghiêng đi! Sân trường nghiêng hay trái tim người bố nghiêng!
Trong bài Cho con, có nhiều câu dài, có câu dài tới 7 dòng. Bài Con sông còn có những câu dài hơn nữa. Bài 1 trong chùm thơ bà ngoại cũng là một bài có những câu dài, những bài nói trên là những bài tiêu biểu cho cấu trúc và nhịp thơ Trần Quốc Thực: hiện đại, không lệ thuộc vào các lề luật cũ (số âm tiết, vần), gần văn xuôi mà vẫn có nhạc điệu riêng, có cảm xúc hồn nhiên, không giả tạo. Bằng những câu thơ ấy, Trần Quốc Thực vẫn giữ được cái giọng thơ thầm thĩ tâm tình. Đọc thơ anh, tôi cứ như nghe tiếng rủ rỉ của một dòng sông xa vắng với giọng hát tự nhiên với những nỗi buồn vui tình người./.
(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,