Thơ Inrasara- Những khúc ca đỉnh tháp
Vũ Nho
Có lẽ trong các nhà thơ người dân tộc thiểu số nói riêng và nhà thơ Việt Nam hiện đại nói chung, ít có ai viết về bản thân mình, về dân tộc mình, về miền đất quê hương mình da diết, chân thành và nhiều trăn trở như Phú Trạm Inrasara.
Qua thơ của anh, nhờ thơ của anh mà người đọc biết nhiều hơn đến thằng Klu, đến plây Chakleng, làng Chăm hơn một ngàn năm tuổi, biết đến sông Lu, con sông mẹ của hơn chục dòng sông, biết đến lễ tẩy trần tháng tư, biết đến những ngôi tháp Chàm kỳ lạ “Tháp đang trôi trong hoàng hôn/ chợt mắc cạn/ ở lưng đồi”… Cũng qua thơ In ra sa ra, chúng ta biết đến “41 inư akha Cham K C T” đã từng viết nên những tác phẩm Chăm đầy trí tuệ và cảm xúc, những akayet và ariya trong đó có Glang Anak, Pauh Catvvai “Dòng thơ triết luận - chính trị đầu tiên của nền văn học cổ điển Chăm được biết bằng văn phong của một bậc thầy”: “Glang Anak trăm câu - luận hai trăm năm chưa hết”. Thơ Inrasara cho chúng ta biết đến một vùng quê hương đặc biệt:
Quê hương gầy, quê hương xanh xao
Quê hương không có rặng dừa
thơ mộng của ca dao
Quê hương không có cánh cò xa,
không có bản tình ca thôn dã
Mây trắng. Mặt trời. Gió trùng dương.
Đất. Đá
Quê hương cằn khô, nóng bức
nghèo nàn.
(Quê hương)
Cần phải nói rằng những câu thơ về quê hương như thế này cũng là khá hiếm hoi. Bởi vì thi nhân trong cảm xúc về quê hương thường để cho niềm biết ơn, thành kính dâng lên dào dạt, nên cảm hứng thường là bay bổng, ngôn ngữ là ngôn từ của tụng ca… Inrasara không như vậy. Không ít lần miền đất, miền quê của anh có hiện ra nghèo khó, khắc nghiệt như nó vốn có, hoặc nó được nhìn ở góc nhìn thiên về hiện thực nghèo. Cả cái có và cái không có đều bộc lộ cái nghèo:
Quê hương có những vú đồi khô khốc
Quê hương không có cụm mây che mát
trẻ em đầu húi chọc
Không có giọt mưa cho khát lũ trâu gầy
(Quê hương)
Nỗi băn khoăn, trăn trở về một quê nghèo, quê nhọc nhằn, lam lũ, quê vất vả lo toan chống chọi với bốn mùa cát trắng hanh hao, với biển khơi trùng trùng bão thét, với cánh đồng chỏng trơ, ruộng nẻ chân chim, nắng hè khô khốc… lại là bằng chứng của một tình yêu quê da diết nhất.
Rất nhiều lần nhà thơ viết từ ngôi thứ nhất: Tôi. Không hề ảo tưởng về tôi. Nhưng cũng không đem cái tôi ra trình bày như một con người nhỏ bé, yếu ớt, khoác chiếc áo dày rộng thùng thình khiêm tốn:
Dẫu không là cái đinh gì cả/ tôi vẫn cần thiết có mặt
(ẩn ngữ Pauh Catvvai)
Với một tiểu luận không dài nhưng sắc bén, Inrasara đã điểm danh các khuyết tật Chăm, cũng tựa như Bá Dương từng viết về Người Trung Quốc xấu xí. Dám kể các khuyết tật của dân tộc mình là phải tự tin mình lắm. Và cũng phải yêu dân tộc mình lắm lắm. Lẽ dĩ nhiên cũng phải có tầm đến mức đủ sức nói ra. (Xem Văn hoá - xã hội Chăm, nhà xuất bản Văn học 2003, trang 109). Trong thơ, In ra sa ra hơn ai hết tự hào về Chăm, về dòng máu Chăm ở trong người, về mảnh đất Chăm nơi anh chào đời:
Con là Chăm ngay ban đầu vỡ
tiếng khóc
(còn hơn cả thế: chín tháng mười ngày
trước khi vỡ tiếng khóc)
khi con cắm rễ nơi đây
hay khi con lang bạt tận cùng trời
con cứ là Chăm cả lúc cháy lên cùng
ngọn lửa cuối đời
(ẩn ngữ Pauh Catvvai)
Người con trai Chăm ấy đã từng không giấu giếm quá khứ đầy dằn vặt, trăn trở để tìm lại chính mình, vượt lên chính mình:
Tôi đụng đầu với chiến tranh
Tôi cụng đầu với cơm áo, hiện sinh,
hiện tượng
Tôi chới với giữa dòng ngữ ngôn
hoang đãng
Rồi cuộn chìm trong thung lũng tình
yêu em
Tôi đánh rơi thế giới và tôi lạc mất tôi
Tôi lạc mất điệu đua buk, câu a riya,
bụi ớt
Trái tim đui
Tôi như người bị vứt
Rớt giữa cánh rừng hoang trụi lá
mùa xanh
Rồi tôi ngóc đầu dậy và tôi trườn lên
Rồi tôi rướn mình khỏi hố hang
quá khứ
(Đứa con của đất)
Bài thơ “Ngày 8: sinh chỉ một lần” tiếp nối mạch trần tình, nói về cuộc đời thi sĩ Inrasara. Bài thơ có rất nhiều con số, nhiều lần đếm, nhiều cách đếm các sự kiện của một con người. Nhưng đây chính là bài thơ đặc biệt về quê hương, nơi cha ông đã sinh ra lớn và chết, nơi thi nhân sinh ra và sẽ chết “chỉ một lần” dù đã có cả trăm lần dứt áo rồi quay lại. Đó cũng là một giọng điệu chẳng giống ai khi ca ngợi quê hương.
Với dân tộc Chăm, với vương quốc Chăm pa một thời huy hoàng, vàng son thì những ngọn tháp Chàm là biểu tượng đầy tự hào về văn hoá, kiến trúc. Bảy trăm năm tháp thét gào với bão/ Ba trăm năm tháp lãng du thế giới cỏ cây/ ngàn sau tháp chuyện trò cát bụi (Tháp Chàm muôn mặt). Ai qua mảnh đất miền Trung mà không bị những ngọn tháp cổ kính ấy ám ảnh và gợi bao niềm hoài cổ, những bâng khuâng về thế cuộc bể dâu. Với các khách du, Tháp Chàm chỉ là những cái tháp gầy mòn, là những giọt tháp rớt xuống từ trời xanh, là những dấu chấm than (Chế Lan Viên, Văn Cao, Thu Nguyệt). Chỉ với Inrasara, tháp Chàm mới được khám phá là Tháp Chàm muôn mặt. Nó là tháp nắng, tháp hoang, tháp bay, tháp đổ, là chim, là một con người:
Bóng của tháp như dòng sông ma
Trườn qua đêm tối những triều đại
đánh thức ký ức các dân tộc
duyên nợ (hay kông nợ nần gì) với tháp
Mắt mở trừng trừng vậy thôi -
không nói
Tháp ngậm im lặng màu tro
(Tháp Chàm muôn mặt)
Phải là người con Chăm, phải lặn sâu vào bản thể Chăm, văn hoá và cả tín ngưỡng, lịch sử Chăm mới thấy hết được cảnh ngộ của những ngôi tháp ruột thịt:
Sah Inư cô quả, Tháp Đôi còn vợ
mất con, Dương Long đau đời mãn tính
Mỹ Sơn trọng thương trong chiến tranh
Hôm nay mặc áo người
po Klaung Ga rai vợ con đủ đầy
Yang Praung trên cao ấy ngàn năm
tủi phận con rơi
(Sầu ca trên đỉnh tháp)
Cũng với tinh thần Chăm tuyệt đối ấy, nhà thơ mới có thể thấy được điều nguy cơ chông chênh rất nghịch lý này về các ngọn tháp: “Đủ đầy cả thôi mà cứ muốn thất truyền” (Tháp Chàm muôn mặt).
Những ngọn tháp chưa bao giờ lại đa hình đa dạng và đa chiều và xuất hiện nhiều đến thế trong thơ In ra sa ra. Với dự cảm về sự thất truyền, nhà thơ tự cảnh báo mình và cũng là cảnh báo mọi người:
Khi bất chợt bác tiều phu nhớ
Dân buôn lậu nhớ - nhà viết sử nhớ
Hồn tháp đã bay xa
(Tháp hoang)
Thái độ với quá khứ, với lịch sử, In ra sa ra xác định dứt khoát, rõ ràng. Anh buồn nỗi buồn của những người đồng bào “Tự chấm toạ độ đời mình trong sương mù quá khứ” (Quê hương 5). Anh đau nỗi đau mặc cảm thân phận những đứa con của “mảnh vụn văn minh tái chế” (Bất ngờ nhiều cái nghĩ tối nay. ẩn ngữ Pauh Catvvai). Nhưng anh cũng tự tin, rắn rỏi, dứt khoát nhìn vào hiện thực vươn tới tương lai: Chúng ta nhìn vào mắt nhau không mộng mị/ Ký ức chở số phận chúng ta rời bỏ ga buồn (Hạt mùa mới). Một tinh thần khoẻ khoắn, một thái độ minh triết, thiết thực:
Ta không thể đi vào tương lai bằng
giấc mê Quá khứ
Đi vào ngày mai bằng niềm tiếc
ngày qua
Không thể bay cao khi hồn ta còn
trì nặng sâu mọt căm thù
Không thể đi xa khi chân còn kéo lê sợ
tơ kiêu hãnh hão
(Quê hương 6)
Tinh thần minh triết ấy ta cũng có thể tìm thấy trong bài thơ Ngụ ngôn mùa Đông:
Trăm đau nhỏ nhặt ni/ không làm nên
tâm hồn lớn
Nghìn suy nghĩ thấp bé ni/ trì níu tư
tưởng bay cao
Mớ mơ ước vụn vặt ni/ sói mòn mênh
mang hoài vọng
Bao thương ghét lắt nhắt ni/ giết chết
tình yêu bao la
Đối với một nhà thơ thì quan trọng nhất là tìm cho mình một con đường đi vào thế giới thi ca. Con đường ấy Inrasara đã khai mở thật thành công với tập thơ Tháp nắng. Tưởng cũng cần nhắc lại ở đây báo cáo tổng kết sáng tác và giải thưởng văn học của Hội Nhà văn nhận xét về Inrasara: “Với thơ, anh xuất hiện vài năm nay và nhanh chóng thu hút được sự chú ý của bạn đọc cả nước. Cảm xúc anh vừa dào dạt, hồn nhiên lại vừa giàu phẩm chất trí tuệ và tính khái quát. Các bài thơ của anh không ngắn nhưng không sa vào kể lể. Thơ anh giàu sức gợi. Gợi vào cái bát ngát hoang dại của kiếp đá, kiếp người, gợi cả vào cõi xa thẳm của những miền cố quận trong không gian, thời gian. Một tình cảm Chăm sâu đậm, u uẩn trong thơ Inrasara quả là đã góp vào thơ Việt Nam một hương vị đáng quý. Rất đáng quý!” (1997). Những phẩm chất ấy của thơ mình vẫn được Inrasara từng bước hoàn thiện, làm phong phú thêm, giàu có thêm qua mỗi tập thơ sau. Đến “Lễ tẩy trần tháng tư”, anh có khát vọng khai mở một vòm trời khác. Tuy nhiên, dù tăng tính triết luận, sự suy tưởng, tăng chất văn xuôi, tăng sự phóng túng và chìm đắm hơn nữa vào cảm xúc, thậm chí có lúc cao ngạo: “Ta chối từ ta để ta được là ta/ cô đơn, cô đơn/ Trên miền cao tư tưởng”. (Hành trình, 1987) thì Inrasara vẫn đang đi trên “Con đường nhọc nhằn dẫn lối con đường xanh”. Rất nhiều câu hỏi anh đặt ra cho mình và cho bạn đọc của anh:
- Có gì liên quan giữa bắp chân tròn thô đậm rơm rạ em với cặp giò thon thả của vũ nữ ápxaraxưa?
- Có gì liên quan giữa vầng trán u uẩn bác chài An Giang với cằm ngạo nghễ Shiva?
- Có dính dáng gì giữa ngang tàng vòm tóc Bồng Nga với Chền ễn bụng bạn tôi?
(Bất ngờ nhiều cái nghĩ tối nay)
- Trước nhay nháy nhúm sáng dối lừa
Chúng ta chống đối/ hùa theo/ đồng loã
Chúng ta phạm nhân/ quan toà
Chúng ta bên lề
Ai hiểu được?!
(Trong khoảng tối của gió mùa)
- Đám mây có mang mưa linh ẩn làm nẩy mầm hạt mùa mới?
Chúng đang trôi về đâu?
(Cư sĩ và đám mây ký ức)
Những câu hỏi không chỉ liên quan đến một cá nhân, cũng không phải chỉ liên quan đến một cộng đồng, một dân tộc. Đó là những câu hỏi của thời đại, của nhân loại mà người đại diện nhạy cảm nhất không thể nhận lãnh trách nhiệm phát ngôn.
Xưa
Dưới cái rây lịch sử không lồ
Cha lọt sàng sống sót
…
Cha giấu mặt sau trang thơ
Ngăn tiếng nấc
(Tam tấu ở ngưỡng thế kỷ XXI)
Bây giờ Inrasara của chúng ta ngẩng cao đầu trong trang viết, kiêu hãnh về mình, kiêu hãnh về Chăm, về những tháp Chàm bừng lên tháp nắng. Anh giác ngộ “Không ai có thể hát thay chúng ta”. Tiếng hát của anh cất lên như một bài kinh lễ nguyện cầu thiêng liêng mà người chủ lễ hát lên, thét lên “không còn từ để gọi. Ông thét lên”, trong lễ tẩy trần:
… bầy trâu gặm cỏ đồi xa dỏng tai nghe
Oan hồn bị lãng quên ngàn năm đội tro than đứng dậy
Cánh chim giật mình bay ra vội vã
quay lại
Tiếng hát ấy hoà trộn cả tráng ca và bi ca, sầu ca và hoan ca, thấm đẫm quá khứ lịch sử, tràn trề hiện tại, thăm thẳm tương lai. Đó là bài ca cuộc sống.
(Phụ bản thơ - Báo Văn nghệ)
Vũ Nho
Có lẽ trong các nhà thơ người dân tộc thiểu số nói riêng và nhà thơ Việt Nam hiện đại nói chung, ít có ai viết về bản thân mình, về dân tộc mình, về miền đất quê hương mình da diết, chân thành và nhiều trăn trở như Phú Trạm Inrasara.
Qua thơ của anh, nhờ thơ của anh mà người đọc biết nhiều hơn đến thằng Klu, đến plây Chakleng, làng Chăm hơn một ngàn năm tuổi, biết đến sông Lu, con sông mẹ của hơn chục dòng sông, biết đến lễ tẩy trần tháng tư, biết đến những ngôi tháp Chàm kỳ lạ “Tháp đang trôi trong hoàng hôn/ chợt mắc cạn/ ở lưng đồi”… Cũng qua thơ In ra sa ra, chúng ta biết đến “41 inư akha Cham K C T” đã từng viết nên những tác phẩm Chăm đầy trí tuệ và cảm xúc, những akayet và ariya trong đó có Glang Anak, Pauh Catvvai “Dòng thơ triết luận - chính trị đầu tiên của nền văn học cổ điển Chăm được biết bằng văn phong của một bậc thầy”: “Glang Anak trăm câu - luận hai trăm năm chưa hết”. Thơ Inrasara cho chúng ta biết đến một vùng quê hương đặc biệt:
Quê hương gầy, quê hương xanh xao
Quê hương không có rặng dừa
thơ mộng của ca dao
Quê hương không có cánh cò xa,
không có bản tình ca thôn dã
Mây trắng. Mặt trời. Gió trùng dương.
Đất. Đá
Quê hương cằn khô, nóng bức
nghèo nàn.
(Quê hương)
Cần phải nói rằng những câu thơ về quê hương như thế này cũng là khá hiếm hoi. Bởi vì thi nhân trong cảm xúc về quê hương thường để cho niềm biết ơn, thành kính dâng lên dào dạt, nên cảm hứng thường là bay bổng, ngôn ngữ là ngôn từ của tụng ca… Inrasara không như vậy. Không ít lần miền đất, miền quê của anh có hiện ra nghèo khó, khắc nghiệt như nó vốn có, hoặc nó được nhìn ở góc nhìn thiên về hiện thực nghèo. Cả cái có và cái không có đều bộc lộ cái nghèo:
Quê hương có những vú đồi khô khốc
Quê hương không có cụm mây che mát
trẻ em đầu húi chọc
Không có giọt mưa cho khát lũ trâu gầy
(Quê hương)
Nỗi băn khoăn, trăn trở về một quê nghèo, quê nhọc nhằn, lam lũ, quê vất vả lo toan chống chọi với bốn mùa cát trắng hanh hao, với biển khơi trùng trùng bão thét, với cánh đồng chỏng trơ, ruộng nẻ chân chim, nắng hè khô khốc… lại là bằng chứng của một tình yêu quê da diết nhất.
Rất nhiều lần nhà thơ viết từ ngôi thứ nhất: Tôi. Không hề ảo tưởng về tôi. Nhưng cũng không đem cái tôi ra trình bày như một con người nhỏ bé, yếu ớt, khoác chiếc áo dày rộng thùng thình khiêm tốn:
Dẫu không là cái đinh gì cả/ tôi vẫn cần thiết có mặt
(ẩn ngữ Pauh Catvvai)
Với một tiểu luận không dài nhưng sắc bén, Inrasara đã điểm danh các khuyết tật Chăm, cũng tựa như Bá Dương từng viết về Người Trung Quốc xấu xí. Dám kể các khuyết tật của dân tộc mình là phải tự tin mình lắm. Và cũng phải yêu dân tộc mình lắm lắm. Lẽ dĩ nhiên cũng phải có tầm đến mức đủ sức nói ra. (Xem Văn hoá - xã hội Chăm, nhà xuất bản Văn học 2003, trang 109). Trong thơ, In ra sa ra hơn ai hết tự hào về Chăm, về dòng máu Chăm ở trong người, về mảnh đất Chăm nơi anh chào đời:
Con là Chăm ngay ban đầu vỡ
tiếng khóc
(còn hơn cả thế: chín tháng mười ngày
trước khi vỡ tiếng khóc)
khi con cắm rễ nơi đây
hay khi con lang bạt tận cùng trời
con cứ là Chăm cả lúc cháy lên cùng
ngọn lửa cuối đời
(ẩn ngữ Pauh Catvvai)
Người con trai Chăm ấy đã từng không giấu giếm quá khứ đầy dằn vặt, trăn trở để tìm lại chính mình, vượt lên chính mình:
Tôi đụng đầu với chiến tranh
Tôi cụng đầu với cơm áo, hiện sinh,
hiện tượng
Tôi chới với giữa dòng ngữ ngôn
hoang đãng
Rồi cuộn chìm trong thung lũng tình
yêu em
Tôi đánh rơi thế giới và tôi lạc mất tôi
Tôi lạc mất điệu đua buk, câu a riya,
bụi ớt
Trái tim đui
Tôi như người bị vứt
Rớt giữa cánh rừng hoang trụi lá
mùa xanh
Rồi tôi ngóc đầu dậy và tôi trườn lên
Rồi tôi rướn mình khỏi hố hang
quá khứ
(Đứa con của đất)
Bài thơ “Ngày 8: sinh chỉ một lần” tiếp nối mạch trần tình, nói về cuộc đời thi sĩ Inrasara. Bài thơ có rất nhiều con số, nhiều lần đếm, nhiều cách đếm các sự kiện của một con người. Nhưng đây chính là bài thơ đặc biệt về quê hương, nơi cha ông đã sinh ra lớn và chết, nơi thi nhân sinh ra và sẽ chết “chỉ một lần” dù đã có cả trăm lần dứt áo rồi quay lại. Đó cũng là một giọng điệu chẳng giống ai khi ca ngợi quê hương.
Với dân tộc Chăm, với vương quốc Chăm pa một thời huy hoàng, vàng son thì những ngọn tháp Chàm là biểu tượng đầy tự hào về văn hoá, kiến trúc. Bảy trăm năm tháp thét gào với bão/ Ba trăm năm tháp lãng du thế giới cỏ cây/ ngàn sau tháp chuyện trò cát bụi (Tháp Chàm muôn mặt). Ai qua mảnh đất miền Trung mà không bị những ngọn tháp cổ kính ấy ám ảnh và gợi bao niềm hoài cổ, những bâng khuâng về thế cuộc bể dâu. Với các khách du, Tháp Chàm chỉ là những cái tháp gầy mòn, là những giọt tháp rớt xuống từ trời xanh, là những dấu chấm than (Chế Lan Viên, Văn Cao, Thu Nguyệt). Chỉ với Inrasara, tháp Chàm mới được khám phá là Tháp Chàm muôn mặt. Nó là tháp nắng, tháp hoang, tháp bay, tháp đổ, là chim, là một con người:
Bóng của tháp như dòng sông ma
Trườn qua đêm tối những triều đại
đánh thức ký ức các dân tộc
duyên nợ (hay kông nợ nần gì) với tháp
Mắt mở trừng trừng vậy thôi -
không nói
Tháp ngậm im lặng màu tro
(Tháp Chàm muôn mặt)
Phải là người con Chăm, phải lặn sâu vào bản thể Chăm, văn hoá và cả tín ngưỡng, lịch sử Chăm mới thấy hết được cảnh ngộ của những ngôi tháp ruột thịt:
Sah Inư cô quả, Tháp Đôi còn vợ
mất con, Dương Long đau đời mãn tính
Mỹ Sơn trọng thương trong chiến tranh
Hôm nay mặc áo người
po Klaung Ga rai vợ con đủ đầy
Yang Praung trên cao ấy ngàn năm
tủi phận con rơi
(Sầu ca trên đỉnh tháp)
Cũng với tinh thần Chăm tuyệt đối ấy, nhà thơ mới có thể thấy được điều nguy cơ chông chênh rất nghịch lý này về các ngọn tháp: “Đủ đầy cả thôi mà cứ muốn thất truyền” (Tháp Chàm muôn mặt).
Những ngọn tháp chưa bao giờ lại đa hình đa dạng và đa chiều và xuất hiện nhiều đến thế trong thơ In ra sa ra. Với dự cảm về sự thất truyền, nhà thơ tự cảnh báo mình và cũng là cảnh báo mọi người:
Khi bất chợt bác tiều phu nhớ
Dân buôn lậu nhớ - nhà viết sử nhớ
Hồn tháp đã bay xa
(Tháp hoang)
Thái độ với quá khứ, với lịch sử, In ra sa ra xác định dứt khoát, rõ ràng. Anh buồn nỗi buồn của những người đồng bào “Tự chấm toạ độ đời mình trong sương mù quá khứ” (Quê hương 5). Anh đau nỗi đau mặc cảm thân phận những đứa con của “mảnh vụn văn minh tái chế” (Bất ngờ nhiều cái nghĩ tối nay. ẩn ngữ Pauh Catvvai). Nhưng anh cũng tự tin, rắn rỏi, dứt khoát nhìn vào hiện thực vươn tới tương lai: Chúng ta nhìn vào mắt nhau không mộng mị/ Ký ức chở số phận chúng ta rời bỏ ga buồn (Hạt mùa mới). Một tinh thần khoẻ khoắn, một thái độ minh triết, thiết thực:
Ta không thể đi vào tương lai bằng
giấc mê Quá khứ
Đi vào ngày mai bằng niềm tiếc
ngày qua
Không thể bay cao khi hồn ta còn
trì nặng sâu mọt căm thù
Không thể đi xa khi chân còn kéo lê sợ
tơ kiêu hãnh hão
(Quê hương 6)
Tinh thần minh triết ấy ta cũng có thể tìm thấy trong bài thơ Ngụ ngôn mùa Đông:
Trăm đau nhỏ nhặt ni/ không làm nên
tâm hồn lớn
Nghìn suy nghĩ thấp bé ni/ trì níu tư
tưởng bay cao
Mớ mơ ước vụn vặt ni/ sói mòn mênh
mang hoài vọng
Bao thương ghét lắt nhắt ni/ giết chết
tình yêu bao la
Đối với một nhà thơ thì quan trọng nhất là tìm cho mình một con đường đi vào thế giới thi ca. Con đường ấy Inrasara đã khai mở thật thành công với tập thơ Tháp nắng. Tưởng cũng cần nhắc lại ở đây báo cáo tổng kết sáng tác và giải thưởng văn học của Hội Nhà văn nhận xét về Inrasara: “Với thơ, anh xuất hiện vài năm nay và nhanh chóng thu hút được sự chú ý của bạn đọc cả nước. Cảm xúc anh vừa dào dạt, hồn nhiên lại vừa giàu phẩm chất trí tuệ và tính khái quát. Các bài thơ của anh không ngắn nhưng không sa vào kể lể. Thơ anh giàu sức gợi. Gợi vào cái bát ngát hoang dại của kiếp đá, kiếp người, gợi cả vào cõi xa thẳm của những miền cố quận trong không gian, thời gian. Một tình cảm Chăm sâu đậm, u uẩn trong thơ Inrasara quả là đã góp vào thơ Việt Nam một hương vị đáng quý. Rất đáng quý!” (1997). Những phẩm chất ấy của thơ mình vẫn được Inrasara từng bước hoàn thiện, làm phong phú thêm, giàu có thêm qua mỗi tập thơ sau. Đến “Lễ tẩy trần tháng tư”, anh có khát vọng khai mở một vòm trời khác. Tuy nhiên, dù tăng tính triết luận, sự suy tưởng, tăng chất văn xuôi, tăng sự phóng túng và chìm đắm hơn nữa vào cảm xúc, thậm chí có lúc cao ngạo: “Ta chối từ ta để ta được là ta/ cô đơn, cô đơn/ Trên miền cao tư tưởng”. (Hành trình, 1987) thì Inrasara vẫn đang đi trên “Con đường nhọc nhằn dẫn lối con đường xanh”. Rất nhiều câu hỏi anh đặt ra cho mình và cho bạn đọc của anh:
- Có gì liên quan giữa bắp chân tròn thô đậm rơm rạ em với cặp giò thon thả của vũ nữ ápxaraxưa?
- Có gì liên quan giữa vầng trán u uẩn bác chài An Giang với cằm ngạo nghễ Shiva?
- Có dính dáng gì giữa ngang tàng vòm tóc Bồng Nga với Chền ễn bụng bạn tôi?
(Bất ngờ nhiều cái nghĩ tối nay)
- Trước nhay nháy nhúm sáng dối lừa
Chúng ta chống đối/ hùa theo/ đồng loã
Chúng ta phạm nhân/ quan toà
Chúng ta bên lề
Ai hiểu được?!
(Trong khoảng tối của gió mùa)
- Đám mây có mang mưa linh ẩn làm nẩy mầm hạt mùa mới?
Chúng đang trôi về đâu?
(Cư sĩ và đám mây ký ức)
Những câu hỏi không chỉ liên quan đến một cá nhân, cũng không phải chỉ liên quan đến một cộng đồng, một dân tộc. Đó là những câu hỏi của thời đại, của nhân loại mà người đại diện nhạy cảm nhất không thể nhận lãnh trách nhiệm phát ngôn.
Xưa
Dưới cái rây lịch sử không lồ
Cha lọt sàng sống sót
…
Cha giấu mặt sau trang thơ
Ngăn tiếng nấc
(Tam tấu ở ngưỡng thế kỷ XXI)
Bây giờ Inrasara của chúng ta ngẩng cao đầu trong trang viết, kiêu hãnh về mình, kiêu hãnh về Chăm, về những tháp Chàm bừng lên tháp nắng. Anh giác ngộ “Không ai có thể hát thay chúng ta”. Tiếng hát của anh cất lên như một bài kinh lễ nguyện cầu thiêng liêng mà người chủ lễ hát lên, thét lên “không còn từ để gọi. Ông thét lên”, trong lễ tẩy trần:
… bầy trâu gặm cỏ đồi xa dỏng tai nghe
Oan hồn bị lãng quên ngàn năm đội tro than đứng dậy
Cánh chim giật mình bay ra vội vã
quay lại
Tiếng hát ấy hoà trộn cả tráng ca và bi ca, sầu ca và hoan ca, thấm đẫm quá khứ lịch sử, tràn trề hiện tại, thăm thẳm tương lai. Đó là bài ca cuộc sống.
(Phụ bản thơ - Báo Văn nghệ)
Love mickey,