Người Yên Bái nói về thơ
Hoàng Việt Quân
Những ngày đầu tháng 7 nắng nóng ngột ngạt, oi bức. Nhưng rồi trời cũng khéo chiều người làm thơ. Đêm 8-7 trời đột ngột đổ mưa để sáng sớm hôm sau 9-7-2004 không khí dịu hẳn. Đông đủ hội viên thơ, lãnh đạo Hội và các đại biểu của Ban Tuyên giáo Tỉnh, ngành giáo dục cùng một số người yêu thơ trong tỉnh đã hào hứng đến tham dự Hội thảo thơ tổ chức tại trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Yên Bái.
Lời đề dẫn của nhà thơ Ngọc Bái
Mở đầu là lời đề dẫn chương trình hội thảo “Những vấn đề đặt ra đối với thơ Yên Bái” của nhà thơ Ngọc Bái, Chủ tịch Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh. Ông nêu rõ yêu cầu, mục đích: “… việc tổ chức một cuộc hội thảo thơ là yêu cầu có tính chuyên môn trước tình hình hiện nay. Với mục đích tự nhận diện, tự đánh giá diện mạo thơ chung và tự liên hệ đối với từng tác giả, nhằm đổi mới thơ, đáp ứng yêu cầu chung của công chúng”. Ông đặt ra các vấn đề cơ bản cần được hội thảo làm sáng rõ như: vấn đề mối quan hệ giữa người viết và bạn đọc, để thấy “thơ ca có phẩm cấp của nó”, “thơ phải định hướng về mặt thẩm mỹ, không được phép dễ dãi”; vấn đề về mối quan hệ dân tộc và hiện đại, truyền thống và cách tân, từ đó dẫn đến định hướng “đối với thơ ca đương đại, đồng thời vừa chống sự bảo thủ sáo mòn vừa phải chống tuyệt đối hoá hiện đại”; vấn đề về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức “làm sao cho hài hoà”, hơn thế thơ “phải có nội dung tư tưởng, phải sử dụng đắc đạo ngôn ngữ được biểu hiện qua hình thức”, “thơ là nghệ thuật ngôn ngữ bậc cao”; vấn đề phân biệt giữa thơ hay và thơ dở, giữa tính nghiệp dư và tính chuyên nghiệp, đòi hỏi người làm thơ phải nâng cao chất lượng sáng tác “thể hiện trách nhiệm của người viết và người thẩm định tác phẩm”; vấn đề “làm sao để thơ tiếp cận với cuộc sống, trở thành thơ có ích” cho bạn đọc; vấn đề “văn hoá đọc” trong nhà trường, “làm sao nắm bắt được thời sự văn học bổ trợ cho giảng dạy”; vấn đề thơ Yên Bái với lời nhận định “so với mặt bằng thơ chung của cả nước thì chưa lạc hậu, nhưng chưa thật khởi sắc, còn chưa bắt nhập được với ngôn ngữ tiên tiến đang đặt ra” có đúng không? Vấn đề “bếp núc” của lao động thơ v.v…
Tóm tắt 4 bài tham luận gan ruột
1. Hán Trung Châu đọc bài tham luận “Vài suy nghĩ tản mạn về thơ hiện nay”, thực chất ông ít nhiều đã động tới “quan niệm về thơ và sáng tác thơ” vốn là một vấn đề “rất lớn, rất rộng, rộng lớn đến… mênh mông”. Nhưng ông không đi sâu bàn luận về quan niệm (định nghĩa) thơ bởi vì “qua các nhận xét, các công trình từ khi có thơ cho đến nay, trong nước và ngoài nước người ta cũng đã gọi tên, phân tích, giải thích… cả rồi”. Thậm chí, ông khẳng định: “Không có vấn đề gì hôm nay chúng ta đặt ra mà trước đó chưa tìm cách giải quyết”. Tuy vậy, “thực tế phát triển thơ ca luôn đặt ra những vấn đề mới, đòi hỏi phải thích ứng, phải thoả mãn quy luật văn hoá và xã hội”. Từ những lý lẽ trên, ông dẫn dắt: “Như vậy thì vấn đề đặt ra là đối với thơ, một mặt chúng ta kế thừa những gì đã có, đã xác định và phát huy sự sáng tạo với một mức độ có thể. Mặt khác, chúng ta có thể tìm tòi một lối đi, một cách đi, một kiểu thể hiện… nói to tát là “Đổi mới” cho thơ, suy cho cùng cũng chỉ có hai hướng đó”. Để làm rõ vấn đề, ông nêu luận điểm “đổi mới là liên tục, là không có điểm dừng, thậm chí, đổi mới ngay cả khi nó vừa ra đời”. Với vấn đề đi tìm cái mới, đổi mới cho thơ, ông tán đồng và “tự mình suy ngẫm cùng ý nghĩ của Nguyễn Đình Thi từ năm 1949: “Tôi cho rằng chúng ta không nên lo thơ đi vào hình thức này hay hình thức khác. Mà trước hết nên lo sao thơ phải nói lên những tình cảm mới của thời đại. Dùng bất cứ hình thức nào miễn là thơ diễn tả được đúng tâm hồn con người mới ngày nay”.
2. Hoàng Bảo trình bày bản tham luận bằng những chiêm nghiệm 40 năm làm thơ của mình. Ông tâm sự: “… tôi tâm đắc một điều thơ là nghệ thuật về câu chữ giúp cho ta biểu đạt được tư tưởng tình cảm một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc - kín đáo mà mạnh mẽ - chân thành mà rất lãng mạn. Khả năng ấy làm cho ta yêu thơ và thích làm thơ...
Về mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung trong thơ, tác giả nói: “Làm thơ tôi nhận thức được là đem cái tôi đến với cái ta và làm sao hoà được vào cái ta thì bài thơ mới có chỗ đứng. Khác với các loại hình nghệ thuật khác - thơ nói được về cái tôi, cái riêng tư, cái bản ngã nhiều nhất. Nhưng chỉ là của tôi, riêng tôi thì chỉ mình anh đọc mà thôi. Điều cuối cùng tác giả muốn nêu thêm là quan niệm về thơ hiện đại: “Tôi nghĩ nếu có thơ gọi là hiện đại thì đó là những bài thơ hay cả cổ lẫn kim. Thơ hay là thơ hàm xúc, chứa được nhiều nghĩa nhất, câu chữ kiệm nhất, gợi cảm nhất. Bất kể có vần hay không vần, niêm luật hay không niêm luật”.
3. Ngọc Chấn đọc bài tham luận “Hình ảnh thơ, chi tiết trong thơ” một cách hào hứng, đầy tính biện minh: “không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi thơ là đặc sản của tâm hồn, thơ là thứ rượu đặc biệt được chưng cất từ trái tim của thi nhân. Vì thế thơ khác với văn xuôi, nó được chắt lọc một cách kỹ càng. Có khá nhiều người quan niệm thơ một cách dễ dãi chỉ cần có vần có điệu, ấy là thơ. Tôi nghĩ cái hay của thơ là sự khám phá. Ngôn ngữ của thơ là những phát hiện mới mẻ. Cái gì biết rồi thì không nói nữa. Cái gì nói ra thì phải đem đến những thông điệp, những tần số giao động cần thiết của tâm hồn. Vì vậy thơ khác với các loại hình nghệ thuật khác ở chỗ: ý Tại Ngôn Ngoại. Tính chất hoán dụ, phúng dụ ở thơ rất hay đề cập tới tính tư tưởng trong thơ”. Nói về chi tiết trong thơ, Ngọc Chấn khẳng định: “Thơ từ cổ chí kim - từ Đông sang Tây đều chú trọng đến chi tiết. Thơ thiếu chi tiết chẳng khác gì hoa không hương, cây không sắc, vì thế làm thơ thật khó”.
Nhận xét về tình hình thơ của Yên Bái hiện nay, Ngọc Chấn cho rằng: “Việc cấu tứ, lập tứ còn chung chung, chưa chặt chẽ. Lời thơ còn quá dễ dãi, ít hình ảnh nói hộ bản chất nên thơ dễ rơi vào quên lãng”. Tuy nhiên, anh cũng xác nhận: “Tôi thấy có nhiều cây bút thơ trưởng thành xuất hiện từ những năm 80 về trước có thành tựu, ở họ có những đóng góp, định hình cho thơ ca như: Vũ Chấn Nam, Huyền Sâm, Lê Vân, Ngọc Bái, Dương Soái, Hoàng Bảo, Bích Thư, Thế Chửng. Và sau này như Ngọc Loan, Hải Yến, Thu Hương, Vũ Quý… đã có nhiều suy ngẫm viết để đi tới đích, tải một cái gì”.
Vũ Quý tỏ ra trực diện với những vấn đề của thơ hiện nay khi trình bày tham luận “Nhớ thơ để nhận diện thơ Yên Bái”. Anh nêu các yếu tố ảnh hưởng đến thơ Việt hiện đại, chủ yếu là hai yếu tố. Thứ nhất là ảnh hưởng từ dân ca, ca dao. Anh nêu nguyên nhân sáng tạo và đặc điểm của loại hình này là: “Trong phút thăng thiên nào đó của tinh thần, người ta thích nói vần, nói thơ. Có thể là phút hứng khởi của hồn, hình như ngôn ngữ được âm nhạc và tiết tấu tiếp sức. Tính hiệu quả của cách nói thơ khích lệ làm cho người ta cứ có hoàn cảnh kích thích làm nên thơ. Thơ lúc làm, thơ lúc ăn, thơ lúc vui, thơ lúc buồn, nói chung ở các trạng thái ai ái ố hỉ nộ… người ta đều dùng thơ để giãi bày lòng mình. Trên cơ sở đó, anh đánh giá: “Thơ Yên Bái ta chưa thoát xa hoàn cảnh trên, nhiều bài gọi là thơ nhưng đọc xong gần như ngữ nghĩa nằm ngay tại văn bản (ngôn ngữ nghĩa đen), mặc dù có vần điệu mùi mẫn nhưng không gây sự ám ảnh”.
Những lời phát biểu, tham luận nhiệt tình, tâm huyết
Nhà thơ Dương Soái: Ngọc Bái nói đến thơ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp. Vậy thế nào là thơ chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp? Chuyên nghiệp là chỉ nói về người biên tập, chứ không thể nói về người làm thơ... Thành nhà thơ hay không đâu có phải là cứ in rất nhiều sách. Cái gì trong bối cảnh thì chúng ta không thể bắt con người tách ra khỏi bối cảnh. Thơ xuất phát từ cách nhìn riêng của từng người trong bối cảnh đó, cảm xúc thành thơ, nhưng người nói ra được những cảm xúc, suy nghĩ của mình nhập chung với mọi người thì thành bài thơ hay, thành nhà thơ.
Bùi Hồng Sính: Ai chẳng muốn làm thơ hay hơn, nhưng nhiều khi muốn chẳng được. Thơ phải có trình tự, có thời gian mới hay hơn. Cụ Hồ viết “Nhật ký trong tù”, Cụ gọi là nhật ký chứ có nói là thơ đâu mà vẫn hay. Các đồng chí làm công tác biên tập phải rất chú ý, nếu không chỉ thấy thơ mình hay mà thơ người khác không hay, phải cố gắng khiêm tốn hơn nữa.
Ngọc Bái: ý tôi nói những bài thơ in ra phải mang tính chuyên nghiệp, chứ không phân biệt người làm thơ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp. Tôi rất nhất trí với anh Dương Soái là thơ thời chiến tranh vẫn là dòng thơ chủ đạo.
Ngọc Loan: Theo tôi việc hội thảo thơ hôm nay là một sinh hoạt rất hay. Có những ý kiến không nhất trí với nhau là chuyện bình thường. Tôi không kéo chiếu ngồi chung với các nhà thơ, đừng gọi tôi là nhà thơ, nhưng tôi yêu thơ, làm thơ theo cảm nhận, cảm xúc của mình. Các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận cũng không phải là nhà thơ chuyên nghiệp. Ta làm thơ cốt nói được cái tâm, cái cảm của mình. Có người thích đăng thơ, có người không nhưng không phải người ta thích đăng vì tiền đâu. Tôi vẫn chưa nhất trí với anh Vũ Quý. Cứ đâu thơ phải nói được điều thâm thúy, có bài chỉ nói tình cảm chân thành thôi mà thơ được người ta nhớ đến. Cái gì nói đến tâm, đến tình, hoàn cảnh người ta, hoặc phục vụ được cách mạng, đất nước, con người là được. Có thời chê thơ Bút Tre, nhưng thơ Bút Tre lại sống, dùng thơ ông để quên được những gian lao vất vả trong chiến tranh.
Lê Vân: Thế nào là thơ hay thì vô cùng nhưng cũng có ngưỡng của nó. Một bài thơ có vài ba câu hay là được. Gần đây, biên tập thơ trong tạp chí của ta có đa dạng, có cái riêng cái chung. Hội thảo có ý kiến đúng, có ý kiến chưa thật hoàn chỉnh. Ngày xưa chủ trương làm sắn mà không có thơ sắn thì trên ai duyệt kinh phí cho in đâu? Thơ của anh em trẻ hôm nay không cần tuyên truyền, nhưng cánh già chúng tôi cứ đọc. Tôi ở quê, đưa tạp chí “Văn nghệ Yên Bái” ra cho họ xem, họ đều khen hay cả. Thơ của người 80 tuổi mà hay dù không tặng thì tôi cứ tự tìm đọc, thơ người trẻ cũng thế, lớp này mất đi có lớp sau nối tiếp. Tôi nhất trí làm thơ không phải vì tiền, không phải vì cái danh, mà vì yêu thích mà có ý thức viết.
Vũ Chấn Nam: Thơ phải có cảm xúc và vốn sống. Thơ có cảm xúc mà không vốn sống thì chưa chắc có thơ hay. Nữ sĩ Anh Thơ có lần nói với cháu: “Cháu ạ! Mỗi tập thơ cũng chỉ được vài ba, mỗi bài chỉ được một đôi câu, thế là hạnh phúc lắm rồi”. Với người làm thơ, riêng cá nhân tôi đã đi được 45 năm rồi, đã bước chân vào báo Văn nghệ rồi thì thấy thơ không xếp hạng một hạng hai đâu, không ai làm thầy được ai đâu. Công việc của chúng ta là cứ thầm lặng viết, luôn có ý thức nâng cao. Không có thơ toàn bích, không có pháp lệnh nào bắt người ta đọc thơ. Thơ hay người ta tìm đọc.
Trịnh Thoại: Tác giả đến với thơ từ rất nhiều nguồn, chủ yếu có năng khiếu từ tuổi học trò, nên biên tập cần chú ý đối tượng này. Người biên tập khác nhau nên chất lượng thơ được in cũng khác nhau. Ngày xưa ở đài, báo, các anh biên tập thường mời người viết đến, đọc thơ, cùng sửa chữa, hoặc yêu cầu làm thơ theo đề tài gì sắp tới. Có bài hay, có bài không hay, mọi người cùng góp ý nhận ra ngay. Nay ta có được hội thảo thế này là tốt lắm. Nếu ta tổ chức được nhiều phong trào thơ ở nhà trường, cơ quan xí nghệp thì phong phú hơn, có điều kiện kích thích và tìm ra những bài thơ. Quan tâm đến nhà trường thì được các thầy, cô, học trò hưởng ứng.
Hiền Phong: Tôi yêu thơ từ thuở ấu thơ nhưng do cuộc sống làm ăn lam lũ không có điều kiện sáng tác. Theo tôi, vẫn có người làm thơ bậc thầy thì mới thẩm định, sửa bài cho mình được, mặc dù không có thầy trên bục giảng. Thơ có khuôn vàng thước ngọc, chứ không phải không có. Có thơ hay, có thơ không hay. đọc thơ thấy chân dung và phong cách. Thơ là sang trọng, lịch thiệp, hào hoa, cao khiết, thơ như ngọn lửa. Thơ phải đẹp và hay, nếu không chưa phải là thơ.
Ông Hoàng Trần Đạt: Có một anh giáo nói: “Thơ cũng như dòng sông, có người nói thế này, có người nói thế kia, đều được”. Cũng như hát, ai cũng hát, nhưng có người hát đem lại tiếng vang, tiếng vọng, người ta thích. Có người hát không đem lại tiếng vang. Thơ cũng như vậy, phải có tiếng vọng, tiếng vang. Với nhà trường, ai nói các cháu không thích đọc là không đúng. Mở cửa thư viện, các cháu đến đọc nhiều. Có một điều là: không phải bài nào ta thấy hay cũng được mọi người bảo là hay.
Lời Kết: Nhà thơ Ngọc Bái tóm tắt nội dung hội thảo, đánh giá cao ý kiến tham luận và phát biểu, tranh luận của mọi người. Ông nhận xét: “Cuối cùng, mọi người đều mong muốn thơ làm sao bám sát cuộc sống hơn nữa, thơ không phải đứng trên trời. Làm thơ không ai giống ai, cần phải tìm ra bí quyết riêng. Mỗi người hãy tìm ra một góc cạnh riêng của mình thông qua tác phẩm cụ thể để thơ hay hơn, chất lượng hơn”.
(Phụ bản thơ - Báo Văn nghệ)
Hoàng Việt Quân
Những ngày đầu tháng 7 nắng nóng ngột ngạt, oi bức. Nhưng rồi trời cũng khéo chiều người làm thơ. Đêm 8-7 trời đột ngột đổ mưa để sáng sớm hôm sau 9-7-2004 không khí dịu hẳn. Đông đủ hội viên thơ, lãnh đạo Hội và các đại biểu của Ban Tuyên giáo Tỉnh, ngành giáo dục cùng một số người yêu thơ trong tỉnh đã hào hứng đến tham dự Hội thảo thơ tổ chức tại trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Yên Bái.
Lời đề dẫn của nhà thơ Ngọc Bái
Mở đầu là lời đề dẫn chương trình hội thảo “Những vấn đề đặt ra đối với thơ Yên Bái” của nhà thơ Ngọc Bái, Chủ tịch Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh. Ông nêu rõ yêu cầu, mục đích: “… việc tổ chức một cuộc hội thảo thơ là yêu cầu có tính chuyên môn trước tình hình hiện nay. Với mục đích tự nhận diện, tự đánh giá diện mạo thơ chung và tự liên hệ đối với từng tác giả, nhằm đổi mới thơ, đáp ứng yêu cầu chung của công chúng”. Ông đặt ra các vấn đề cơ bản cần được hội thảo làm sáng rõ như: vấn đề mối quan hệ giữa người viết và bạn đọc, để thấy “thơ ca có phẩm cấp của nó”, “thơ phải định hướng về mặt thẩm mỹ, không được phép dễ dãi”; vấn đề về mối quan hệ dân tộc và hiện đại, truyền thống và cách tân, từ đó dẫn đến định hướng “đối với thơ ca đương đại, đồng thời vừa chống sự bảo thủ sáo mòn vừa phải chống tuyệt đối hoá hiện đại”; vấn đề về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức “làm sao cho hài hoà”, hơn thế thơ “phải có nội dung tư tưởng, phải sử dụng đắc đạo ngôn ngữ được biểu hiện qua hình thức”, “thơ là nghệ thuật ngôn ngữ bậc cao”; vấn đề phân biệt giữa thơ hay và thơ dở, giữa tính nghiệp dư và tính chuyên nghiệp, đòi hỏi người làm thơ phải nâng cao chất lượng sáng tác “thể hiện trách nhiệm của người viết và người thẩm định tác phẩm”; vấn đề “làm sao để thơ tiếp cận với cuộc sống, trở thành thơ có ích” cho bạn đọc; vấn đề “văn hoá đọc” trong nhà trường, “làm sao nắm bắt được thời sự văn học bổ trợ cho giảng dạy”; vấn đề thơ Yên Bái với lời nhận định “so với mặt bằng thơ chung của cả nước thì chưa lạc hậu, nhưng chưa thật khởi sắc, còn chưa bắt nhập được với ngôn ngữ tiên tiến đang đặt ra” có đúng không? Vấn đề “bếp núc” của lao động thơ v.v…
Tóm tắt 4 bài tham luận gan ruột
1. Hán Trung Châu đọc bài tham luận “Vài suy nghĩ tản mạn về thơ hiện nay”, thực chất ông ít nhiều đã động tới “quan niệm về thơ và sáng tác thơ” vốn là một vấn đề “rất lớn, rất rộng, rộng lớn đến… mênh mông”. Nhưng ông không đi sâu bàn luận về quan niệm (định nghĩa) thơ bởi vì “qua các nhận xét, các công trình từ khi có thơ cho đến nay, trong nước và ngoài nước người ta cũng đã gọi tên, phân tích, giải thích… cả rồi”. Thậm chí, ông khẳng định: “Không có vấn đề gì hôm nay chúng ta đặt ra mà trước đó chưa tìm cách giải quyết”. Tuy vậy, “thực tế phát triển thơ ca luôn đặt ra những vấn đề mới, đòi hỏi phải thích ứng, phải thoả mãn quy luật văn hoá và xã hội”. Từ những lý lẽ trên, ông dẫn dắt: “Như vậy thì vấn đề đặt ra là đối với thơ, một mặt chúng ta kế thừa những gì đã có, đã xác định và phát huy sự sáng tạo với một mức độ có thể. Mặt khác, chúng ta có thể tìm tòi một lối đi, một cách đi, một kiểu thể hiện… nói to tát là “Đổi mới” cho thơ, suy cho cùng cũng chỉ có hai hướng đó”. Để làm rõ vấn đề, ông nêu luận điểm “đổi mới là liên tục, là không có điểm dừng, thậm chí, đổi mới ngay cả khi nó vừa ra đời”. Với vấn đề đi tìm cái mới, đổi mới cho thơ, ông tán đồng và “tự mình suy ngẫm cùng ý nghĩ của Nguyễn Đình Thi từ năm 1949: “Tôi cho rằng chúng ta không nên lo thơ đi vào hình thức này hay hình thức khác. Mà trước hết nên lo sao thơ phải nói lên những tình cảm mới của thời đại. Dùng bất cứ hình thức nào miễn là thơ diễn tả được đúng tâm hồn con người mới ngày nay”.
2. Hoàng Bảo trình bày bản tham luận bằng những chiêm nghiệm 40 năm làm thơ của mình. Ông tâm sự: “… tôi tâm đắc một điều thơ là nghệ thuật về câu chữ giúp cho ta biểu đạt được tư tưởng tình cảm một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc - kín đáo mà mạnh mẽ - chân thành mà rất lãng mạn. Khả năng ấy làm cho ta yêu thơ và thích làm thơ...
Về mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung trong thơ, tác giả nói: “Làm thơ tôi nhận thức được là đem cái tôi đến với cái ta và làm sao hoà được vào cái ta thì bài thơ mới có chỗ đứng. Khác với các loại hình nghệ thuật khác - thơ nói được về cái tôi, cái riêng tư, cái bản ngã nhiều nhất. Nhưng chỉ là của tôi, riêng tôi thì chỉ mình anh đọc mà thôi. Điều cuối cùng tác giả muốn nêu thêm là quan niệm về thơ hiện đại: “Tôi nghĩ nếu có thơ gọi là hiện đại thì đó là những bài thơ hay cả cổ lẫn kim. Thơ hay là thơ hàm xúc, chứa được nhiều nghĩa nhất, câu chữ kiệm nhất, gợi cảm nhất. Bất kể có vần hay không vần, niêm luật hay không niêm luật”.
3. Ngọc Chấn đọc bài tham luận “Hình ảnh thơ, chi tiết trong thơ” một cách hào hứng, đầy tính biện minh: “không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi thơ là đặc sản của tâm hồn, thơ là thứ rượu đặc biệt được chưng cất từ trái tim của thi nhân. Vì thế thơ khác với văn xuôi, nó được chắt lọc một cách kỹ càng. Có khá nhiều người quan niệm thơ một cách dễ dãi chỉ cần có vần có điệu, ấy là thơ. Tôi nghĩ cái hay của thơ là sự khám phá. Ngôn ngữ của thơ là những phát hiện mới mẻ. Cái gì biết rồi thì không nói nữa. Cái gì nói ra thì phải đem đến những thông điệp, những tần số giao động cần thiết của tâm hồn. Vì vậy thơ khác với các loại hình nghệ thuật khác ở chỗ: ý Tại Ngôn Ngoại. Tính chất hoán dụ, phúng dụ ở thơ rất hay đề cập tới tính tư tưởng trong thơ”. Nói về chi tiết trong thơ, Ngọc Chấn khẳng định: “Thơ từ cổ chí kim - từ Đông sang Tây đều chú trọng đến chi tiết. Thơ thiếu chi tiết chẳng khác gì hoa không hương, cây không sắc, vì thế làm thơ thật khó”.
Nhận xét về tình hình thơ của Yên Bái hiện nay, Ngọc Chấn cho rằng: “Việc cấu tứ, lập tứ còn chung chung, chưa chặt chẽ. Lời thơ còn quá dễ dãi, ít hình ảnh nói hộ bản chất nên thơ dễ rơi vào quên lãng”. Tuy nhiên, anh cũng xác nhận: “Tôi thấy có nhiều cây bút thơ trưởng thành xuất hiện từ những năm 80 về trước có thành tựu, ở họ có những đóng góp, định hình cho thơ ca như: Vũ Chấn Nam, Huyền Sâm, Lê Vân, Ngọc Bái, Dương Soái, Hoàng Bảo, Bích Thư, Thế Chửng. Và sau này như Ngọc Loan, Hải Yến, Thu Hương, Vũ Quý… đã có nhiều suy ngẫm viết để đi tới đích, tải một cái gì”.
Vũ Quý tỏ ra trực diện với những vấn đề của thơ hiện nay khi trình bày tham luận “Nhớ thơ để nhận diện thơ Yên Bái”. Anh nêu các yếu tố ảnh hưởng đến thơ Việt hiện đại, chủ yếu là hai yếu tố. Thứ nhất là ảnh hưởng từ dân ca, ca dao. Anh nêu nguyên nhân sáng tạo và đặc điểm của loại hình này là: “Trong phút thăng thiên nào đó của tinh thần, người ta thích nói vần, nói thơ. Có thể là phút hứng khởi của hồn, hình như ngôn ngữ được âm nhạc và tiết tấu tiếp sức. Tính hiệu quả của cách nói thơ khích lệ làm cho người ta cứ có hoàn cảnh kích thích làm nên thơ. Thơ lúc làm, thơ lúc ăn, thơ lúc vui, thơ lúc buồn, nói chung ở các trạng thái ai ái ố hỉ nộ… người ta đều dùng thơ để giãi bày lòng mình. Trên cơ sở đó, anh đánh giá: “Thơ Yên Bái ta chưa thoát xa hoàn cảnh trên, nhiều bài gọi là thơ nhưng đọc xong gần như ngữ nghĩa nằm ngay tại văn bản (ngôn ngữ nghĩa đen), mặc dù có vần điệu mùi mẫn nhưng không gây sự ám ảnh”.
Những lời phát biểu, tham luận nhiệt tình, tâm huyết
Nhà thơ Dương Soái: Ngọc Bái nói đến thơ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp. Vậy thế nào là thơ chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp? Chuyên nghiệp là chỉ nói về người biên tập, chứ không thể nói về người làm thơ... Thành nhà thơ hay không đâu có phải là cứ in rất nhiều sách. Cái gì trong bối cảnh thì chúng ta không thể bắt con người tách ra khỏi bối cảnh. Thơ xuất phát từ cách nhìn riêng của từng người trong bối cảnh đó, cảm xúc thành thơ, nhưng người nói ra được những cảm xúc, suy nghĩ của mình nhập chung với mọi người thì thành bài thơ hay, thành nhà thơ.
Bùi Hồng Sính: Ai chẳng muốn làm thơ hay hơn, nhưng nhiều khi muốn chẳng được. Thơ phải có trình tự, có thời gian mới hay hơn. Cụ Hồ viết “Nhật ký trong tù”, Cụ gọi là nhật ký chứ có nói là thơ đâu mà vẫn hay. Các đồng chí làm công tác biên tập phải rất chú ý, nếu không chỉ thấy thơ mình hay mà thơ người khác không hay, phải cố gắng khiêm tốn hơn nữa.
Ngọc Bái: ý tôi nói những bài thơ in ra phải mang tính chuyên nghiệp, chứ không phân biệt người làm thơ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp. Tôi rất nhất trí với anh Dương Soái là thơ thời chiến tranh vẫn là dòng thơ chủ đạo.
Ngọc Loan: Theo tôi việc hội thảo thơ hôm nay là một sinh hoạt rất hay. Có những ý kiến không nhất trí với nhau là chuyện bình thường. Tôi không kéo chiếu ngồi chung với các nhà thơ, đừng gọi tôi là nhà thơ, nhưng tôi yêu thơ, làm thơ theo cảm nhận, cảm xúc của mình. Các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận cũng không phải là nhà thơ chuyên nghiệp. Ta làm thơ cốt nói được cái tâm, cái cảm của mình. Có người thích đăng thơ, có người không nhưng không phải người ta thích đăng vì tiền đâu. Tôi vẫn chưa nhất trí với anh Vũ Quý. Cứ đâu thơ phải nói được điều thâm thúy, có bài chỉ nói tình cảm chân thành thôi mà thơ được người ta nhớ đến. Cái gì nói đến tâm, đến tình, hoàn cảnh người ta, hoặc phục vụ được cách mạng, đất nước, con người là được. Có thời chê thơ Bút Tre, nhưng thơ Bút Tre lại sống, dùng thơ ông để quên được những gian lao vất vả trong chiến tranh.
Lê Vân: Thế nào là thơ hay thì vô cùng nhưng cũng có ngưỡng của nó. Một bài thơ có vài ba câu hay là được. Gần đây, biên tập thơ trong tạp chí của ta có đa dạng, có cái riêng cái chung. Hội thảo có ý kiến đúng, có ý kiến chưa thật hoàn chỉnh. Ngày xưa chủ trương làm sắn mà không có thơ sắn thì trên ai duyệt kinh phí cho in đâu? Thơ của anh em trẻ hôm nay không cần tuyên truyền, nhưng cánh già chúng tôi cứ đọc. Tôi ở quê, đưa tạp chí “Văn nghệ Yên Bái” ra cho họ xem, họ đều khen hay cả. Thơ của người 80 tuổi mà hay dù không tặng thì tôi cứ tự tìm đọc, thơ người trẻ cũng thế, lớp này mất đi có lớp sau nối tiếp. Tôi nhất trí làm thơ không phải vì tiền, không phải vì cái danh, mà vì yêu thích mà có ý thức viết.
Vũ Chấn Nam: Thơ phải có cảm xúc và vốn sống. Thơ có cảm xúc mà không vốn sống thì chưa chắc có thơ hay. Nữ sĩ Anh Thơ có lần nói với cháu: “Cháu ạ! Mỗi tập thơ cũng chỉ được vài ba, mỗi bài chỉ được một đôi câu, thế là hạnh phúc lắm rồi”. Với người làm thơ, riêng cá nhân tôi đã đi được 45 năm rồi, đã bước chân vào báo Văn nghệ rồi thì thấy thơ không xếp hạng một hạng hai đâu, không ai làm thầy được ai đâu. Công việc của chúng ta là cứ thầm lặng viết, luôn có ý thức nâng cao. Không có thơ toàn bích, không có pháp lệnh nào bắt người ta đọc thơ. Thơ hay người ta tìm đọc.
Trịnh Thoại: Tác giả đến với thơ từ rất nhiều nguồn, chủ yếu có năng khiếu từ tuổi học trò, nên biên tập cần chú ý đối tượng này. Người biên tập khác nhau nên chất lượng thơ được in cũng khác nhau. Ngày xưa ở đài, báo, các anh biên tập thường mời người viết đến, đọc thơ, cùng sửa chữa, hoặc yêu cầu làm thơ theo đề tài gì sắp tới. Có bài hay, có bài không hay, mọi người cùng góp ý nhận ra ngay. Nay ta có được hội thảo thế này là tốt lắm. Nếu ta tổ chức được nhiều phong trào thơ ở nhà trường, cơ quan xí nghệp thì phong phú hơn, có điều kiện kích thích và tìm ra những bài thơ. Quan tâm đến nhà trường thì được các thầy, cô, học trò hưởng ứng.
Hiền Phong: Tôi yêu thơ từ thuở ấu thơ nhưng do cuộc sống làm ăn lam lũ không có điều kiện sáng tác. Theo tôi, vẫn có người làm thơ bậc thầy thì mới thẩm định, sửa bài cho mình được, mặc dù không có thầy trên bục giảng. Thơ có khuôn vàng thước ngọc, chứ không phải không có. Có thơ hay, có thơ không hay. đọc thơ thấy chân dung và phong cách. Thơ là sang trọng, lịch thiệp, hào hoa, cao khiết, thơ như ngọn lửa. Thơ phải đẹp và hay, nếu không chưa phải là thơ.
Ông Hoàng Trần Đạt: Có một anh giáo nói: “Thơ cũng như dòng sông, có người nói thế này, có người nói thế kia, đều được”. Cũng như hát, ai cũng hát, nhưng có người hát đem lại tiếng vang, tiếng vọng, người ta thích. Có người hát không đem lại tiếng vang. Thơ cũng như vậy, phải có tiếng vọng, tiếng vang. Với nhà trường, ai nói các cháu không thích đọc là không đúng. Mở cửa thư viện, các cháu đến đọc nhiều. Có một điều là: không phải bài nào ta thấy hay cũng được mọi người bảo là hay.
Lời Kết: Nhà thơ Ngọc Bái tóm tắt nội dung hội thảo, đánh giá cao ý kiến tham luận và phát biểu, tranh luận của mọi người. Ông nhận xét: “Cuối cùng, mọi người đều mong muốn thơ làm sao bám sát cuộc sống hơn nữa, thơ không phải đứng trên trời. Làm thơ không ai giống ai, cần phải tìm ra bí quyết riêng. Mỗi người hãy tìm ra một góc cạnh riêng của mình thông qua tác phẩm cụ thể để thơ hay hơn, chất lượng hơn”.
(Phụ bản thơ - Báo Văn nghệ)
Love mickey,