Bùi Hữu Thiềm- Người cời than giữ lửa
Trịnh Thanh Sơn
Hôm vừa rồi, ngồi đọc Văn nghệ Trẻ, trang thơ của Chi hội Văn học - Nghệ thuật các huyện thị miền Đông, tỉnh Quảng Ninh, tôi bắt gặp một bài thơ lục bát, vẻn vẹn có bốn câu, tựa đề là Ngõ xưa. Bài thơ thế này:
Chắc gì hai đã là đôi/ Gần còn chưa bén - xa xôi thế này/ Em giờ theo bạn sang Tây/ Bên nhà sung chín rụng đầy ngõ xưa!
Đọc những câu thơ ấy, tôi buồn hết cả một buổi chiều. Chẳng phải tôi buồn vì cũng có một người bạn gái theo người ta sang Tây đâu, mà tôi buồn chỉ vì Bên nhà sung chín rụng đầy ngõ xưa đấy thôi.
Viết được như thế là tinh tế lắm, là từng trải lắm, là đã động được tới cái lung linh, ảo huyền của lục bát rồi vậy. Tên tác giả bài thơ là Bùi Hữu Thiềm, nghe quen quen, tiếc rằng tôi chỉ mới quen anh trên mặt báo.
Tôi gọi điện cho một vài bạn thơ ở Hà Nội, vài ngày sau, tôi đã có được trong tay ba tập thơ của Bùi Hữu Thiềm: Lục bát tự chọn (in chung với Triệu Nguyễn - Hội Văn nghệ Quảng Ninh, xuất bản 2001); Lục bát dăm câu (Nxb Văn hoá dân tộc - 2000) và Người ta và tôi (Sở VHTT Quảng Ninh - 2000).
Tôi đã đọc cả ba tập thơ của Bùi Hữu Thiềm một cách hào hứng, hào hứng vì bắt gặp một hồn thơ đa cảm, đa tình, hài hước và hóm hỉnh. Người thơ này cười cợt mà đạo mạo, lúng liếng mà nghiêm trang, bông đùa mà sâu sắc, tỉnh rụi mà đau đời. Lại nữa, người thơ này sinh ra từ lục bát, trong huyết quản của anh ta có một dòng “sáu - tám” cứ chảy rần rật, nóng hôi hổi, cứ căng phồng lên để rồi tuôn trào ra như nham thạch. Và tôi đồng tình với nhà thơ Bế Kiến Quốc, ngày anh còn sống, từng nhận xét về thơ Bùi Hữu Thiềm: “Đọc thơ Bùi Hữu Thiềm, tôi (B.K.Q.) có cảm giác như đang uống nước được lấy lên từ một cái giếng làng trong trẻo, mát lành, vào một buổi trưa nồng oi nắng hạ. Hồn thơ anh tươi tắn, hiền hậu, sáng sủa, chân thành. Đó là những phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng, nhất là trong cuộc sống xô bồ, vẩn tạp hiện nay”. (Bế Kiến Quốc - Đọc thơ Bùi Hữu Thiềm). Phải nói, nhà thơ Bế Kiến Quốc quả có “đôi mắt xanh” khi viết những dòng nhận xét ấy. Cái tươi tắn, hiền hậu, sáng sủa, chân thành là đây: “Con mắt làm mặt đòn cân” (cổ ngữ)
ở nhà em cứ dặn rằng/ Anh đi chợ, nhớ “cân bằng” khi mua/ Gặp cô hàng bán rau dưa/ Thoáng trông mắt đã thấy vừa… quên cân! (Quên cân)
Và đây nữa:
Một cuộc đời để yêu sao đủ/ Nhiều cuộc đời không đủ để mà yêu/ … Tình yêu hỡi, nếu em là sông bể/ Xin gửi lòng một chút sóng riêng tư!/ (Vô đề)
Thực ra, câu thơ cuối của Bùi Hữu Thiềm là: Xin gửi lòng một chút sóng riêng ru, câu thơ thật đằm thắm, đằm thắm tới mức có vẻ gì tỏ ra yếu đuối. Bởi vậy, tôi mới cố tình chép là “một chút sóng riêng tư” để đùa anh và làm cho thơ anh tự tin thêm một chút. Không phải ngẫu nhiên tôi yêu bài thơ này, sự chiêm nghiệm và lời tự thú này, mà vì, chính tôi cũng đã có lần viết y như thế: “Tiếc rằng anh chỉ có một cuộc đời/ Nếu có hai, anh còn yêu em nữa/ Để yêu nhau một đời thôi chưa đủ/ Một đời người không đủ một tình yêu!”. Có thể là ngẫu nhiên, hai bài thơ, các nhà thơ cũng đồng vọng, cùng đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu vậy.
Đọc thơ Bùi Hữu Thiềm một mình trong đêm cũng thú, nhưng chỉ có thể cười tủm tỉm, thơ Bùi Hữu Thiềm đọc chỗ đông người sẽ có cộng hưởng, có thể cười phá lên. Cái chất “uy mua”, chất phôn clo trong thơ anh thật đậm đặc, nhưng là hài hước hiện đại, dân gian hiện đại, trí tuệ và minh triết hơn dù vẫn trong bộ xống áo ca dao quen thuộc:
Giá em nói trước một lời/ Rằng tôi không xứng với người xứng hơn./ Giá em lúc dỗi, lúc hờn/ Để tôi còn biết em còn yêu tôi/ Nhận ra thì đã muộn rồi/ Lửa tình tôi cháy, phía trời em mưa! (Muộn)
Và đây nữa, vẫn là sự chậm muộn xót xa ấy:
Mới vừa chớm nắng giêng hai/ Bên kia sông, cải vườn ai đã vàng/ Chần chừ lỡ chuyến đò ngang/ Bao hoa người hái, tôi sang còn gì? (Chần chừ)
Con người luôn chần chừ và chậm muộn này xem ra tự tin lắm, tự tin bởi vì anh đã tự xác định một phương châm sống, đó là sống hết mình, bởi vì, theo triết lý phương Đông, cái được lớn nhất của đời người là sự tự cháy, sự toả sáng của ngọn nến:
Phong trần sống hết mình đi/ Có dang dở cũng chỉ vì… dở dang! (Lục bát dăm câu)
Nhà văn Lý Biên Cương từng nhận xét về thơ Bùi Hữu Thiềm thật chính xác và đầy thuyết phục: “Lục bát Bùi Hữu Thiềm nặng đồng cân ở sự ngắn, ở cái tứ, ở lối bất ngờ thường giấu trong câu kết. Có cảm giác anh chàng làm thơ như chơi, sự vật này liên tưởng gọi sự vật khác, đánh đu thách thức tâm tưởng người đọc. Hình ảnh thơ hơi cũ, giọng thơ có lúc ảnh hưởng giọng người khác, nhưng tứ thơ vẫn đinh ninh của riêng anh, lạ đấy, cân nhắc đấy. Lâu lắm rồi mới gặp được thơ viết lục bát xinh xinh đáng yêu như bông cúc lẻ”. Cái “bông cúc lẻ” này, bề ngoài thì nhũn nhặn, e dè, nhưng bên trong hàm chứa cả một trời thu đấy. Khiêm nhường vốn là phẩm chất của những ai tự tin và bản lĩnh:
Người ta bảo tôi đa mang/ Thì thôi mình cứ nhận quàng đã sao/ Người ta tìm đá mài dao/ Tôi tìm tơ nhện giăng vào vấn vương… (Người ta và tôi)
Cái kẻ đi “tìm tơ nhện” ấy vốn là một gã đa tình, đa sầu, đa cảm, một gã “mỗi lời là một vận vào khó nghe” bởi cả đời cứ “khư khư mình buộc lấy mình vào trong” (Kiều). Những chuyện giời ơi đất hỡi, với người khác, chẳng ai để ý làm gì, nhưng với gã lại là điều hệ trọng, là những câu hỏi dằn vặt cả đời, là những tiếng thở dài bất tận, nhiều lúc ngỡ thần kinh gã “có vấn đề”. Chẳng hạn, gã viết thế này có lạ không?
Trời sinh ra đất phải không/ Ai sinh trời rộng mênh mông thế này?/ Để tôi héo tháng hao ngày/ Tìm em - gặp gió trên cây thở dài… (Tìm nhau)
Và tôi gọi đó là tiếng - thở - dài - thi - sĩ! ở đời , những ai biết thở dài là người biết nâng niu, vun vén cho niềm vui, cho hạnh phúc, là người biết “cời than giữ lửa”. Nếu thơ là người thì những câu thơ này vẽ được chân dung tâm hồn Bùi Hữu Thiềm một cách sinh động và chân thực nhất:
Xế chiều mà chuyến đò trưa/ Vẫn chưa cập bến - mây mưa dầm dề/ Biết em có biết tôi về/ Cời than giữ lửa, nhỡ khuya lạnh lùng… (Giữ lửa)
Người ướt dầm dề mà biết lo cho nỗi lạnh lùng của người khác, người đã “xế chiều” mà biết mình “vẫn chưa cập bến” là người hiểu lẽ đời, lẽ người, là người yên nhiên tự tại. Sẽ có người “cời than giữ lửa” đợi anh về!
Trịnh Thanh Sơn
Hôm vừa rồi, ngồi đọc Văn nghệ Trẻ, trang thơ của Chi hội Văn học - Nghệ thuật các huyện thị miền Đông, tỉnh Quảng Ninh, tôi bắt gặp một bài thơ lục bát, vẻn vẹn có bốn câu, tựa đề là Ngõ xưa. Bài thơ thế này:
Chắc gì hai đã là đôi/ Gần còn chưa bén - xa xôi thế này/ Em giờ theo bạn sang Tây/ Bên nhà sung chín rụng đầy ngõ xưa!
Đọc những câu thơ ấy, tôi buồn hết cả một buổi chiều. Chẳng phải tôi buồn vì cũng có một người bạn gái theo người ta sang Tây đâu, mà tôi buồn chỉ vì Bên nhà sung chín rụng đầy ngõ xưa đấy thôi.
Viết được như thế là tinh tế lắm, là từng trải lắm, là đã động được tới cái lung linh, ảo huyền của lục bát rồi vậy. Tên tác giả bài thơ là Bùi Hữu Thiềm, nghe quen quen, tiếc rằng tôi chỉ mới quen anh trên mặt báo.
Tôi gọi điện cho một vài bạn thơ ở Hà Nội, vài ngày sau, tôi đã có được trong tay ba tập thơ của Bùi Hữu Thiềm: Lục bát tự chọn (in chung với Triệu Nguyễn - Hội Văn nghệ Quảng Ninh, xuất bản 2001); Lục bát dăm câu (Nxb Văn hoá dân tộc - 2000) và Người ta và tôi (Sở VHTT Quảng Ninh - 2000).
Tôi đã đọc cả ba tập thơ của Bùi Hữu Thiềm một cách hào hứng, hào hứng vì bắt gặp một hồn thơ đa cảm, đa tình, hài hước và hóm hỉnh. Người thơ này cười cợt mà đạo mạo, lúng liếng mà nghiêm trang, bông đùa mà sâu sắc, tỉnh rụi mà đau đời. Lại nữa, người thơ này sinh ra từ lục bát, trong huyết quản của anh ta có một dòng “sáu - tám” cứ chảy rần rật, nóng hôi hổi, cứ căng phồng lên để rồi tuôn trào ra như nham thạch. Và tôi đồng tình với nhà thơ Bế Kiến Quốc, ngày anh còn sống, từng nhận xét về thơ Bùi Hữu Thiềm: “Đọc thơ Bùi Hữu Thiềm, tôi (B.K.Q.) có cảm giác như đang uống nước được lấy lên từ một cái giếng làng trong trẻo, mát lành, vào một buổi trưa nồng oi nắng hạ. Hồn thơ anh tươi tắn, hiền hậu, sáng sủa, chân thành. Đó là những phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng, nhất là trong cuộc sống xô bồ, vẩn tạp hiện nay”. (Bế Kiến Quốc - Đọc thơ Bùi Hữu Thiềm). Phải nói, nhà thơ Bế Kiến Quốc quả có “đôi mắt xanh” khi viết những dòng nhận xét ấy. Cái tươi tắn, hiền hậu, sáng sủa, chân thành là đây: “Con mắt làm mặt đòn cân” (cổ ngữ)
ở nhà em cứ dặn rằng/ Anh đi chợ, nhớ “cân bằng” khi mua/ Gặp cô hàng bán rau dưa/ Thoáng trông mắt đã thấy vừa… quên cân! (Quên cân)
Và đây nữa:
Một cuộc đời để yêu sao đủ/ Nhiều cuộc đời không đủ để mà yêu/ … Tình yêu hỡi, nếu em là sông bể/ Xin gửi lòng một chút sóng riêng tư!/ (Vô đề)
Thực ra, câu thơ cuối của Bùi Hữu Thiềm là: Xin gửi lòng một chút sóng riêng ru, câu thơ thật đằm thắm, đằm thắm tới mức có vẻ gì tỏ ra yếu đuối. Bởi vậy, tôi mới cố tình chép là “một chút sóng riêng tư” để đùa anh và làm cho thơ anh tự tin thêm một chút. Không phải ngẫu nhiên tôi yêu bài thơ này, sự chiêm nghiệm và lời tự thú này, mà vì, chính tôi cũng đã có lần viết y như thế: “Tiếc rằng anh chỉ có một cuộc đời/ Nếu có hai, anh còn yêu em nữa/ Để yêu nhau một đời thôi chưa đủ/ Một đời người không đủ một tình yêu!”. Có thể là ngẫu nhiên, hai bài thơ, các nhà thơ cũng đồng vọng, cùng đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu vậy.
Đọc thơ Bùi Hữu Thiềm một mình trong đêm cũng thú, nhưng chỉ có thể cười tủm tỉm, thơ Bùi Hữu Thiềm đọc chỗ đông người sẽ có cộng hưởng, có thể cười phá lên. Cái chất “uy mua”, chất phôn clo trong thơ anh thật đậm đặc, nhưng là hài hước hiện đại, dân gian hiện đại, trí tuệ và minh triết hơn dù vẫn trong bộ xống áo ca dao quen thuộc:
Giá em nói trước một lời/ Rằng tôi không xứng với người xứng hơn./ Giá em lúc dỗi, lúc hờn/ Để tôi còn biết em còn yêu tôi/ Nhận ra thì đã muộn rồi/ Lửa tình tôi cháy, phía trời em mưa! (Muộn)
Và đây nữa, vẫn là sự chậm muộn xót xa ấy:
Mới vừa chớm nắng giêng hai/ Bên kia sông, cải vườn ai đã vàng/ Chần chừ lỡ chuyến đò ngang/ Bao hoa người hái, tôi sang còn gì? (Chần chừ)
Con người luôn chần chừ và chậm muộn này xem ra tự tin lắm, tự tin bởi vì anh đã tự xác định một phương châm sống, đó là sống hết mình, bởi vì, theo triết lý phương Đông, cái được lớn nhất của đời người là sự tự cháy, sự toả sáng của ngọn nến:
Phong trần sống hết mình đi/ Có dang dở cũng chỉ vì… dở dang! (Lục bát dăm câu)
Nhà văn Lý Biên Cương từng nhận xét về thơ Bùi Hữu Thiềm thật chính xác và đầy thuyết phục: “Lục bát Bùi Hữu Thiềm nặng đồng cân ở sự ngắn, ở cái tứ, ở lối bất ngờ thường giấu trong câu kết. Có cảm giác anh chàng làm thơ như chơi, sự vật này liên tưởng gọi sự vật khác, đánh đu thách thức tâm tưởng người đọc. Hình ảnh thơ hơi cũ, giọng thơ có lúc ảnh hưởng giọng người khác, nhưng tứ thơ vẫn đinh ninh của riêng anh, lạ đấy, cân nhắc đấy. Lâu lắm rồi mới gặp được thơ viết lục bát xinh xinh đáng yêu như bông cúc lẻ”. Cái “bông cúc lẻ” này, bề ngoài thì nhũn nhặn, e dè, nhưng bên trong hàm chứa cả một trời thu đấy. Khiêm nhường vốn là phẩm chất của những ai tự tin và bản lĩnh:
Người ta bảo tôi đa mang/ Thì thôi mình cứ nhận quàng đã sao/ Người ta tìm đá mài dao/ Tôi tìm tơ nhện giăng vào vấn vương… (Người ta và tôi)
Cái kẻ đi “tìm tơ nhện” ấy vốn là một gã đa tình, đa sầu, đa cảm, một gã “mỗi lời là một vận vào khó nghe” bởi cả đời cứ “khư khư mình buộc lấy mình vào trong” (Kiều). Những chuyện giời ơi đất hỡi, với người khác, chẳng ai để ý làm gì, nhưng với gã lại là điều hệ trọng, là những câu hỏi dằn vặt cả đời, là những tiếng thở dài bất tận, nhiều lúc ngỡ thần kinh gã “có vấn đề”. Chẳng hạn, gã viết thế này có lạ không?
Trời sinh ra đất phải không/ Ai sinh trời rộng mênh mông thế này?/ Để tôi héo tháng hao ngày/ Tìm em - gặp gió trên cây thở dài… (Tìm nhau)
Và tôi gọi đó là tiếng - thở - dài - thi - sĩ! ở đời , những ai biết thở dài là người biết nâng niu, vun vén cho niềm vui, cho hạnh phúc, là người biết “cời than giữ lửa”. Nếu thơ là người thì những câu thơ này vẽ được chân dung tâm hồn Bùi Hữu Thiềm một cách sinh động và chân thực nhất:
Xế chiều mà chuyến đò trưa/ Vẫn chưa cập bến - mây mưa dầm dề/ Biết em có biết tôi về/ Cời than giữ lửa, nhỡ khuya lạnh lùng… (Giữ lửa)
Người ướt dầm dề mà biết lo cho nỗi lạnh lùng của người khác, người đã “xế chiều” mà biết mình “vẫn chưa cập bến” là người hiểu lẽ đời, lẽ người, là người yên nhiên tự tại. Sẽ có người “cời than giữ lửa” đợi anh về!
Love mickey,