Bản năng thi sĩ của Lò Ngân Sủn
Inrasara
Chủ quan nên ngây thơ. Chủ quan và ngây thơ là bản chất cố hữu của thi sĩ. Nó có mặt từ khởi điểm, trong quá trình và cả lúc kết thúc của sáng tạo. ở nghề nghiệp khác nó có thể là tật xấu và nguy hiểm nhưng trong nghề làm thơ nó vô hại, thậm chí còn là một trong những tính tốt nữa. Nhất là với nhà thơ thuộc trường bản năng (tôi tạm thay đổi thuật ngữ Peintres de L’ Instinct - hoạ sĩ theo thiên năng) như Lò Ngân Sủn.
Mang nó vào lý luận phê bình dù là bình ngắn một bài thơ hay, Lò Ngân Sủn dễ gây cho chúng ta một nụ cười thầm (đây là lối nhìn chủ quan của tôi, không áp đặt cho một ai cả) nhưng trong sáng tác, anh đã khiến cho các nhà thơ cao tay nghề cũng phát thèm.Tôi gọi thi sĩ dân tộc Dáy này là nhà thơ bẩm sinh, bẩm sinh và bản năng hơn tất cả các nhà thơ mà tôi được biết (phát biểu này không hề phạm đến cái lớn của họ).
Như nét cọ tươi mát của Henri Rousseau nguệch ngoạc ngộ nghĩnh giữa cuồng lưu trường phái hội hoạ Pháp nặng tính trí tuệ nở rộ ở đầu thế kỷ, trong nền thơ Việt Nam hôm nay với bao toan tính bứt phá vượt bỏ, những nhăn nhó trịnh trọng với gồng mình gánh vác bao nhiêu là tính, rồi thì những ru ngủ vần vè…Lò Ngân Sủn xuất hiện như một làn gió mới, mát, lạ.
Văn chương tiếng Việt cổ điển – ngoài đại bộ phận ca dao và vài cá nhân độc sáng ở một vài tác phẩm độc đáo – đa phần là các sáng tác mang nặng ước lệ vay mượn. Từ ngôn từ, điển tích, cốt truyện cho đến thể thư, cách nhìn, cách thể hiện. Chỉ khi các tài năng thư lớn như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương… xuất hiện, các ước lệ vay mượn (từ Trung Quốc) mới được dần dần từ bỏ, sau đó bị phong trào Thư Mới cắt đuôi gần hết. Rồi Thư Mới lại sáng tạo ra một ước lệ khác. Và… Sáng tác bằng tiếng Việt, các nhà thơ dân tộc thiểu số dễ có nguy cơ rơi vào các ước lệ cũ kĩ kia. Như Mai Liễu với chất liệu đề tài, hay Lương Định với ngôn ngữ thơ… Lò Ngân Sủn, may mắn thay, đã không sập bẫy. Bản năng thi sĩ đã cứu anh!
Người đẹp của anh hoàn toàn khác. Mới, lạ và rất… đẹp.
Người đẹp trông như tuyết
Chạm vào lại thấy nóng
Người đẹp trông như lửa
Sờ vào lại thấy mát
Người không khát - nhìn thấy người đẹp cũng khát
Người không đói - nhìn thấy người đẹp cũng đói
Người muốn chết - gặp người đẹp lại không muốn chết nữa.(2) (Người đẹp)
Ngoại trừ tuyết ở câu đầu (mà tôi cứ nơm nớp nhà thơ dân tộc này sẽ vấp ngã), còn lại là cách nhìn khác, với lối xử lý tình huống nghệ thuật khác. Toàn triệt. Từ đó có ví von khác, sử dụng ngôn từ khác. Khác và bất ngờ.
Hai ta yêu nhau giữa lều nương
lều nương không phên vách
ta cởi áo làm phên vách.
Hai ta yêu nhau giữa lều ruộng
lều ruộng không chăn chiếu
ta cởi áo làm chăn chiếu
(Tình ca lều nương)
Thử đọc thêm bài thơ ngắn nữa của anh:
Già là một cái gì thật đáng sợ
Sao lại làm cho nhau chóng già?
Đau là một cái gì thật ghê gớm
Sao lại làm cho nhau đớn đau?
Chết là một cái gì thật khủng khiếp
Sao lại làm cho nhau phải chết?
Trời ơi, ai mà đoán biết được
Con người sẽ còn làm khổ nhau đến bao giờ
(Già, Đau, Chết)
Cảnh vật, sự kiện hay ý tưởng cũ luôn được cái nhìn của Lò Ngân Sủn tắm gội, làm mới như là lần đầu tiên nó được nhìn thấy, nói đến. Bằng thứ ngôn ngữ giản đơn đến tinh ròng.
Cách nhìn tươi non, lối nói thuần phác này, theo Hoàng Quảng Uyên, được nhà thơ Lò Ngân Sủn tiếp nhận từ ca dao, dân ca các dân tộc thiểu số phía Bắc. Theo tôi nghĩ, còn hơn thế, bản năng thơ đã tiếp sức cho anh. Bởi ngay cả khi “đi tỉnh” và ở thành đến mươi năm, Lò Ngân Sủn vẫn giữ được cái nhìn thơ trẻ cũ.
Ta lê bước về nhà
Mà hồn như còn ngủ ở thắt lưng em
hay:
Đi chợ là đi mây về gió
Vó ngựa đung đưa giữa rừng chiều
Đốt cháy lòng nhau là nỗi nhớ
Đêm về lại đi chợ trong mơ (Đi chợ)
Có thể ví văn học Việt Nam như thân cây có năm rễ. Rễ chồi đâm sâu vào lòng đất, bao gồm toàn bộ sáng tác dân gian của tất cả các dân tộc. Bốn rễ phụ bò ra bốn hướng rút tỉa tinh chất từ những vùng đất lạ: nhánh vươn ra phía Bắc nhận ảnh hưởng của văn học Trung Quốc (văn chương bác học của người Việt từ đầu thế kỷ XX trở về trước), nhánh với qua phía Tây hút dưỡng chất từ văn học phương Tây (một bộ phận lớn của văn chương Việt Nam tiền chiến), nhánh bò lan vào nhiều khu đất màu mỡ của sáng tác thành văn của các dân tộc, các nhánh còn lại đâm xuống phương Nam nhận nhựa sống từ văn học Mã Lai và ấn Độ xa xôi (mà văn chương cổ điển Champa là đại diện).
Cây văn học Việt Nam hôm qua được cắm trên nền đất phì nhiêu mà nếu chịu cày xới và chăm bón thì nó cũng sẽ cho hoa quả ngọt ngào không thua kém nền văn học đất nước nào bất kỳ. Nhưng mãi đến hôm nay, còn vài mảnh đất chưa được làm tơi xốp nên vẫn còn nhánh rễ còi cọc và đang có nguy cơ bị thui chột trong lòng đất đen.
Nhất là văn học dân gian của các dân tộc thiểu số.
Tại Hội nghị Văn học Tây Nguyên 1998, có nhà báo hỏi tôi: anh đã khai thác được gì ở nền văn hóa dân tộc Chăm. Tôi nói: tôi không khai thác mà từ giữa lòng văn hóa dân tộc bước ra để sáng tạo cái mới.Truyền thống không phải là cái gì để chúng ta tìm tới khai thác trục lợi, mà là một sinh thể sống động luôn mời gọi chúng ta tiếp cận. Chỉ khi nào chúng ta nghiêm túc học hỏi và đối thoại với hàng ngàn thế hệ con người đã chết, chúng ta mới có đủ lông cánh nói đến sáng tạo. Chứ không phải thái độ học lỏm qua vài chuyến điền dã hay đọc qua loa các “ông trình khoa học” lớt phớt ở vành ngoài.
Được bú mớm từ nếp sinh hoạt, nếp nghĩ mà cấu trúc ngôn ngữ của cộng đồng phần nào còn biệt lập với thế giới văn minh, chưa “nhiễm”không khí thơ dân tộc Kinh, nếu ý thức sâu sắc cái bẫy ước lệ luôn giăng ra trên bước đường chông chênh của sáng tạo, các nhà thơ dân tộc sáng tác bằng tiếng Việt sẽ có tiếng nói lạ biệt nhất định.“Dòng sông văn hóa dân tộc” (dụng ngữ của Pauh Catwai, một tác phẩm cổ điển Chăm) cuồn cuộn chảy. Chúng ta đến đó, soi mình xuống con sông và tha hồ múc về bao nhiêu là gánh nước ngọt dưỡng nuôi và cả tẩy uế tâm hồn ta. Nhưng đóng góp đáng giá của một nghệ sĩ vào văn hóa dân tộc chủ yếu là ở hành động “phá”: tiếp thu truyền thống thơ ca dân tộc không phải copy mà là bẻ gẫy nó để tạo cái mới; tiếp nhận một/một vài trào lưu văn chương thế giới không phải bắt chước rập khuôn mà là đập vỡ nó để đúc ra cái mới; từ giữa lòng ngôn ngữ cộng đồng, ông phải dám phá lối nói quen thuộc của cộng đồng để tìm phương thức thể hiện khác. Chỉ thế thôi ông mới đặt dấu ấn của ông lên ngôn ngữ ấy, làm phong phú nó.
Tư tưởng gặp nhau, cấu trúc ngôn ngữ thơ giống nhau, phong cách sáng tạo trùng lặp nhau không phải là chuyện hiếm giữa các dân tộc, các tác gia, các thế hệ dường như ít (hoặc không) có quan hệ lịch sử gì với nhau. Không ngạc nhiên tí nào khi Lò Ngân Sủn của dân tộc Dáy – Việt Nam dễ tìm gặp giọng thơ đồng thanh đồng khí với Jacques Prévert tận nước Pháp xa xôi. Nhà thơ dân dã nổi tiếng ở đầu thế kỷ này có một mảng sáng tác bằng thứ bút pháp tôi tạm gọi là “bút pháp liệt kê”. Thử đọc bài Pour toi mon Amour:
Anh đi vào chợ chim
Và anh mua những con chim
Cho em
tình yêu của anh.
Anh đi vào chợ hoa
Và anh đã mua những đoá hoa
Cho em tình yêu của anh.
Anh đi vào chợ sắt vụn
Và anh đã mua những sợi xích sắt
Ôi, sợi xích nặng nề
Cho em
tình yêu của anh.
Và rồi anh đi vào chợ nô lệ
Và anh đã dõi tìm
Nhưng anh đã không tìm thấy
Tình yêu
Cho em.(3)
Hai bài thơ nổi tiếng khác của ông cũng thế: Paris at night hay Déjeunée du matin,… các câu đầu chỉ thuần mang tính liệt kê, liệt kê đến nhàm chán; rồi đột ngột ở đoạn/câu cuối, ông đẩy người đọc đối mặt với ý tưởng bất ngờ nhất: nó chiếm lĩnh hồn ta, khiến ta buồn, ta cười, đau, khóc, … Chúng ta dễ dàng tìm thấy kiểu viết này có mặt xuyên suốt từ Chiều biên giới (1989) qua hàng chục tập thơ đã in của Lò Ngân Sủn. Đi đến tận cùng dân tộc, chúng ta bắt gặp thế giới là vậy.
Vàng bạc có thể trao
Ngựa trâu có thể đổi
Thóc lúa có thể cho
Vải vóc có thể biết
Nhà cửa có thể bán
Riêng em, anh không thể!
(Không thể)
ở đây tôi không có ý so sánh Lò Ngân Sủn với Jacques Prévert, càng không muốn chọn bài chưa hay của anh đặt bên cạnh một sáng tác đạt chuẩn cao của nhà thơ Pháp tài hoa, cũng nhý nội dung đề tài lớn/nhỏ của hai bài thơ ngẫu nhiên bắt gặp để phân định cao thấp. Cái tôi muốn nhấn mạnh chính là thi pháp. Đây là thứ thi pháp thuần dân gian: kể chuyện, dàn trải và đẩy đưa. Lò Ngân Sủn đã tiếp nhận, thổi hồn vào nó để làm thành phong cách của riêng mình. Nổi trội và không thể lẫn.
Các nhà thơ dân tộc thiểu số (và cả nhà thơ Kinh xuất thân nông thôn), dù đã hơn chục năm thành dân phố chợ, nhưng luôn làm thơ trong sự vướng kẹt không khí thôn làng Việt Nam. Và, chúng ta xem sự vướng kẹt ấy như là bản sắc. Lò Ngân Sủn: không! Một giọng thơ thuần phác đầy thi tính. Thuần phác thi tính khác trời vực với vướng kẹt. Cũng giống như Dương Thuấn, anh là kẻ làng bản, mang hơi thơ trong trẻo tận đầu nguồn vào phố. Mát rượi. Như một quà tặng của nguồn suối. Một tiếng gọi về nguồn khác.
Về nguồn, nhưng không phải bằng bước chân ẻo lả của thứ tâm thức hoài niệm quá khứ hay khệ nệ của tinh thần bảo tồn bảo tàng, mà về nguồn tắm nước suối của làng bản. Đi hết mọi cách tân, mọi làm mới, mọi trào lưu,… thi ca trở về nguồn cội, nói lại ngôn ngữ ban đầu, thở lại hơi thở trong trẻo ban đầu.
Bởi, ở cuối cuộc hành trình sáng tạo của mình, trong khi Jacques Prévert ngày càng đưa thơ vào ngõ tối của thời sự xã hội thì Lò Ngân Sủn vẫn giữ được cái nhìn tươi nõn của mình đối với sự vật, con người, các mối quan hệ. Do đó, thơ anh cứ vui vẻ.
Một giọng thơ VUI – đó là đóng góp đáng chú ý của Lò Ngân Sủn vào nền thơ chúng ta.
Một phần trong tôi là cổ tích
Một phần trong tôi là cái mõ
Một phần trong tôi là ngọn gió vô tư
(Trong tôi)
Hãy nhìn vào thơ Việt hôm nay: chúng ta vẫn còn cái gì khá nghiêm nghị, khá trịnh trọng như thể áo chùng khăn đóng chiếu trên/dưới hay cà vạt vét tông xa lông/hội nghị trong cuộc văn chương, nếu không thế thì cứ lải nhải lục bát anh-em sướt mướt. Giới trẻ thì căng quá, gồng mình và triết lý (mọn) sớm quá – nghĩa là cứ muốn làm cụ non. Lò Ngân Sủn – vui.
Như trước đó Bùi Giáng vui, rồi Nguyễn Duy vui. Nguyễn Duy thấy mình vui ngày càng lậm dấu vết Bùi Thi Sỹ thì dừng lại. Còn Lò Ngân Sủn cứ vui tới. Ham vui quá, nên lắm lúc anh đã dễ dãi. Những “con gái Hà Nội đẹp như xôi nếp nhuộm phẩm”, hay “mùa hạ về đất nước hoá mùa xuân”… các bài thơ dai dài một chút anh phóng bút dễ dãi đã đành, ngay ở đôi bài thơ ngắn anh cũng hay dễ dãi.
Nói như M. Houellebecq: “Trí thông minh không ích gì cả trong việc viết những bài thơ hay; tuy nhiên nó có thể tránh cho ta khỏi viết ra các bài thơ dở.” Ngây thơ, bản năng thì được nhưng ngô nghê ngọng nghịu thì rất không. Bởi cần phải có thật nhiều trí tuệ, chồng chất bao nhiêu gánh nặng của nỗi đời mới có thể đạt đến ngây thơ, cái ngây thơ thi tính, ngây thơ khinh khoái của sự sáng tạo.
Lại nữa, nếu anh mãi ngây thơ, ngây thơ đầu tiên và cuối cùng, thì anh đang ăn mòn vào củ khoai quá khứ và đã tự hưu non trong nghệ thuật rồi. “Với thơ hiện đại, sáng tác là phê bình và phê bình là sáng tác”. (Octavio Paz). Anh có thể sáng tác trong ngây ngất bản năng như trẻ con trong trò chơi, nhưng sau khi tác phẩm được viết ra, nó phải chịu soi mói bằng cái nhìn của bà cô già!n
I.R.S.R
(1) Lò Ngân Sủn, dân tộc Dáy, sinh: 26.04.1945 tại Lào Cai.
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Hiện là Tổng thư ký Hội VHNT các DTTS Việt Nam (khóa 2002-2007). Đã xuất bản:
– Thơ tiếng Việt (9 tập): Chiều biên giới (1989), Những người con của núi (1990), Đám cưới (1992), Đường dốc (1993), Dòng sông Mây (1995), Chợ tình (1995), Lều nương (1996), Tôi là một ngọn gió (1998), Người trên đá(2000).
– Thơ song ngữ (1 tập): Đầu nguồn cuối nước (1997).
– Ngoài ra còn có tác phẩm sưu tầm, dịch (2 tập): Tục ngữ Dáy, Bước đầu tìm hiểu về dân ca người Dáy; và 3 tập tiểu luận.
(2) Các đoạn thơ của Lò Ngân Sủn được trích dẫn từ:
– Núi mọc trong mặt gương (Sđd).
– Con của núi I, Nxb. Hội Nhà văn, H., 1996.
– Con của núi II, Nxb. VHDT, H., 1997.
– Con của núi III, Nxb. VHDT, H., 2001.
(1) Prévert, Pour toi mon Amour, trong Les Paroles, Gallimard, loại sách Le Livre de Poche, 1949, p. 41, Inrasara dịch.
(Báo Văn nghệ)
Inrasara
Chủ quan nên ngây thơ. Chủ quan và ngây thơ là bản chất cố hữu của thi sĩ. Nó có mặt từ khởi điểm, trong quá trình và cả lúc kết thúc của sáng tạo. ở nghề nghiệp khác nó có thể là tật xấu và nguy hiểm nhưng trong nghề làm thơ nó vô hại, thậm chí còn là một trong những tính tốt nữa. Nhất là với nhà thơ thuộc trường bản năng (tôi tạm thay đổi thuật ngữ Peintres de L’ Instinct - hoạ sĩ theo thiên năng) như Lò Ngân Sủn.
Mang nó vào lý luận phê bình dù là bình ngắn một bài thơ hay, Lò Ngân Sủn dễ gây cho chúng ta một nụ cười thầm (đây là lối nhìn chủ quan của tôi, không áp đặt cho một ai cả) nhưng trong sáng tác, anh đã khiến cho các nhà thơ cao tay nghề cũng phát thèm.Tôi gọi thi sĩ dân tộc Dáy này là nhà thơ bẩm sinh, bẩm sinh và bản năng hơn tất cả các nhà thơ mà tôi được biết (phát biểu này không hề phạm đến cái lớn của họ).
Như nét cọ tươi mát của Henri Rousseau nguệch ngoạc ngộ nghĩnh giữa cuồng lưu trường phái hội hoạ Pháp nặng tính trí tuệ nở rộ ở đầu thế kỷ, trong nền thơ Việt Nam hôm nay với bao toan tính bứt phá vượt bỏ, những nhăn nhó trịnh trọng với gồng mình gánh vác bao nhiêu là tính, rồi thì những ru ngủ vần vè…Lò Ngân Sủn xuất hiện như một làn gió mới, mát, lạ.
Văn chương tiếng Việt cổ điển – ngoài đại bộ phận ca dao và vài cá nhân độc sáng ở một vài tác phẩm độc đáo – đa phần là các sáng tác mang nặng ước lệ vay mượn. Từ ngôn từ, điển tích, cốt truyện cho đến thể thư, cách nhìn, cách thể hiện. Chỉ khi các tài năng thư lớn như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương… xuất hiện, các ước lệ vay mượn (từ Trung Quốc) mới được dần dần từ bỏ, sau đó bị phong trào Thư Mới cắt đuôi gần hết. Rồi Thư Mới lại sáng tạo ra một ước lệ khác. Và… Sáng tác bằng tiếng Việt, các nhà thơ dân tộc thiểu số dễ có nguy cơ rơi vào các ước lệ cũ kĩ kia. Như Mai Liễu với chất liệu đề tài, hay Lương Định với ngôn ngữ thơ… Lò Ngân Sủn, may mắn thay, đã không sập bẫy. Bản năng thi sĩ đã cứu anh!
Người đẹp của anh hoàn toàn khác. Mới, lạ và rất… đẹp.
Người đẹp trông như tuyết
Chạm vào lại thấy nóng
Người đẹp trông như lửa
Sờ vào lại thấy mát
Người không khát - nhìn thấy người đẹp cũng khát
Người không đói - nhìn thấy người đẹp cũng đói
Người muốn chết - gặp người đẹp lại không muốn chết nữa.(2) (Người đẹp)
Ngoại trừ tuyết ở câu đầu (mà tôi cứ nơm nớp nhà thơ dân tộc này sẽ vấp ngã), còn lại là cách nhìn khác, với lối xử lý tình huống nghệ thuật khác. Toàn triệt. Từ đó có ví von khác, sử dụng ngôn từ khác. Khác và bất ngờ.
Hai ta yêu nhau giữa lều nương
lều nương không phên vách
ta cởi áo làm phên vách.
Hai ta yêu nhau giữa lều ruộng
lều ruộng không chăn chiếu
ta cởi áo làm chăn chiếu
(Tình ca lều nương)
Thử đọc thêm bài thơ ngắn nữa của anh:
Già là một cái gì thật đáng sợ
Sao lại làm cho nhau chóng già?
Đau là một cái gì thật ghê gớm
Sao lại làm cho nhau đớn đau?
Chết là một cái gì thật khủng khiếp
Sao lại làm cho nhau phải chết?
Trời ơi, ai mà đoán biết được
Con người sẽ còn làm khổ nhau đến bao giờ
(Già, Đau, Chết)
Cảnh vật, sự kiện hay ý tưởng cũ luôn được cái nhìn của Lò Ngân Sủn tắm gội, làm mới như là lần đầu tiên nó được nhìn thấy, nói đến. Bằng thứ ngôn ngữ giản đơn đến tinh ròng.
Cách nhìn tươi non, lối nói thuần phác này, theo Hoàng Quảng Uyên, được nhà thơ Lò Ngân Sủn tiếp nhận từ ca dao, dân ca các dân tộc thiểu số phía Bắc. Theo tôi nghĩ, còn hơn thế, bản năng thơ đã tiếp sức cho anh. Bởi ngay cả khi “đi tỉnh” và ở thành đến mươi năm, Lò Ngân Sủn vẫn giữ được cái nhìn thơ trẻ cũ.
Ta lê bước về nhà
Mà hồn như còn ngủ ở thắt lưng em
hay:
Đi chợ là đi mây về gió
Vó ngựa đung đưa giữa rừng chiều
Đốt cháy lòng nhau là nỗi nhớ
Đêm về lại đi chợ trong mơ (Đi chợ)
Có thể ví văn học Việt Nam như thân cây có năm rễ. Rễ chồi đâm sâu vào lòng đất, bao gồm toàn bộ sáng tác dân gian của tất cả các dân tộc. Bốn rễ phụ bò ra bốn hướng rút tỉa tinh chất từ những vùng đất lạ: nhánh vươn ra phía Bắc nhận ảnh hưởng của văn học Trung Quốc (văn chương bác học của người Việt từ đầu thế kỷ XX trở về trước), nhánh với qua phía Tây hút dưỡng chất từ văn học phương Tây (một bộ phận lớn của văn chương Việt Nam tiền chiến), nhánh bò lan vào nhiều khu đất màu mỡ của sáng tác thành văn của các dân tộc, các nhánh còn lại đâm xuống phương Nam nhận nhựa sống từ văn học Mã Lai và ấn Độ xa xôi (mà văn chương cổ điển Champa là đại diện).
Cây văn học Việt Nam hôm qua được cắm trên nền đất phì nhiêu mà nếu chịu cày xới và chăm bón thì nó cũng sẽ cho hoa quả ngọt ngào không thua kém nền văn học đất nước nào bất kỳ. Nhưng mãi đến hôm nay, còn vài mảnh đất chưa được làm tơi xốp nên vẫn còn nhánh rễ còi cọc và đang có nguy cơ bị thui chột trong lòng đất đen.
Nhất là văn học dân gian của các dân tộc thiểu số.
Tại Hội nghị Văn học Tây Nguyên 1998, có nhà báo hỏi tôi: anh đã khai thác được gì ở nền văn hóa dân tộc Chăm. Tôi nói: tôi không khai thác mà từ giữa lòng văn hóa dân tộc bước ra để sáng tạo cái mới.Truyền thống không phải là cái gì để chúng ta tìm tới khai thác trục lợi, mà là một sinh thể sống động luôn mời gọi chúng ta tiếp cận. Chỉ khi nào chúng ta nghiêm túc học hỏi và đối thoại với hàng ngàn thế hệ con người đã chết, chúng ta mới có đủ lông cánh nói đến sáng tạo. Chứ không phải thái độ học lỏm qua vài chuyến điền dã hay đọc qua loa các “ông trình khoa học” lớt phớt ở vành ngoài.
Được bú mớm từ nếp sinh hoạt, nếp nghĩ mà cấu trúc ngôn ngữ của cộng đồng phần nào còn biệt lập với thế giới văn minh, chưa “nhiễm”không khí thơ dân tộc Kinh, nếu ý thức sâu sắc cái bẫy ước lệ luôn giăng ra trên bước đường chông chênh của sáng tạo, các nhà thơ dân tộc sáng tác bằng tiếng Việt sẽ có tiếng nói lạ biệt nhất định.“Dòng sông văn hóa dân tộc” (dụng ngữ của Pauh Catwai, một tác phẩm cổ điển Chăm) cuồn cuộn chảy. Chúng ta đến đó, soi mình xuống con sông và tha hồ múc về bao nhiêu là gánh nước ngọt dưỡng nuôi và cả tẩy uế tâm hồn ta. Nhưng đóng góp đáng giá của một nghệ sĩ vào văn hóa dân tộc chủ yếu là ở hành động “phá”: tiếp thu truyền thống thơ ca dân tộc không phải copy mà là bẻ gẫy nó để tạo cái mới; tiếp nhận một/một vài trào lưu văn chương thế giới không phải bắt chước rập khuôn mà là đập vỡ nó để đúc ra cái mới; từ giữa lòng ngôn ngữ cộng đồng, ông phải dám phá lối nói quen thuộc của cộng đồng để tìm phương thức thể hiện khác. Chỉ thế thôi ông mới đặt dấu ấn của ông lên ngôn ngữ ấy, làm phong phú nó.
Tư tưởng gặp nhau, cấu trúc ngôn ngữ thơ giống nhau, phong cách sáng tạo trùng lặp nhau không phải là chuyện hiếm giữa các dân tộc, các tác gia, các thế hệ dường như ít (hoặc không) có quan hệ lịch sử gì với nhau. Không ngạc nhiên tí nào khi Lò Ngân Sủn của dân tộc Dáy – Việt Nam dễ tìm gặp giọng thơ đồng thanh đồng khí với Jacques Prévert tận nước Pháp xa xôi. Nhà thơ dân dã nổi tiếng ở đầu thế kỷ này có một mảng sáng tác bằng thứ bút pháp tôi tạm gọi là “bút pháp liệt kê”. Thử đọc bài Pour toi mon Amour:
Anh đi vào chợ chim
Và anh mua những con chim
Cho em
tình yêu của anh.
Anh đi vào chợ hoa
Và anh đã mua những đoá hoa
Cho em tình yêu của anh.
Anh đi vào chợ sắt vụn
Và anh đã mua những sợi xích sắt
Ôi, sợi xích nặng nề
Cho em
tình yêu của anh.
Và rồi anh đi vào chợ nô lệ
Và anh đã dõi tìm
Nhưng anh đã không tìm thấy
Tình yêu
Cho em.(3)
Hai bài thơ nổi tiếng khác của ông cũng thế: Paris at night hay Déjeunée du matin,… các câu đầu chỉ thuần mang tính liệt kê, liệt kê đến nhàm chán; rồi đột ngột ở đoạn/câu cuối, ông đẩy người đọc đối mặt với ý tưởng bất ngờ nhất: nó chiếm lĩnh hồn ta, khiến ta buồn, ta cười, đau, khóc, … Chúng ta dễ dàng tìm thấy kiểu viết này có mặt xuyên suốt từ Chiều biên giới (1989) qua hàng chục tập thơ đã in của Lò Ngân Sủn. Đi đến tận cùng dân tộc, chúng ta bắt gặp thế giới là vậy.
Vàng bạc có thể trao
Ngựa trâu có thể đổi
Thóc lúa có thể cho
Vải vóc có thể biết
Nhà cửa có thể bán
Riêng em, anh không thể!
(Không thể)
ở đây tôi không có ý so sánh Lò Ngân Sủn với Jacques Prévert, càng không muốn chọn bài chưa hay của anh đặt bên cạnh một sáng tác đạt chuẩn cao của nhà thơ Pháp tài hoa, cũng nhý nội dung đề tài lớn/nhỏ của hai bài thơ ngẫu nhiên bắt gặp để phân định cao thấp. Cái tôi muốn nhấn mạnh chính là thi pháp. Đây là thứ thi pháp thuần dân gian: kể chuyện, dàn trải và đẩy đưa. Lò Ngân Sủn đã tiếp nhận, thổi hồn vào nó để làm thành phong cách của riêng mình. Nổi trội và không thể lẫn.
Các nhà thơ dân tộc thiểu số (và cả nhà thơ Kinh xuất thân nông thôn), dù đã hơn chục năm thành dân phố chợ, nhưng luôn làm thơ trong sự vướng kẹt không khí thôn làng Việt Nam. Và, chúng ta xem sự vướng kẹt ấy như là bản sắc. Lò Ngân Sủn: không! Một giọng thơ thuần phác đầy thi tính. Thuần phác thi tính khác trời vực với vướng kẹt. Cũng giống như Dương Thuấn, anh là kẻ làng bản, mang hơi thơ trong trẻo tận đầu nguồn vào phố. Mát rượi. Như một quà tặng của nguồn suối. Một tiếng gọi về nguồn khác.
Về nguồn, nhưng không phải bằng bước chân ẻo lả của thứ tâm thức hoài niệm quá khứ hay khệ nệ của tinh thần bảo tồn bảo tàng, mà về nguồn tắm nước suối của làng bản. Đi hết mọi cách tân, mọi làm mới, mọi trào lưu,… thi ca trở về nguồn cội, nói lại ngôn ngữ ban đầu, thở lại hơi thở trong trẻo ban đầu.
Bởi, ở cuối cuộc hành trình sáng tạo của mình, trong khi Jacques Prévert ngày càng đưa thơ vào ngõ tối của thời sự xã hội thì Lò Ngân Sủn vẫn giữ được cái nhìn tươi nõn của mình đối với sự vật, con người, các mối quan hệ. Do đó, thơ anh cứ vui vẻ.
Một giọng thơ VUI – đó là đóng góp đáng chú ý của Lò Ngân Sủn vào nền thơ chúng ta.
Một phần trong tôi là cổ tích
Một phần trong tôi là cái mõ
Một phần trong tôi là ngọn gió vô tư
(Trong tôi)
Hãy nhìn vào thơ Việt hôm nay: chúng ta vẫn còn cái gì khá nghiêm nghị, khá trịnh trọng như thể áo chùng khăn đóng chiếu trên/dưới hay cà vạt vét tông xa lông/hội nghị trong cuộc văn chương, nếu không thế thì cứ lải nhải lục bát anh-em sướt mướt. Giới trẻ thì căng quá, gồng mình và triết lý (mọn) sớm quá – nghĩa là cứ muốn làm cụ non. Lò Ngân Sủn – vui.
Như trước đó Bùi Giáng vui, rồi Nguyễn Duy vui. Nguyễn Duy thấy mình vui ngày càng lậm dấu vết Bùi Thi Sỹ thì dừng lại. Còn Lò Ngân Sủn cứ vui tới. Ham vui quá, nên lắm lúc anh đã dễ dãi. Những “con gái Hà Nội đẹp như xôi nếp nhuộm phẩm”, hay “mùa hạ về đất nước hoá mùa xuân”… các bài thơ dai dài một chút anh phóng bút dễ dãi đã đành, ngay ở đôi bài thơ ngắn anh cũng hay dễ dãi.
Nói như M. Houellebecq: “Trí thông minh không ích gì cả trong việc viết những bài thơ hay; tuy nhiên nó có thể tránh cho ta khỏi viết ra các bài thơ dở.” Ngây thơ, bản năng thì được nhưng ngô nghê ngọng nghịu thì rất không. Bởi cần phải có thật nhiều trí tuệ, chồng chất bao nhiêu gánh nặng của nỗi đời mới có thể đạt đến ngây thơ, cái ngây thơ thi tính, ngây thơ khinh khoái của sự sáng tạo.
Lại nữa, nếu anh mãi ngây thơ, ngây thơ đầu tiên và cuối cùng, thì anh đang ăn mòn vào củ khoai quá khứ và đã tự hưu non trong nghệ thuật rồi. “Với thơ hiện đại, sáng tác là phê bình và phê bình là sáng tác”. (Octavio Paz). Anh có thể sáng tác trong ngây ngất bản năng như trẻ con trong trò chơi, nhưng sau khi tác phẩm được viết ra, nó phải chịu soi mói bằng cái nhìn của bà cô già!n
I.R.S.R
(1) Lò Ngân Sủn, dân tộc Dáy, sinh: 26.04.1945 tại Lào Cai.
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Hiện là Tổng thư ký Hội VHNT các DTTS Việt Nam (khóa 2002-2007). Đã xuất bản:
– Thơ tiếng Việt (9 tập): Chiều biên giới (1989), Những người con của núi (1990), Đám cưới (1992), Đường dốc (1993), Dòng sông Mây (1995), Chợ tình (1995), Lều nương (1996), Tôi là một ngọn gió (1998), Người trên đá(2000).
– Thơ song ngữ (1 tập): Đầu nguồn cuối nước (1997).
– Ngoài ra còn có tác phẩm sưu tầm, dịch (2 tập): Tục ngữ Dáy, Bước đầu tìm hiểu về dân ca người Dáy; và 3 tập tiểu luận.
(2) Các đoạn thơ của Lò Ngân Sủn được trích dẫn từ:
– Núi mọc trong mặt gương (Sđd).
– Con của núi I, Nxb. Hội Nhà văn, H., 1996.
– Con của núi II, Nxb. VHDT, H., 1997.
– Con của núi III, Nxb. VHDT, H., 2001.
(1) Prévert, Pour toi mon Amour, trong Les Paroles, Gallimard, loại sách Le Livre de Poche, 1949, p. 41, Inrasara dịch.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,