Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Giới thiệu tác phẩm

60 trả lời, 1.791 lượt xem — Trang 1 / 3
Đọc "Nỗi khuya" thơ của Đào Vĩnh

Thơ của Đào Vĩnh là những tự sự, là những mảnh vỡ lát cắt của gã cô đơn si tình đắm khát. Tôi hình dung anh đi qua những nẻo thăng trầm mưa gió với một niềm khát khao cháy bỏng tình người.

Anh suy ngẫm trước cuộc đời mình để rồi chắt lọc ra những vần thơ. Thơ của Đào Vĩnh hồn nhiên, tươi mới, khoẻ khoắn như chính tâm hồn người kỹ sư xây dựng, thậm chí còn thô mộc nhưng ẩn sau những con chữ đó là cái tình rất đỗi thật thà. Anh không giả tạo thương vay khóc mướn. Mà chỉ âm thầm với cảm xúc chợt đến Định ngắm nhành hoa mình sẽ hái/ Nào ngờ run rẩy giọt sương mai/ Chút hương mỏng mảnh không thu lại/ Cũng đẩy ta xa tít dặm dài. (Run rẩy)

Cái chất thi sĩ của Đào Vĩnh nằm ẩn sâu trong con chữ thô ráp như những viên gạch phồng đã tôi qua lửa. Nó cong vênh và nứt vỡ như chính tâm hồn anh vậy. Tôi thấy được cái nhìn tinh tế giàu sức gợi ở những câu thơ tự do, khoáng đạt, nói với giọng điệu bông phèng mà lại rất sâu sa.

Con đường ngót bước chân/ Rượu nhìn người trễ nải/ Trang bản thảo bực mình vo dúm/ Lại trải lại dựng/ Trôi miền vu vơ (Mưa không mùa)

Bất chợt tôi liên tưởng tới bóng đêm xa xăm diệu vợi, mung lung ngút ngái, có người đàn ông khuya khoắt lặn lội đi về. Cái vu vơ lại giăng mắc, dồn nén, bằng những câu thơ phảng phất vị nỗi niềm.

Đọc tập thơ Nỗi khuya tôi cảm giác như mình đang được trò chuyện với người tri âm tưởng như lâu ngày quên lãng, giờ gặp lại bỗng thấy bùi ngùi. Thơ Đào Vĩnh ấm áp, dẫu chỉ là cơn gió heo may thổi qua nhưng đã làm ấm lòng kẻ lữ khách. Họ tìm thấy nỗi lòng mình ở đó, phải chăng Đào Vĩnh cũng đang thổn thức dưới ánh trăng để rồi an ủi chính mình. Tôi đoán chắc rằng anh đã tìm được ngọn lửa cho thơ mình, dầu còn nhen nhóm nhưng sẽ bừng sáng soi cho con đường thi ca mà anh đã một đời đeo đẳng duyên nợ.

(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Đọc "Ngày ấy bên sông" - Tiểu thuyết của Xuân Thu

Ngày ấy bên sông, theo tác giả, là câu mở đầu của các cụ già ở làng Ngọc Chúc, xã Chí Đám, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ mỗi khi kể lại cho lớp hậu thế nghe về cuộc chiến đấu của nhân dân địa phương chống thực dân Pháp trong chiến dịch Thu - Đông 1947 và chống chiến tranh phá hoại dã man của đế quốc Mĩ trong những năm 1965-1968.

Ngày ấy (1947), người dân làng Ngọc Chúc đã cùng bộ đội đánh đắm tàu chiến Pháp, dùng sản vật của quê nhà là quả bưởi để làm thuỷ lôi giả, đánh lừa quân giặc gây cho chúng hoang mang để rồi chịu thất bại thảm hại ngay trong âm mưu đầu tiên tiến quân lên Việt Bắc. Ngày ấy (1965-1968), nhân dân Ngọc Chúc đã tham gia bảo vệ và vận chuyển hàng vạn tấn đạn dược từ thuyền phà lên kho bãi, rồi lên xe để đưa ra chiến trường. Có người đã hy sinh ngay trên trận địa đánh trả máy bay giặc. Có người tan xương nát thịt khi làm nhiệm vụ rà phá bom bi, bom từ trường của Mĩ thả xuống. Ngày ấy, thanh niên trong làng nô nức hành quân, lên đường ra trận, và nhiều người đã không còn trở về…

Ngày ấy cách hôm nay đã trên dưới nửa thế kỷ được Xuân Thu tái tạo lại trong một tập sách gần 400 trang, phải nói là khá sâu sắc và linh động. Bức tranh làng quê ấy trong những ngày đánh giặc mở ra trước mắt người đọc một không khí nóng bỏng, sục sôi và quyết liệt. Tất cả để chiến thắng kẻ thù hung bạo. Người già, trẻ em thì sơ tán đến nơi an toàn. Còn thanh niên nam nữ thì bám sát hiện trường quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Phải đâu chỉ có ở chiến trường miền Nam mới "ngút trời lửa đạn" mà ngay ở nơi ngã ba sông Lô, sông Chảy này, cách xa vĩ tuyến 17 ngót ngàn cây số, cuộc chiến vẫn diễn ra ác liệt suốt ngày đêm, cả với giặc trời và giặc nước, bảo vệ kho đạn, làm sao đưa nhanh ra tiền tuyến để trút lửa lên đầu thù.

Sau 4 tập thơ, 2 tập truyện ngắn, Ngày ấy bên sông là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Xuân Thu. Trong Khúc vĩ thanh tác giả thổ lộ đã từng nung nấu một ý tưởng: "Tôi phải viết một tác phẩm gì đó để ghi lại mối tình này (mối tình giữa Huân và Phương), ghi lại những ngày khói lửa của làng Ngọc Chúc, xã Chí Đám trong hai cuộc kháng chiến…". Và anh đã làm được việc đó, coi như trả xong món nợ đối với những người đã khuất.

Không những qua Ngày ấy bên sông mà trước đó, với hai tập truyện ngắn Mạch sủi và Sông Lô thì thầm, người đọc đã thấy một Xuân Thu nặng tình nặng nghĩa với vùng quê xứ bưởi Đoan Hùng. Có người nói: "Xuân Thu là người mắc nợ một dòng sông". Quả đúng vậy. Anh trưởng thành từ trong phong trào HTX nông nghiệp, từng làm Chủ nhiệm Ban quản trị HTX NN, rồi Chủ tịch xã… Tất cả những gì diễn ra ở cái xã Chí Đám ven bờ con sông Lô khi hiền hoà, khi hung dữ này đều ngấm vào máu thịt anh để từ đó theo ngòi bút nhà văn mà tuôi chảy vào trang viết.

Ngày ấy bên sông, ta thấy hiện thực mà tác giả phản ánh tập trung vào hai vấn đề chính: Chiến tranh và Tình yêu. Câu chuyện bắt đầu từ nhân vật Huân, một sĩ quan quân đội được cấp trên điều về công tác tại làng Ngọc Chúc để chỉ đạo việc bảo vệ và vận chuyển đạn dược từ thuyền phà lên kho bãi. Sau hai năm lăn lộn với công việc ở nơi đầu sóng ngọn gió này, Huân được mọi người quý mến bởi tính trung thực và lòng dũng cảm, luôn gắn bó với nhân dân. Anh từng là chú bé liên lạc cho bộ đội trong trận đánh tàu chiến Pháp trên sông Lô năm 1947. Là một đứa trẻ bơ vơ, nạn nhân của chiến tranh, Huân nhờ quân đội mà lớn lên, với tấm lon trung uý trên vai. Qua quá trình chiến đấu và công tác ở Ngọc Chúc, tình yêu nảy nở giữa Huân và Phương, một cô gái xinh đẹp nết na, con liệt sĩ, lại đang là B trưởng dân quân. Tình yêu của họ được bà con vun đắp, chỉ chờ ngày cưới thì Huân có lệnh điều ra mặt trận. Anh đã ngã xuống ngay cửa ngõ Sài Gòn trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trong khi đó, Phương ở nhà mỏi mòn trông đợi người yêu. Cô lấy việc hăng say công tác cho khuây khoả. Và Phương đã quên mình để cứu người khỏi chết đuối trong một cơn lũ khủng khiếp ngay trên con sông quê mình. Một câu chuyện tình thời chiến. Không mới, nhưng da diết, bi thương.

Ngày ấy bên sông đánh dấu bước trưởng thành của Xuân Thu. Tác phẩm đã hiện diện trước công chúng. Đó là tâm huyết của tác giả, là sản phẩm được nhào quyện từ trái tim, khối óc của nhà văn dâng hiến cho đời. Xin chúc mừng Xuân Thu và chúng ta cùng chờ đợi những tác phẩm hay hơn nữa của anh.


(*) Ngày ấy bên sông - Tiểu thuyết - Nhà xuất bản Thanh niên - tháng 2-2005

(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Đọc “Con người kể cũng hay hay” của Lý Biên Cương (Nxb Hải Phòng, 2003)

Cao Năm

Tập sách không dày, chỉ có 230 trang giới thiệu gần một trăm tản bút của nhà văn Lý Biên Cương đã đăng rải rác trên báo. Cuốn sách như mang đến cho người đọc một cách nhìn cuộc đời, nhìn xã hội một cách đầy trách nhiệm xây dựng và cũng như chia sẻ với bạn đọc những tâm tư suy nghĩ của nhà văn trước cuộc sống bộn bề hôm nay. Vốn là một người viết báo trở thành một nhà văn có chỗ đứng trong lòng bạn đọc hàng mấy chục năm nay, Lý Biên Cương dường như ý thức hết trách nhiệm của mình với cuộc sống thường nhật đang được cả xã hội quan tâm. ý thức của người viết, của nhà văn hiện rõ trên từng con chữ, cách đặt vấn đề, cách thể hiện ý tưởng, làm cho quảng đại công chúng đọc báo có thể hiểu được cái mà người viết định nói, nhưng lại không rơi vào đơn điệu, khô khan. Với một người viết văn quay sang viết báo, dù là báo mang dáng dấp của văn như tạp văn, tản bút, thì cũng không đơn giản chút nào. Bởi bài báo thường bị gò về số chữ, dòng in chứ không được “thả phanh” như bài văn. Thế nên, đọc những tản bút của Lý Biên Cương trong Con người kể cũng hay hay thấy rõ dụng công của tác giả trong cách thể hiện ý tưởng bài viết muốn đưa ra, để vấn đề tác giả định trình bày không rơi vào khô khan, trần trụi quá, nhưng cũng không văn vẻ đến mức người đọc có thể nghĩ đấy là một bài văn hư cấu trăm phần trăm. Cái khó của tạp văn, tản bút nhiều khi còn ở điều này: Rơi vào thái cực nào cũng làm giảm đi tính thuyết phục của bài viết. Lý Biên Cương đã chọn được lối đi giữa một bên khô khan, trần trụi và một bên như cố ý làm cho bài viết văn vẻ đến rất đáng ngờ tính chân thật của vấn đề tác giả đưa ra. Nên đọc tản bút của anh, người đọc nhiều khi thấy bất ngờ vì vấn đề nhà văn đề cập lại chính là cái ở ngoài đời ai ai cũng thấy. Thấy nhưng lại chẳng mấy ai để tâm. Đọc tản bút Lý Biên Cương bỗng như được mách nhỏ, gợi ý một cái gì đó rất gần gũi, thiết thân với cuộc sống. Ai mà chẳng một lần thấy người đi xe đạp, xe máy ngoài đường quên không gạt cái càng chân chống xe lên. Nhưng không phải người nào nhìn thấy người điều khiển xe quên chưa gạt chân chống cũng tìm cách nhắc: “Chân chống kìa”, cho người đó biết mà gạt chân chống xe lên kẻo sơ ý ngã xe có khi mất mạng. Vẫn là khi đi đứng ở ngoài đường, dù là người vội vàng hay người thư thả, không biết từ bao giờ đã mắc cái bệnh “Vô cảm” thấy trộm giật túi xách, dằng đồng hồ, cướp xe đạp của người khác cũng chỉ trơ mắt ếch ra nhìn, chứ chẳng mảy may xúc động. Lại không ít người gặp người già hành khất, trẻ em lang thang hay người cãi lộn, đánh chửi nhau bên hàng xóm cũng cứ dửng dưng như không, chẳng những thế, có người còn buột miệng “may quá”, vì những sự “chẳng may” kia không rơi xuống đầu họ hoặc người thân thích của họ. Nhà văn phân tích căn nguyên căn bệnh “vô cảm” ấy và khéo nhắc nhở: “Ôi cái bệnh vô cảm thời nay, càng văn minh hiện đại, nhiều người càng thu mình trước mọi tai ương. Trước đây, gặp chuyện ngang trái giữa đường, nếu không ra tay cứu giúp thì vẫn còn được mấy lời đồng cảm xót thương. Giờ hình như trái tim của một số người trơ ra, xơ cứng trước mọi đau khổ người khác”. Đạo đức và lối sống là vấn đề được nhà văn Lý Biên Cương hết sức quan tâm, trong tập Con người kể cũng hay hay anh có tới gần hai mươi bài viết đề cập đến vấn đề này ở nhiều khía cạnh khác nhau. Khi thì là sự thờ ơ của anh hàng xóm đến mức có người kề cận nhà bên mất từ tám hoánh mà vẫn không biết; khi lại là một lối sống “ngược” đời này: người già quan tâm luyện tập thân thể, nhưng cháu con thì cứ ì ra, túm năm tụm ba ở các hàng quán, chẳng chịu tập tành gì; người cao tuổi gặp nhau thì chào hỏi, còn đám trẻ gặp nhau chỉ văng tục, chửi đổng chẳng cần biết người xung quanh là ai. Rồi cái lối sống “cháy nhà hàng xóm bình chân như vại” của những tay “có máu mặt thời nay”, hay những ông sếp bề ngoài ngỡ như chẳng mảy may tơ hào đến “cái kim sợi chỉ của ai”, nhưng đằng sau ông đã có một bà vợ “rách trời rơi xuống” chỉ ở góc nhà nhưng lại nhận không biết bao nhiêu là bổng lộc tự dưng mang đến, cho đến khi bà chơi “bài ngửa” nói thẳng cho ông hay: “Bằng gì hả, bằng bổng lộc của chính ông. Một tháng ông tiệc tùng dôi bao nhiêu bữa không ăn cơm nhà. Một năm ông được lễ lạt bao nhiêu phong bì, nhất là những dịp lễ tết. Ông liêm khiết không cầm, nhưng tôi sau ông tôi cầm, tiền tiêu ở đấy chứ ở đâu. Rồi còn những đận biếu xén, những đận bật tường, họ nói thưởng lại công ông ký cái gì đó”. Đọc đoạn văn này, hẳn nhiều vị sếp cũng phải giật mình quay nhìn lại chính cái nhà của mình xem bà vợ có giống thế này không. Ai bảo tản bút không có sức “công phá” như một làn roi phê bình “ngọt ngào mà cay đắng”. Những tản bút của Lý Biên Cương đều được viết nhẹ nhàng như thế, dường như nhà văn chỉ đưa ra một hiện trạng, hoặc kể lại một câu chuyện được nghe, hay một sự việc bất chợt mình chứng kiến với lối viết êm ái, đôi khi rất dịu dàng như cách nói, cách cư xử của anh ở ngoài đời, nên đọc dễ vào, dễ thẩm thấu, kể cả khi nhà văn thông qua nhân vật, lời thoại thẳng thắn phê phán thói hư, tật xấu của loại người này, người kia thì anh cũng không dùng những từ ngữ dữ dằn “đao to búa lớn”, mà chỉ như một lời cảnh báo, khuyên can, nhắc nhở nhẹ nhàng cốt làm người đọc như bấy lâu mải đi, mải chạy bỗng giật thột nhìn lại chính mình. Khác với lối viết tản bút, tạp văn ở một số người mà gần đây tôi thường đọc, đọc tản văn Lý Biên Cương cảm giác như tác giả tự giấu mình, không giảng giải, thuyết giáo đạo đức, lối sống, hay “lên lớp” người ta phải thế này, thế kia, và nhất là không mấy khi bắt gặp anh viện dẫn sách vở dài dòng.

Điều hết sức thú vị là với hơn hai trăm trang sách mà được thấy nhà văn quan tâm đến khá nhiều vấn đề của đời sống xã hội hiện nay, trong đó nhiều vấn đề không chỉ quan tâm mà anh còn tỏ ra am hiểu khá sâu sắc, tường tận. Từ tình cảm tươi mát với làng quê của người con đi xa mỗi khi heo may rải đồng, cái vô cảm, thói hợm đời của kẻ mới có tý đồng tiền đã khoe mẽ, đến những vấn đề có tầm xã hội, chiều sâu văn hoá, đạo đức, truyền thống, lịch sử như việc làm nhà tình nghĩa, gọi tên danh thắng Yên Tử, bồi dưỡng người hiền tài, phê phán bệnh háo danh, bệnh thành tích, hám chức, hám tiền bất chấp luân thường đạo lý, và cả những vấn đề đang là mối lo của nhiều người như giải phóng mặt bằng, đất đai, xây dựng, môi trường đều được Lý Biên Cương đề cập tới với ý thức công dân - nhà văn, đầy xây dựng, thẳng thắn, có lý, có tình. Có lẽ với ý thức ấy, nhà văn đã chọn được một cách thể hiện ý tưởng khá nhuyễn với lối viết ngắn gọn, sâu sắc, trí tuệ mà vẫn đằm thắm, tình cảm của người viết, trách nhiệm của nhà văn như quyện vào từng trang viết. Đọc tản bút Lý Biên Cương dù là khi đề cập đến vấn đề có tầm rộng, hay lúc như chỉ gảy ra cái gì đó trong nếp nghĩ, cách sống của một lớp người cũng đều thấy rõ công phu của tác giả khi lựa chọn vấn đề, lựa chọn lối dẫn dắt, sử dụng thủ pháp văn chương… Ngay nhập đề cũng mỗi tản bút một kiểu riêng, không bài nào giống nhập đề bài nào. Khi thì anh vào đề theo lối kể lại một câu chuyện “tai nghe, mắt thấy”, lúc lại mượn một câu thơ “Ai về nhắn gửi phường lòi tói…” để phê phán cái lối háo danh của đám người vô học đến những nơi danh thắng ghi bậy bạ tên mình vào đó mong “để tiếng ở đời”; đôi khi nhà văn cũng không ngần ngại đưa ca dao, tục ngữ, thành ngữ ngoài đời vào tản bút của mình làm tăng thêm thi vị và gần gũi với cuộc sống. ý thức trách nhiệm với bạn đọc ở nhà văn còn được thể hiện trong khuôn khổ từng bài viết, không tản bút nào dài tới dăm trăm chữ, thường chỉ ba bốn trăm chữ là đủ để anh trình bày, dẫn dắt điều mình muốn nói với bạn đọc; thậm chí có những bài rất ngắn, chỉ hai ba trăm chữ, như các tản bút: Vô cảm, Xa xỉ, Dạ thưa, Phường lòi tói, Thực tài, Móm, Giặc mồm v.v… ở một thể loại tương đối khó viết như tản bút, tản văn Lý Biên Cương vẫn phát huy được lối viết dãn chuyện, khắc hoạ tính cách, hoàn cảnh và cả đến số phận con người mà anh tạo dựng làm trung tâm của bài, với một mạch văn khá mượt mà, êm dịu đến ngọt ngào, mà có khi lại là kiểu “mật ngọt chết ruồi”, rất Lý Biên Cương. Chính những cái đó đã tạo cho những trang tản bút của anh không rơi vào khô khan, những điều anh đề cập đến rất thật ở ngoài đời, nhưng vẫn có cái gì đó không đến nỗi quá thật, mà cũng không phải là hư, nên càng tăng thêm tính thuyết phục. Lối viết khách quan, giọng văn pha chút hài hài cũng là một thế mạnh của anh được phát huy ở tập tản bút này.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Đọc Gửi sông Thao & Tự khúc tháng Tư của Đỗ Quý Bông

Lã Thanh Tùng

Từ đã lâu nay, cũng như một số người, tôi cứ bị ám ảnh mãi về hai chữ “héo tươi” trong bài thơ Đỗ Quý Bông viết bên Giếng Ngọc, đền Hùng:

Soi mình gương Giếng bấy lâu

Mùa đi không cuối không đầu đồi nương

Đáy trời ngoài giếng hai sương

Đáy trời trong giếng khôn lường héo tươi

Hình như cái héo tươi này khởi phát từ các mối quan hệ xã hội, là chuyện giữa người với người. Chỉ có đứng trước cái lỗ lãi, chẵn lẻ của đồng loại thì con người mới ưu tư đến vậy. Thì đây là chữ “khôn lường”, cái yếu huyệt đặt đúng vần lưng bẻ câu lục bát sang một hướng bất ngờ, những cuộc đời trăm nghìn ngả rẽ.

Tôi quen biết Đỗ Quý Bông đã hai chục năm nay. Anh thuộc típ người se sắt, bình dị, thậm chí đến mức cũ... kỹ. Những cái bất biến trong anh có nhiều, nhưng dễ thấy nhất, lạ thay, lại về phương thức di chuyển. Kể từ thuở hàn vi, lớn lên vào bộ đội (binh chủng Phòng không), về đài Phát thanh truyền hình Vĩnh Phú, theo học khóa III Trường viết văn Nguyễn Du, công ty Bao bì xuất khẩu, đến cuối cùng là báo Bưu điện Việt Nam (cơ quan thuộc vào hàng thịnh vượng trong làng báo), lúc nào anh cũng chỉ... xe đạp. Lý giải về chuyện này, anh toàn cười cười rồi tránh lảng. Kể cả trong thơ cũng không thấy bóng dáng đáp số, ngoại trừ hai câu vắn tắt đến choáng váng: Đi bên em... đại lộ tít tắp mà quanh quẩn.

Trong bài thơ Trợ cấp của Nam Cao, Đỗ Quý Bông lặng lẽ trảy ngược thời gian, hay nói cách khác, anh mời Nam Cao đến thời đại mình để tạ ơn Nhà văn về những gì ông di huệ lại cho đồng loại.

Hôm nay tôi lĩnh lương

có miếng ngon chạnh nhớ người đã khuất

Một cảm quan linh ứng đồng khí tương cầu đã cho anh khả năng nói được với Nam Cao những lời tưởng như chỉ có trong văn học phi lý, hiện thực huyền ảo:

Thú thực với ông trong những năm qua

Ông trợ cấp cho tôi nhiều lắm

Những lão Hạc, Chí Phèo, Giáo Thứ... cùng biết bao số phận éo le là những thứ người đời nhận được của Nam Cao mà chẳng mấy ai hàm ơn. Còn đối với Đỗ Quý Bông, thì ngay ánh trăng “vàng nuột hiên nhà” cũng ngụ lời Văn nhân,

Tạ ơn ông tôi không hương nhang

Tôi thắp bằng ánh trăng mà ông dặn rằng

“đừng bao giờ là ánh trăng lừa dối”

Bài thơ như có cái gì xót đắng, tự vận tự nghĩ, một mình mình biết một mình mình hay, nhưng chính vì thế mà day dứt. Lời thơ căn kiệm, ý thơ chân thành, xác quyết một tâm sự ngậm ngùi trước bụi mờ lớp lớp. Đỗ Quý Bông là người như vậy, anh không bợn lòng trước những rủi may va đập trực tiếp cuộc đời mang đến cho riêng mình, mà tâm thế anh luôn lắng xuống như phù sa bồi đắp chung đúc cả bến người. Lắm lúc tôi cứ tưởng tượng anh là kẻ ghét đời hoài cổ, bởi dấu ấn của lịch sử, mạch gắn bó ràng rịt với dân tộc luôn là những gì trở đi trở lại trong thơ anh. Nhưng hóa ra không phải, hay chính xác hơn là chưa hẳn đúng. Chỉ có sống đến tận cùng máu thịt với đời sống, với hiện tại, thì mới có nhu cầu liên thông với quá khứ, để mà chia xẻ, để mà chiêm nghiệm, để nhận thức lấy một chân lý nhân sinh: Làm người là rút ruột mà chân thực.

Nét tài hoa ở Đỗ Quý Bông không bông lơn chớt nhả dung tục. Anh thiên về gam màu gụ, trong đó ánh sáng dường như đã chuyển hóa, két kết, như “viễn hữu đạm, cận hữu nùng”, thoạt nhìn tưởng sơ sài, nhặm kỹ mới biết nồng nàn. Cúi đầu trước di cảo Chế Lan Viên, nỗi lòng Đỗ Quý Bông thật miên man mà thấm thía:

Mình ta, ta có sá gì

trời long đất lở, bước đi cùng đường

Thương là thương những bức tường

vỡ ra cát bụi mười phương sinh thành

Thì ra cái đắn đo chiu chắt ấy là để phút chốc òa vỡ chia xẻ, có hờn có giận mà cũng đầy chật yêu thương. Đọc những câu này tôi bỗng mường tượng ra người gánh muối đi rong, bán trong sáng mồng Một tết, cặm cụi giữa tiết xuân phơi phới lại đem cái đắng đót xót chát cho thế nhân, nhưng kèm đấy là nghĩa tình cay mặn chúng sinh. Đỗ Quý Bông không bán cái đường mật bùi béo, anh bán cái tình thật hột Bổ hòn đá lấy nước cho em uống, cái nghĩa chân quê Miếng trầu cánh phượng, buồng cau trứng gà, cái thức nhận đèo bòng Anh như tiền chẵn để dành, vào đời tay níu tay đành phá tiêu (chú ý nhịp ngắt câu bát: 2-3-3 mới thấy hết thú vị), cái ngậm ngùi tha ngã Cái mong cho mất thì còn, cái ao ước cứ chon von trên cành, cái trui rèn triết luận Thời gian tóc tự vẽ rồi, đoản thiên nhiên đoản thiên thời trường thiên (nhịp ngắt câu bát biến hóa như một ma trận), cái lãng mạn xao xác Chang chang nắng giát trên cao, tưới cây- chiều- tưởng tưới vào xa xôi, cái nhắn nhủ cảm thương Hồng nhan dưa muối tương cà, ai quên phận ấy chưa là hồng nhan, cái xót xa, tự kỷ, nhưng cũng đầy bản lĩnh Thân lươn thân chữ là ta, ngón tay út cũng đầy ba đốt hồng, cái thấm tháp trước người em liệt sĩ Em nằm lại Tây Ninh đất dầy, thời gian như đọng quanh khung ảnh,...

Trong mắt tôi, bên cạnh phần chỉn chu mực thước như thỏi mực nho phải mài rất lâu mới “dẻo nước”, thì Đỗ Quý Bông dường như cũng có lúc oái oăm lắm, một thứ oái oăm như cây tre cây xoan vùi lâu dưới bùn, càng quyến càng bện. Nếu tôi không nhấn kỹ vào nết oái oăm của anh thì anh vẫn... đáng yêu, nhưng tính từ này bấy giờ chỉ là trời cho, chỉ là nhặt được.

Cái oái oăm đầu tiên của Đỗ Quý Bông trước hết phải kể đến sự lo toan, lo toan cả trong những trường hợp yên bình tưởng như ru ngủ. Đấy, như trong bài Sự thật đã nói ở trên, diễn tả tâm trạng khi đi cạnh người yêu, anh viết:

Đi bên em

Đại lộ tít tắp mà quanh quẩn

Sao vậy nhỉ? Phải chăng Tình yêu không phải là tất cả, không đủ dẫn dắt những kiếp người cô đơn nhưng đầy dự cảm như anh, dẫu có là tình yêu đích thực? Chưa vội quy nạp, ta hãy đọc tiếp sang bài khác:

Bạn đã yêu đến hết mình

Thăng hoa huyền thoại kết tinh đá vàng

Hương hoa người tới người sang

Say tượng đá đến đa mang rêu mờ

Tôi thì tôi nghĩ vẩn vơ

Cầu cho Trống Mái bất ngờ sinh con

(Với hòn Trống Mái)

Có lẽ nhà thơ đùa? Vâng, tôi cũng nghi. Nếu thực sự yêu nhau đến độ thì sinh nở là đương nhiên chứ việc gì phải mong? Vả lại cứ để Trống Mái say nhau cho hết kiếp, cần gì vướng bận con cái, thì đã làm sao? Nhưng trong nắng có mưa, trong nước đọng lửa, tận cùng khắc biến, ở chỗ này có dấu ấn của sự “mặn hóa”, đến độ “thực bất chi kỳ vị”.

Nhà thơ Trúc Thông có lần hạ bút khen hai chữ trùng tu trong bài Thu sang của Đỗ Quý Bông là “thần hứng”, “độc nhất vô nhị”:

Thế là trời đã vào thu

Và anh lại được trùng tu lá vàng

Quả thực hai chữ “trùng tu” ở đây hay đến bất ngờ, như lời vị “chánh chủ khảo” khó tính kia buột thốt. Vâng, nếu không có tiếng thở dài Thế là trời đã vào thu biểu hiện sự chấp nhận nhưng vẫn nuối tiếc ở trên, thì cái khái niệm dẫu “hay như thành ngữ” trùng tu lá vàng kia cũng dễ lạc lõng, trở thành lời duy mỹ đến lẩm cẩm. Vậy thì phải chăng mọi con đường của nghệ thuật đều không thể chối bỏ, thoát khỏi cái gốc của đời sống?

Nói về thơ Đỗ Quý Bông mà toàn khen thì... kể cũng “vô can”, sẽ dễ là đa mang, là bất đáo. Thực ra thơ anh còn nhiều bài dở, câu dở, hay nói đúng hơn là “hay chưa đều”. Lắm lúc cần quyết liệt đi cho đến trọn đạo thì anh lại dừng bước, ví như chàng trai đã rình rập cô gái bấy lâu mà vẫn về tay trắng, chỉ than:

Thế rồi... em lấy chồng xa

Bụi mưa ngọn muống hồng hoa xuân đào

Có gì như hơi an phận, tự ru ngủ, tự thỏa, dễ khiến cuộc sống bé nhỏ đi nhiều ít.

Nhưng thôi, đó mới thực là Đỗ Quý Bông, là chàng thi sĩ không muốn tranh tâm, chẳng cố ý định vị mình trong cõi to tát, như người say không muốn dấn vào cõi chìm thuyền.

Vâng, Đỗ Quý Bông không uống được nhiều, nhưng cũng thích lơ mơ, anh gọi là bung biêng. Lúc say anh ngừng nói về thế sự, chỉ dần dần quy lại chuyện mình. Anh bảo số khổ, vợ con giúp dập cho nhiều nhưng ngặt nỗi tài hèn sức mọn, làm gì cũng chậm, suốt đời đến muộn. Rồi anh buông đũa dốc chén. Mỗi ngụm đắng khuôn mặt anh lại chùn ngắn, hai bên khóe miệng nhệch ra, trễ xuống, trông vừa buồn cười vừa tội nghiệp. Bạn bè động viên bảo làm chén nữa cho quên thì anh bảo thôi, say sưa nào có ra gì. Thỉnh thoảng gặp anh nghiêng nghiêng trên hè phố, ai cũng hiểu anh vừa tự phê tự chịu.

Muống bè cũ đến không lời

Dầm tương dầm cả một trời nổi nênh



(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Đọc Gửi sông Thao & Tự khúc tháng Tư của Đỗ Quý Bông

Lã Thanh Tùng

Từ đã lâu nay, cũng như một số người, tôi cứ bị ám ảnh mãi về hai chữ “héo tươi” trong bài thơ Đỗ Quý Bông viết bên Giếng Ngọc, đền Hùng:

Soi mình gương Giếng bấy lâu

Mùa đi không cuối không đầu đồi nương

Đáy trời ngoài giếng hai sương

Đáy trời trong giếng khôn lường héo tươi

Hình như cái héo tươi này khởi phát từ các mối quan hệ xã hội, là chuyện giữa người với người. Chỉ có đứng trước cái lỗ lãi, chẵn lẻ của đồng loại thì con người mới ưu tư đến vậy. Thì đây là chữ “khôn lường”, cái yếu huyệt đặt đúng vần lưng bẻ câu lục bát sang một hướng bất ngờ, những cuộc đời trăm nghìn ngả rẽ.

Tôi quen biết Đỗ Quý Bông đã hai chục năm nay. Anh thuộc típ người se sắt, bình dị, thậm chí đến mức cũ... kỹ. Những cái bất biến trong anh có nhiều, nhưng dễ thấy nhất, lạ thay, lại về phương thức di chuyển. Kể từ thuở hàn vi, lớn lên vào bộ đội (binh chủng Phòng không), về đài Phát thanh truyền hình Vĩnh Phú, theo học khóa III Trường viết văn Nguyễn Du, công ty Bao bì xuất khẩu, đến cuối cùng là báo Bưu điện Việt Nam (cơ quan thuộc vào hàng thịnh vượng trong làng báo), lúc nào anh cũng chỉ... xe đạp. Lý giải về chuyện này, anh toàn cười cười rồi tránh lảng. Kể cả trong thơ cũng không thấy bóng dáng đáp số, ngoại trừ hai câu vắn tắt đến choáng váng: Đi bên em... đại lộ tít tắp mà quanh quẩn.

Trong bài thơ Trợ cấp của Nam Cao, Đỗ Quý Bông lặng lẽ trảy ngược thời gian, hay nói cách khác, anh mời Nam Cao đến thời đại mình để tạ ơn Nhà văn về những gì ông di huệ lại cho đồng loại.

Hôm nay tôi lĩnh lương

có miếng ngon chạnh nhớ người đã khuất

Một cảm quan linh ứng đồng khí tương cầu đã cho anh khả năng nói được với Nam Cao những lời tưởng như chỉ có trong văn học phi lý, hiện thực huyền ảo:

Thú thực với ông trong những năm qua

Ông trợ cấp cho tôi nhiều lắm

Những lão Hạc, Chí Phèo, Giáo Thứ... cùng biết bao số phận éo le là những thứ người đời nhận được của Nam Cao mà chẳng mấy ai hàm ơn. Còn đối với Đỗ Quý Bông, thì ngay ánh trăng “vàng nuột hiên nhà” cũng ngụ lời Văn nhân,

Tạ ơn ông tôi không hương nhang

Tôi thắp bằng ánh trăng mà ông dặn rằng

“đừng bao giờ là ánh trăng lừa dối”

Bài thơ như có cái gì xót đắng, tự vận tự nghĩ, một mình mình biết một mình mình hay, nhưng chính vì thế mà day dứt. Lời thơ căn kiệm, ý thơ chân thành, xác quyết một tâm sự ngậm ngùi trước bụi mờ lớp lớp. Đỗ Quý Bông là người như vậy, anh không bợn lòng trước những rủi may va đập trực tiếp cuộc đời mang đến cho riêng mình, mà tâm thế anh luôn lắng xuống như phù sa bồi đắp chung đúc cả bến người. Lắm lúc tôi cứ tưởng tượng anh là kẻ ghét đời hoài cổ, bởi dấu ấn của lịch sử, mạch gắn bó ràng rịt với dân tộc luôn là những gì trở đi trở lại trong thơ anh. Nhưng hóa ra không phải, hay chính xác hơn là chưa hẳn đúng. Chỉ có sống đến tận cùng máu thịt với đời sống, với hiện tại, thì mới có nhu cầu liên thông với quá khứ, để mà chia xẻ, để mà chiêm nghiệm, để nhận thức lấy một chân lý nhân sinh: Làm người là rút ruột mà chân thực.

Nét tài hoa ở Đỗ Quý Bông không bông lơn chớt nhả dung tục. Anh thiên về gam màu gụ, trong đó ánh sáng dường như đã chuyển hóa, két kết, như “viễn hữu đạm, cận hữu nùng”, thoạt nhìn tưởng sơ sài, nhặm kỹ mới biết nồng nàn. Cúi đầu trước di cảo Chế Lan Viên, nỗi lòng Đỗ Quý Bông thật miên man mà thấm thía:

Mình ta, ta có sá gì

trời long đất lở, bước đi cùng đường

Thương là thương những bức tường

vỡ ra cát bụi mười phương sinh thành

Thì ra cái đắn đo chiu chắt ấy là để phút chốc òa vỡ chia xẻ, có hờn có giận mà cũng đầy chật yêu thương. Đọc những câu này tôi bỗng mường tượng ra người gánh muối đi rong, bán trong sáng mồng Một tết, cặm cụi giữa tiết xuân phơi phới lại đem cái đắng đót xót chát cho thế nhân, nhưng kèm đấy là nghĩa tình cay mặn chúng sinh. Đỗ Quý Bông không bán cái đường mật bùi béo, anh bán cái tình thật hột Bổ hòn đá lấy nước cho em uống, cái nghĩa chân quê Miếng trầu cánh phượng, buồng cau trứng gà, cái thức nhận đèo bòng Anh như tiền chẵn để dành, vào đời tay níu tay đành phá tiêu (chú ý nhịp ngắt câu bát: 2-3-3 mới thấy hết thú vị), cái ngậm ngùi tha ngã Cái mong cho mất thì còn, cái ao ước cứ chon von trên cành, cái trui rèn triết luận Thời gian tóc tự vẽ rồi, đoản thiên nhiên đoản thiên thời trường thiên (nhịp ngắt câu bát biến hóa như một ma trận), cái lãng mạn xao xác Chang chang nắng giát trên cao, tưới cây- chiều- tưởng tưới vào xa xôi, cái nhắn nhủ cảm thương Hồng nhan dưa muối tương cà, ai quên phận ấy chưa là hồng nhan, cái xót xa, tự kỷ, nhưng cũng đầy bản lĩnh Thân lươn thân chữ là ta, ngón tay út cũng đầy ba đốt hồng, cái thấm tháp trước người em liệt sĩ Em nằm lại Tây Ninh đất dầy, thời gian như đọng quanh khung ảnh,...

Trong mắt tôi, bên cạnh phần chỉn chu mực thước như thỏi mực nho phải mài rất lâu mới “dẻo nước”, thì Đỗ Quý Bông dường như cũng có lúc oái oăm lắm, một thứ oái oăm như cây tre cây xoan vùi lâu dưới bùn, càng quyến càng bện. Nếu tôi không nhấn kỹ vào nết oái oăm của anh thì anh vẫn... đáng yêu, nhưng tính từ này bấy giờ chỉ là trời cho, chỉ là nhặt được.

Cái oái oăm đầu tiên của Đỗ Quý Bông trước hết phải kể đến sự lo toan, lo toan cả trong những trường hợp yên bình tưởng như ru ngủ. Đấy, như trong bài Sự thật đã nói ở trên, diễn tả tâm trạng khi đi cạnh người yêu, anh viết:

Đi bên em

Đại lộ tít tắp mà quanh quẩn

Sao vậy nhỉ? Phải chăng Tình yêu không phải là tất cả, không đủ dẫn dắt những kiếp người cô đơn nhưng đầy dự cảm như anh, dẫu có là tình yêu đích thực? Chưa vội quy nạp, ta hãy đọc tiếp sang bài khác:

Bạn đã yêu đến hết mình

Thăng hoa huyền thoại kết tinh đá vàng

Hương hoa người tới người sang

Say tượng đá đến đa mang rêu mờ

Tôi thì tôi nghĩ vẩn vơ

Cầu cho Trống Mái bất ngờ sinh con

(Với hòn Trống Mái)

Có lẽ nhà thơ đùa? Vâng, tôi cũng nghi. Nếu thực sự yêu nhau đến độ thì sinh nở là đương nhiên chứ việc gì phải mong? Vả lại cứ để Trống Mái say nhau cho hết kiếp, cần gì vướng bận con cái, thì đã làm sao? Nhưng trong nắng có mưa, trong nước đọng lửa, tận cùng khắc biến, ở chỗ này có dấu ấn của sự “mặn hóa”, đến độ “thực bất chi kỳ vị”.

Nhà thơ Trúc Thông có lần hạ bút khen hai chữ trùng tu trong bài Thu sang của Đỗ Quý Bông là “thần hứng”, “độc nhất vô nhị”:

Thế là trời đã vào thu

Và anh lại được trùng tu lá vàng

Quả thực hai chữ “trùng tu” ở đây hay đến bất ngờ, như lời vị “chánh chủ khảo” khó tính kia buột thốt. Vâng, nếu không có tiếng thở dài Thế là trời đã vào thu biểu hiện sự chấp nhận nhưng vẫn nuối tiếc ở trên, thì cái khái niệm dẫu “hay như thành ngữ” trùng tu lá vàng kia cũng dễ lạc lõng, trở thành lời duy mỹ đến lẩm cẩm. Vậy thì phải chăng mọi con đường của nghệ thuật đều không thể chối bỏ, thoát khỏi cái gốc của đời sống?

Nói về thơ Đỗ Quý Bông mà toàn khen thì... kể cũng “vô can”, sẽ dễ là đa mang, là bất đáo. Thực ra thơ anh còn nhiều bài dở, câu dở, hay nói đúng hơn là “hay chưa đều”. Lắm lúc cần quyết liệt đi cho đến trọn đạo thì anh lại dừng bước, ví như chàng trai đã rình rập cô gái bấy lâu mà vẫn về tay trắng, chỉ than:

Thế rồi... em lấy chồng xa

Bụi mưa ngọn muống hồng hoa xuân đào

Có gì như hơi an phận, tự ru ngủ, tự thỏa, dễ khiến cuộc sống bé nhỏ đi nhiều ít.

Nhưng thôi, đó mới thực là Đỗ Quý Bông, là chàng thi sĩ không muốn tranh tâm, chẳng cố ý định vị mình trong cõi to tát, như người say không muốn dấn vào cõi chìm thuyền.

Vâng, Đỗ Quý Bông không uống được nhiều, nhưng cũng thích lơ mơ, anh gọi là bung biêng. Lúc say anh ngừng nói về thế sự, chỉ dần dần quy lại chuyện mình. Anh bảo số khổ, vợ con giúp dập cho nhiều nhưng ngặt nỗi tài hèn sức mọn, làm gì cũng chậm, suốt đời đến muộn. Rồi anh buông đũa dốc chén. Mỗi ngụm đắng khuôn mặt anh lại chùn ngắn, hai bên khóe miệng nhệch ra, trễ xuống, trông vừa buồn cười vừa tội nghiệp. Bạn bè động viên bảo làm chén nữa cho quên thì anh bảo thôi, say sưa nào có ra gì. Thỉnh thoảng gặp anh nghiêng nghiêng trên hè phố, ai cũng hiểu anh vừa tự phê tự chịu.

Muống bè cũ đến không lời

Dầm tương dầm cả một trời nổi nênh



(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Đọc Cô gái đầm sen Tập truyện ngắn của Nguyễn Phan Hách NXB Hội Nhà văn-2004

Lại Mai Hương

Tập truyện ngắn dày dặn với hơn hai mươi truyện, viết đều tay, nội dung phong phú, hấp dẫn.
Mỗi truyện là một "lát cắt" của cuộc sống. Những số phận, những mảnh đời, những tính cách, những nhân vật được tô đậm, điển hình hóa. Hình như ta đã gặp ở đâu đó trong đời thường những ông Thực luôn nhìn đời bằng con mắt chán nản hằn học, chỉ đến khi nghĩ mình sắp chết, ông mới nhận thấy cuộc đời thật đẹp. Những cô Mài vì cuộc sống ở nông thôn quá chật vật phải lên thành phố bưng thúng khoai bán dạo, phục vụ hàng ăn. Những cô thôn nữ xinh đẹp bán hoa sen trên phố rồi vô tình trở thành gái nhà hàng trong quán bia ôm. Ta cũng gặp đâu đó ở làng quê, những dòng họ muốn táng mộ tổ tiên vào nơi có hàm rồng để con cháu làm ăn phát đạt. Những cô gái thích cuộc sống trăng gió để hưởng cuộc sống vương giả, rồi khi nhị rữa, hoa tàn phải cắt tóc đi tu. Rồi những anh nhà báo oai phong thời bao cấp bị thất thế khi chuyển sang thời kỳ đổi mới... Không biết họ đã từ đời thật bước vào trang sách hay họ từ trang sách bước ra.

Sự thay đổi từ thời bao cấp sang thời mở cửa được phản ánh khá rõ nét trong tập truyện. Trong cơ chế mới, cuộc sống của mọi người đều thay đổi. Nhiều người "phất" lên nhanh chóng nhưng nhiều người tụt hậu, lạc lõng trong nhịp sống hối hả của thời đổi mới. Nội dung này được đề cập rất rõ trong Bạn xưa. Không phải vô cớ mà tác giả dựng lên cuộc gặp gỡ giữa những người bạn cũ. Cuộc gặp gỡ đã làm nổi bật sự khác biệt hoàn toàn trong cuộc sống của họ. Từ hai hoàn cảnh giống hệt nhau thời trước, bây giờ hai cuộc sống một trời một vực. Một bên là chiếc xe máy cũ cà khổ, bên kia xe Vônvô. Một bên vẫn mái nhà cấp bốn, bên kia một vila sang trọng. "Sự chênh lệch sao quá nhanh? Một bộ đèn chùm ở đây trị giá ngang gia sản nhà Thanh. Và gian nhà tập thể cấp bốn của cô ở tỉnh lẻ có bằng cái bậc thềm lát toàn đá trắng kia không?". Trong Tình già, hai cha con ông Nhã Phong, hai thế hệ sống trong hai chế độ nên quan điểm của họ trái ngược hoàn toàn. Nhà văn đã dũng cảm nhìn vào thực tế xã hội, dám đề cập đến những vấn đề tế nhị, gây nhiều tranh cãi. Người đọc mong nhà văn có thêm nhiều truyện đề cập đến những vấn đề nóng của xã hội chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường với đầy những mâu thuẫn còn tồn tại như Tình già. Còn trong truyện Cái nạn văn chương, anh nhà báo Vũ Sinh oai phong một thời, đến khi xóa bỏ bao cấp, anh như người bị bỏ rơi. Hoa sen trắng cũng đề cập đến những thay đổi trong nền kinh tế thị trường. Sự trả giá của nhân vật rất khách quan, không tốt, không xấu. Nhà văn không phê phán, không bênh vực. Đó là cái mới của văn hiện đại.

Nhiều truyện ngắn phản ánh sự tác động của đồng tiền đối với con người. Không ít người vì đồng tiền mà đánh mất mình, làm những việc vô nhân đạo như ông Erit Phương, chủ cửa hàng "Rừng nguyên thủy". Ông ta dùng sơn Japan biến cò thành quạ, biến mèo thành hổ mini Nam Mỹ, biến chó thành gấu Bắc cực, ngựa trắng thành ngựa vằn... Tham tiền, ông ta bắt cóc cả đứa trẻ câm, dán lông lá thành con khỉ giả nhân để bán cho khách (Con khỉ). Thủy Tiên (Lâu đài hoa thủy tiên) sẵn sàng rời bỏ người yêu để lấy một người giàu có. Cũng vì đồng tiền, bà Đông Mai (Bất hiếu) sẵn sàng "trả giá đau đớn về tình cảm đạo đức" để có một khoản tiền lớn đầu tư cho con trai. Bà quan niệm: "vật chất là cơ sở, trên cơ sở bội thu về vật chất, ta sẽ hình thành tình cảm đạo đức thích hợp". Truyện Bất hiếu còn đề cập đến một số người trong xã hội lợi dụng chức quyền để mưu lợi cá nhân.

Một số truyện ngắn đưa ta về với những phong tục, không gian thời xưa. Thời của những cụ án, cô Chiêu với tục lệ cô gái nào đi lấy chồng phải lát một đoạn đường gạch cho làng (Đường làng). Đời này qua đời khác, năm này qua năm khác, những đoạn đường lát gạch cứ dài thêm mãi. Thời của những cậu quan Phán, những cô ả đào hát ca trù, những người vợ tần tảo nuôi chồng học thi, hy vọng một ngày "Ngựa anh đi trước võng nàng theo sau" (Người hát ca trù).

Tập truyện còn hấp dẫn bởi tính nhân văn của nó. Cách cư xử của bà Đoan (Ngã ba chông chênh) rất nhân hậu: biết cô con dâu lừa dối mình nhưng hiểu hoàn cảnh của cô, bà rất thông cảm, không trách gì, còn cho cả vòng, dây chuyền vàng để làm vốn nuôi con. Cô gái vùng địch hậu (Dòng sữa) cứu sống người cán bộ Việt Minh bị thương cô gặp trong nương dâu bằng hai bầu sữa của mình. Con thiên nga bị thương (Chim thiên nga bay đi) được một chàng trai cứu sống. Mùa đông sau, trên đường tránh rét, nó dừng lại thăm ân nhân của mình. Chàng trai đã thốt lên: "Trời ơi, hóa ra vị mặn của nghĩa tình làm cho người ta đâu có thể dễ quên nhau". Đọc Cô gái đầm sen, ta nhận được nhiều thông điệp từ mỗi truyện ngắn: Phải quý trọng cuộc sống, cuộc sống thật đẹp, thật hoàn hảo (Ông gàn); vì tiền bạc mà phụ tình, sẽ phải trả giá (Lâu đài hoa thủy tiên); Làm điều ác sẽ bị trừng phạt (Con khỉ)...

* *

Không chỉ phong phú về nội dung, tập truyện kết hợp nhiều cách kết cấu, cách kể chuyện đa dạng nên có sức cuốn hút. Đa số truyện ngắn sử dụng cách kết cấu cổ điển, theo trình tự thời gian. Nhiều truyện kết cấu theo kiểu quá khứ và hiện tại đan xen, tạo thành một vòng thời gian khép kín (Tình già, Bất hiếu, Bạn xưa). Có truyện ngắn lại chỉ là những dòng tản mạn được viết từ ký ức, từ kỷ niệm ngày xưa (Tản mạn chuyện làng). Một vài truyện không có cốt truyện, để lại ấn tượng nhẹ nhàng: Cô gái đầm sen, Chim thiên nga bay đi, Dòng sông xưa, Bản quyền hoa hồng.

Một số truyện ngắn sử dụng cách kết thúc mở theo kiểu hiện đại. Truyện khép lại nhưng mở cho người đọc tự suy ngẫm, tự phán đoán kết thúc của truyện. Liệu Mài có quay lại được với chồng cũ hay cả hai nơi đều đóng cửa với cô? (Ngã ba chông chênh). Thanh có đi làm ở công ty Hiệp hay cô quay lại nghề cũ bởi những khó khăn Hiệp đưa ra (Bạn xưa). Mẹ con bà Đông Mai có thực hiện kế hoạch của mình, vì đồng tiền mà bất chấp tất cả (Bất hiếu). Sau trận ốm, ông Nhã Phong có từ bỏ tất cả để sang Pari sum họp cùng người yêu cũ (Tình già)... Cái hay là tác giả đề cập vấn đề một cách khách quan, để người đọc tự nói phần kết. Tác giả đưa vấn đề làm thế nào để sống thật với chính mình.

Xây dựng nhân vật là một trong những thành công của tập truyện. Một "ông gàn" cả cuộc đời bất mãn, chửi đời, chửi người, luôn sống trong sự bực bội, hằn học được người đọc nhớ ở cách sống, cách lập luận, suy nghĩ, những câu thơ vần vè Nếu mà tôi chẳng ra đời, thế là hết chuyện lôi thôi bực mình (Ông gàn). Một cô gái bị đặt vào hoàn cảnh đặc biệt: Dùng tiền của nhà chồng trên thành phố để nuôi chồng con ở quê. Tâm trạng của cô không được tả nhiều nhưng những dằn vặt, đau khổ giằng xé trong cô lại hiện lên rất rõ (Ngã ba chông chênh). Giọng cười "khớ khớ khớ" và cách nói chuyện thẳng thắn, cách sắp đặt công việc cụ thể, dứt khoát lại khiến ta không quên được nhân vật Hiệp, một cán bộ trẻ thành đạt trong kinh tế thị trường (Bạn xưa). Trong truyện ngắn này, ta thấy thấp thoáng người đại diện cho một nền kinh tế thị trường, một người chủ thực sự của nền kinh tế mới: thực tế, hành động cụ thể, biết người biết việc, dám chịu trách nhiệm. Đây chính là nguồn động lực của nền kinh tế đổi mới. Họ là hy vọng, là lực lượng của xã hội tương lai.

Các nhân vật trong tập truyện được miêu tả sinh động, rất thật, rất "sống", kể cả nhân vật ảo như cô gái đầm sen. Cô gái vừa ảo vừa thật, vừa là người lại vừa là không phải là người. Cô xuất hiện trên đầm sen, trong một buổi sáng mù mịt sương sớm, dưới ánh trăng mờ. Cô có vẻ đẹp mê hồn, áo quần kỳ lạ, tính cách cũng kỳ lạ, hơi thở thơm mùi hoa sen. Hư hư thực thực, cô khiến chàng trai vô tình gặp cô một lần rồi suốt đời mơ tưởng. Lại có truyện nhân vật không tồn tại riêng lẻ, tách rời mà tồn tại trong cả tập thể. Đó là những cô thôn nữ xinh đẹp ở vùng đồi Trại Dẻ (Dòng sông xưa). Người đọc không nhớ riêng cô nào mà nhớ đến một nhóm cô gái hồn nhiên ngây thơ đi hái nấm hái măng trong rừng.

Thời gian là yếu tố được chú ý nhiều trong tập truyện. Thời gian qua đi để lại những kỷ niệm đẹp, những nuối tiếc ngọt ngào. Thời gian làm thay đổi cảnh vật, con người như muôn đời vẫn thế. Vì vậy mà nhân vật thường bị hẫng khi quay về tìm lại ký ức ngày xưa (Dòng sông xưa). Nhưng có những điều thời gian không làm thay đổi được như tình yêu chẳng hạn, trái lại, thời gian làm tình yêu càng mặn mà hơn (Tình già).

Bằng lối dẫn truyện tự nhiên, giọng văn trong sáng, phong cách viết riêng, nhà văn Nguyễn Phan Hách đã góp cho làng văn học Việt Nam một tập sách hay. Cô gái đầm sen là một đóng góp đáng quý vào tiếng nói tích cực trong công cuộc đổi mới của xã hội. Một tập truyện có cái duyên riêng của nó khi đọc./.



L . M . H

(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Đọc “Nhân tài và Ngọn lửa” của Vũ Oanh

Trung Trung Đỉnh

Đó là hai thiên truyện vừa được kể bằng trái tim từng trải của một bác sĩ ngoại khoa có nhiều năm hành nghề trực tiếp trong chiến tranh cũng như thời bình. Không từng trải trong nghề y và cả trong cuộc đời, không thể kể lạnh lùng và chi tiết đến như vậy, về mình và về những đồng nghiệp của mình với thứ ánh sáng le lói của lương tâm được chiếu rọi vào sâu hun hút của cái hang ký ức đầy đau thương và bi thiết.

Đọc xong Nhân tài và Ngọn lửa tôi cứ bị ám ảnh mãi không phải chỉ vì những cái chết oan ức của bao nhiêu con người lúc bị thương, bị bệnh, lại không may rơi vào tay những nhà chuyên môn lấy ý chí tiến thân nhằm đạt được danh vọng là trên hết, trên cả y đức, trên cả tình người, trên cả nỗi sợ, trên cả pháp luật... Mà cái ám ảnh nặng nề hơn nữa trong tôi, chính là sự thực dẫn đến những cái chết oan ức đó bắt nguồn từ nguyên nhân nào? Gốc của nó có phải vì tính đố kị lòng ghen ghét có sẵn trong những trái tim đen chỉ thấy cái danh vọng là trên hết? Hay là chính cái môi trường khắc nghiệt của chiến tranh, của cơ chế đã tạo nên mảnh đất tốt tươi màu mỡ cho lòng ghen ghét đố kị hèn hạ của con người phát triển. Có lẽ cả hai! Hai cái ấy làm nên giáo sư tiến sĩ Hiệu ở truyện Nhân tài. Y có thực sự làm một nhà chuyên môn chân chính được giờ nào chưa? Đọc truyện ta sẽ thấy! Đây có lẽ là hai câu chuyện rùng rợn, khủng khiếp, đáng sợ nhất của ngành y học Việt Nam hiện đại mà tôi được đọc. Tội lỗi của những kẻ làm nên những tội ác tày trời kia không những không được đưa ra ánh sáng phán xét mà hơn thế, chúng đang ở thế thượng phong! Kết cục là hai kẻ tử tế ở hai câu chuyện đã tự mình kết thúc cuộc đời mình bằng hai cách tự vẫn rất có mùi vị màu sắc của chuyên môn! Cái ông “TÔI” vừa là nạn nhân vừa là người kể chuyện, mà chỉ kể lại được câu chuyện này khi đã trở thành cái xác chết do một căn bệnh không kết luận được là bệnh gì! Và nếu không có hai từ đột tử thì người ta sẽ gọi cái chết của ông là cái chết nào? Nhà văn bác sĩ Vũ Oanh bảo với tôi, mình cũng chịu, truyện viết đến đấy mình bị cuốn vào, u mê, không biết thế nào mà kết luận được! Đừng gán cho mình có ý định chủ đề gì. Mình không viết theo ý định, chủ đề. Mình viết như câu chuyện mình cần kể, bình thường thế thôi. Có người bảo mình, sao cả hai câu chuyện đều có những chuyện tình tay ba, lại gặp khá nhiều cảnh huống có thể “cho” các nhân vật lên Thiên Đàng tình ái trước khi xuống Địa Ngục nhân thế? Mình bảo, chuyện nó thế, mình không có ý định viết về tình yêu, tình dục, những trang tình cảm ít ỏi trong cả hai câu chuyện không phải do mình sáng tạo ra mà cuộc sống tự nhiên của các nhân vật lôi kéo mình. Mình không vì lý do gì phải tiết chế chuyện này, buông thả chuyện kia. Không làm sao dẫn dụ được nhân vật mà chính mình bị các nhân vật dẫn dụ. Viết xong mình thấy rỗng hết cả người. Có những nhân vật như ông Miều, là người thật, việc thật, tên thật, ông là người chuyên mổ xác chết, mới đầu khi viết truyện mình chả nghĩ gì tới ông ấy, thế mà đến khi ông ấy xuất hiện, mình không làm sao cưỡng nổi, chỉ riêng việc đổi tên ông Miều thành là Mều hay Mìu gì đó, vẫn tự mình bảo mình, đây là tiểu thuyết, là truyện văn học, văn học phải hư cấu, cái tên ông ta không nên để nguyên mà buộc phải thay, phải “hư cấu”. ấy vậy mà rốt cuộc mình chịu thua, không thể thay tên khác được, ông ạ.

- Nhưng đó là nhân vật phụ, theo tôi là hay nhất đấy!

- Cám ơn lời khen của bạn.

- Thế còn ở Ngọn lửa, một câu chuyện tình của ông bác sĩ ngoại khoa Hoành và cô bác sĩ trưởng khoa gây mê hồi sức Tính, một thứ tình yêu “bất chính” theo như quan niệm đạo đức đương thời, vì hai người đều đã có chồng có vợ có con, mặc dù trong quá trình quan hệ “lén lút” ấy họ gần như không có ái ân, không có gì cả, ngoài tình yêu. Một thứ tình yêu vật vã, đau đớn, vô cùng vô tận khó khăn khi nó cháy lên, ngọn lửa tình yêu đã thiêu cả sự sống và sự nghiệp của họ. Vậy mà trong suốt quá trình đọc cũng như sau khi đã gấp sách lại, tôi không hề thấy họ bất chính một tí nào. Thậm chí còn thấy mối tình của họ cao đẹp, trong sáng nữa! Kể cả chi tiết, vì tình yêu mà bác sĩ Tính đã tiêm vào cơ thể người yêu (của mình) đang bị cấp cứu bởi tháo ruột sau bữa tiệc có cái món thịt chó ôi thứ thuốc dãn cơ để rồi chính cô ấy lại có cơ hội để được “cứu mạng” để “giải thuốc” cho bệnh nhân - bác sĩ Hoành, bằng thủ thuật chuyên môn có thể nói là có một không hai kỳ quặc ấy. Tính đã bắc cầu cho tình yêu đơn phương thành công một cách phiêu lưu và mê muội! Đúng là phiêu lưu và mê muội! Thật là ghê gớm thay cho cái con người vốn rất chân chất hiền lành, cuộc đời luôn bị không may vây hãm, nên mới cứ tẩm ngẩm tầm ngầm yêu. Tình yêu đến khi nó đã chín muồi thì tự thân nó vượt qua mọi ức chế bằng mọi giá!

- Nếu kể ra như thế thì kinh thật, và nghe không ổn. Nhưng diễn biến trong truyện ông có thấy nó trái đạo lý? - Bác sĩ Oanh hỏi tôi,

- Tình ngay lý gian, đúng là thấy cũng bình thường! Nhưng chỉ đến khi cô Thoa cô ấy xem trộm, xé trộm trang nhật ký ghi lại chuyện ấy của bác sĩ Tính rồi đem tố cáo với tổ chức là Tính đầu độc bác sĩ Hoành thì nghe mới ghê rợn.

- Tôi cũng không làm chủ được ngòi bút khi chuyện này vỡ lở - bác sĩ Oanh nói. Nhưng tôi tuân thủ theo sự mách bảo của hiện thực. Lương tâm nghề nghiệp không cho phép tôi viết sai sự thật.

Thuật ra đây mấy dòng đối thoại của tôi với bác sĩ Vũ Oanh và tự cho phép mình tiến sâu hơn vào nội dung của hai thiên truyện, tôi thấy cả hai đều ghi dấu những bước mở đầu tươi rói của các nhà y học tương lai, họ hăm hở lao vào đời sống với những ước vọng cống hiến cho xã hội, cho đất nước và rồi họ dần dần bị cơ chế eo hẹp, đời sống nghèo túng lôi kéo, họ không tránh khỏi bị tha hoá cho đến khi kẻ ác lộng hành không còn biết khống chế phản xạ ra sao. Bi kịch của Hoành và Tính, của cả cái anh chàng TÔI “to đùng bát điếu” ở truyện Nhân tài kể cũng đáng trách lắm thay! Chết không phải là giải pháp tốt nhất cho họ. Nhưng lối sống và tính cách của họ thì tất sẽ dẫn đến cái chết bi thảm thế. Không gượng. Nhưng buồn! Cái thành công đáng kể nhất trong hai thiên truyện vừa bi thảm được kể với giọng kể điềm tĩnh, khách quan nhưng lại rất sâu nặng nghĩa tình, không cường điệu khi truyện sa vào những thảm cảnh, hơn thế, tác giả có đủ từng trải và bản lĩnh tiết chế được nguồn cảm xúc mạnh, tạo nên sức sống tự nhiên của các nhân vật và đó chính là sự sống của tác phẩm.

Truyện vừa có lẽ là thế mạnh của Vũ Oanh. Ông đã từng thử bút qua tập truyện ngắn khá dày dặn. Nhưng đọc truyện ngắn của ông lúc nào tôi cũng cảm thấy nó cứ chơi vơi, thiêu thiếu một cái gì đó. Đến nay đọc hai thiên truyện vừa này, tôi nhận ra ngay, đó là kết cấu truyện. ở truyện ngắn, càng nén và càng gây được bất ngờ (nhất là ở cái kết truyện) càng gây hiệu quả. Một tứ truyện, một chi tiết độc đáo cũng đủ cho thấy ngòi bút tài hoa dựng nên một thiên truyện gây sốc người đọc. Nhưng truyện vừa thì khác. Truyện vừa cũng rất cần đến sức dồn nén, độc đáo, nhưng kết cấu của truyện vừa có khoảng mờ của cảm giác, có độ chếch nghiêng của tình huống và độ căng cứng của xúc cảm. Đọc truyện vừa Vĩnh biệt Gônxarư và các truyện khác của Aimatốp chúng ta thấy rất rõ thủ pháp nghệ thuật chếch nghiêng căng cứng và tinh tế của ngòi bút bậc thầy này.

Nhân tài và Ngọn lửa chính là bước mở đầu khá đẹp của ngòi bút Vũ Oanh về thể loại truyện vừa nhiều ưu thế. Ngành y và công việc của một bác sĩ ngoại khoa ở bệnh viện và ở cả trong cuộc đời mà ông lại là người đã có nhiều năm trong nghề; lại cũng đã có nhiều từng trải trong đời; cùng với khả năng sáng tạo nghệ thuật giàu bản lĩnh, giàu tình người sẽ tạo nên phong cách và giọng điệu, tạo nên sức hấp dẫn của ngòi bút Vũ Oanh.



(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Đọc “Người con gái Hà Nội” (Tiểu thuyết của Bích Thuận, Nxb Hội Nhà văn - 2004)

Hoàng Cát

Tôi hơi bị bất ngờ, khi đọc cuốn Người con gái Hà Nội của nhà văn Bích Thuận, bởi sự cuốn hút của nó từ trang mở đầu cho đến trang cuối. Tôi đã đọc một mạch hơn ba trăm trang sách, với sự buồn vui, hồi hộp liên tục và dồn dập cùng các nhân vật và sự kiện mà cuốn sách đề cập.

Năm nay, nữ nhà văn Bích Thuận đã vượt ngưỡng “cổ lai hi” nhiều rồi. Vậy mà, văn lực và tâm huyết của bà với đời, với nghề cầm bút xem ra vẫn còn dồi dào và say mê lắm! Chính nhờ sự dồi dào và say mê ấy mà tập sách Người con gái Hà Nội của bà mới có một sức lôi cuốn người đọc đến thế.

Thật ra, đây là cuốn hồi kí rất thú vị của những người con gái Hà Nội đã từng là người trong cuộc, quãng thời gian trước cách mạng cho đến khi Hà Nội tổng khởi nghĩa 1945, giành chính quyền về tay nhân dân. Đó là hồi kí của hai chị em Ngân và Khánh, của lớp lớp bạn bè cùng trang lứa. Họ đã được sống những năm tháng tuyệt đẹp của tuổi học đường trong các gia đình khá giả của Hà thành xưa; họ cũng đã biết sống xứng đáng, sống đẹp, sống đầy ước mơ và hoài bão lớn lao giữa tuổi thanh xuân - khi Tổ quốc mình bị bọn thực dân và phát xít ngang nhiên chà đạp. Không những biết sống, mà họ còn biết hành động và hi sinh cả tuổi xanh, cả tính mạng của mình cho cuộc mưu cầu giải phóng quê hương, đất nước khỏi những xiềng gông nô lệ ấy.

Cuốn sách của nhà văn Bích Thuận không có gì li kì hay tân thời theo “mốt” văn chương thị trường thời hiện đại, nhưng nó đã diễn tả lại hết sức chân thật và sống động một giai đoạn lịch sử có một không hai của dân tộc Việt Nam chúng ta - ấy là không khí êm đềm và đời sống muôn mặt phẳng lặng, mộng mơ của Hà Nội những năm trước 1945; Hà Nội sục sôi trong những ngày tiền khởi nghĩa, những ngày giành chính quyền về tay Cách mạng...

Với một ngòi bút lão luyện tay nghề, tuy rằng không có được những nhân vật thật sắc nét, thật góc cạnh, đặng có thể ghi một dấu ấn mãi mãi vào tâm hồn người đọc, nhưng nhà văn Bích Thuận cũng đã tái hiện được lên nhiều trang sách của mình, một cách sinh động vô cùng, rất nhiều những cô gái Hà Nội kiều diễm, con nhà nề nếp và danh giá xưa. Họ ăn mặc, họ nói năng, họ giao tiếp, họ học hành, họ đối nhân xử thế, họ suy nghĩ, họ hành động... Tất cả đều hết sức đặc thù của những cô gái Hà Nội yêu kiều và nết na. Nào những Ngân, những Khánh, những Trang, những Hà Đoan, những Ngọc Thoa v.v... Trong đó, có người đã phải chết một cách tức tưởi trước sự truy bức tàn bạo của bọn hiến binh Nhật, giữa lúc tuổi đời mới vào độ phơi phới như Ngọc Thoa; có người đã sớm phải nếm đòn tra tấn hết sức man rợ của kẻ thù phát xít như Hà Đoan. Họ vốn đều là những cô gái thuộc hàng tiểu thư chân yếu tay mềm, được sinh ra và lớn lên trong nhung lụa của những gia đình giàu sáng phú quí. Vậy mà, trước những điều thiêng liêng thuộc về danh dự của Tổ quốc, phút chốc họ - những người con gái Hà Nội xưa - đều trở nên những cô gái mang trọn dòng máu truyền thống yêu nước nồng nàn của Bà Trưng, Bà Triệu.

Dẫu không có một cốt truyện thật chặt chẽ, không có những xung đột thật ghê gớm trong các tính cách nhân vật, như thường tình của thể loại tiểu thuyết xưa nay ta vẫn hằng quen đọc; dẫu chỉ là những trang văn có tính chất tự sự, tự truyện, chứa nhiều chất liệu và tư liệu hồi kí - nhưng đây đó, bàng bạc trên hơn ba trăm trang sách của cuốn Người con gái Hà Nội, chúng ta vẫn được hưởng thụ một tác phẩm văn học khá giàu chất văn và chất đời. Chắc chắn có một tầng lớp người đọc không nhỏ trên khắp Tổ quốc chúng ta sẽ cùng vui, cùng buồn, cùng ước mơ và hi vọng với rất nhiều những nhân vật trong tác phẩm Người con gái Hà Nội của nữ nhà văn cao niên Bích Thuận. Bởi cuốn sách của bà đã dựng lại được một cách bình dị, sinh động và chân chất một giai đoạn đặc biệt của Hà Nội xưa, trước và trong những ngày tháng Thủ đô yêu dấu của chúng ta cùng nhau hừng hực đứng lên, tự giải phóng mình khỏi xiềng gông của quân phát xít và thực dân xâm lược.

Bạn đọc và sự ngưỡng mộ của họ đối với tác phẩm - đó sẽ là phần thưởng thiêng liêng và cao quí nhất dành cho nhà văn.

Hà Nội, mùa hè 2004

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Sự sâu sắc trong Luật đời (Truyện ngắn và vừa của Nguyễn Bắc Sơn, Nxb Thanh niên, 2003)

Lê Hùng

Trước khi đọc bản thảo này, tôi hầu như chưa đọc Nguyễn Bắc Sơn, tuy có biết anh và được anh tặng một tập ký tuỳ bút nhan đề Đá dậy thì…. Nhưng thể tài ký tôi ít quan tâm, tuy anh đã có một số giải thưởng cao về báo chí.

Tuần trước, anh bước vào phòng tôi với nụ cười lặng lẽ, và lặng lẽ giao cho tôi bản thảo: “Ông đọc giúp tôi nhé. Nếu xong sớm được thì tốt quá. Mình đã có chỗ bao tiêu rồi”. Tôi được biết anh sắp nghỉ hưu, sau hơn 40 năm làm việc (mười năm cuối ở Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội), và lập tức “xác định” cho mình nhiệm vụ phải giúp bạn - để bạn đỡ chống chếnh buổi đầu về hưu. Tôi đọc truyện vừa Người hai quê, lập tức bị hút vào ngay, lại đọc tiếp liền 10 truyện ngắn, không một chút ngắc ngứ, không có cảm giác “lỗ đỗ” - cảm giác thường có khi đọc nhiều tập truyện ngắn khác hiện nay, do chất lượng không đều (truyện được, truyện không). Tôi đọc liền một mạch trong hai ngày với cảm hứng không ngờ. Hoá ra, Nguyễn Bắc Sơn không như mình nghĩ. Anh viết thật cuốn hút. Cái cuốn hút không phải do tài hoa (mặc dù câu chữ của anh chỉn chu, ngôn từ chắt lọc) mà chính là do sự trải đời, sự sâu sắc trong những vấn đề mà anh đề cập. Hoá ra anh đã có 3 tập truyện ngắn, 4 tập bút ký ở Nxb Hội Nhà văn, 2 tập tiểu luận và vừa được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.

Sau chiến tranh (1975) qua những giờ phút nồng say men chiến thắng, là lúc chúng ta phải đối mặt với vô vàn khó khăn to lớn về mọi mặt, nhất là về kinh tế. Những khó khăn nảy sinh từ cơ chế quan liêu, bao cấp. May thay công cuộc đổi mới đã đến, dù không sớm nhưng đã làm biến đổi hẳn bức tranh kinh tế, thổi một luồng sinh khí mới vào toàn bộ hoạt động kinh tế, tạo nên một bước ngoặt có tính “thoát hiểm”.

Truyện vừa Người hai quê và các truyện ngắn khác của Nguyễn Bắc Sơn ra đời trong bối cảnh đổi mới ấy, trong đó anh chú tâm vào những nhân tố mới, con người mới của thời kỳ kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.

Anh tỏ ra am hiểu hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân. Anh mô tả sự hình thành và hoạt động của nó trong một bối cảnh cũng chưa mấy thuận lợi, vì thiếu những chỗ dựa chắc chắn về khung pháp lý (mà gần đây chúng ta mới có luật Kinh doanh, nhưng vẫn chưa hoàn chỉnh), về điều kiện làm việc và nhất là sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế (đã có nghị quyết, nhưng vẫn chưa thâm nhập được nhiều vào thực tiễn). Giám đốc một công ty có biệt danh “Người hai quê” trong hoàn cảnh này, với ý chí làm giàu và làm lợi cho đất nước đã vượt lên mọi hoàn cảnh, mọi thách đố để có thể làm một dự án “đào núi, lấp biển” và đã thành công. Truyện vừa Người hai quê mô tả những khó khăn mà Cường đã phải vượt qua, những tàn tích của một thời quan liêu để lại: bệnh giấy tờ, bệnh quan liêu, thói chuyên quyền hống hách, đặc biệt trong quan hệ làm việc là thói trục lợi của những quan chức trong một bộ máy hành chính nhiều tầng, nhiều lớp. Để xin được giấy phép cho một dự án, Cường phải cầu thân với những “sếp” có thẩm quyền từ dưới lên trên và phong bì của anh đã phải rải trắng trên đường mình đi. Một trong những thủ thuật của anh để tạo lập mối quan hệ khi bước đầu làm quen là nhận đồng hương. Vì thế, lúc thì anh nhận quê này, lúc khác lại là quê khác. “Mánh” ấy của Cường cộng với những buổi chiêu đãi, du ngoạn và nhất là “sự trả công giúp đỡ sòng phẳng” đã khiến anh có được những giấy phép cho dự án của mình.

Mô tả một điển hình của cơ chế thị trường, Nguyễn Bắc Sơn với những trang viết hóm hỉnh, sinh động, đã gián tiếp phê phán thói quan liêu, cửa quyền vẫn còn đầy rẫy trong các cơ quan công quyền của nền kinh tế. Chính nó vẫn đang là lực cản của sự nghiệp đổi mới mà Đảng đã khởi xướng. Mặt khác, anh cũng ca ngợi lớp trẻ đầy ý chí, biết làm chủ bản thân, biết tìm cách vượt qua mọi gian khó, quyết thực hiện được mục đích tối hậu là làm giàu cho bản thân và tất nhiên cho cả đất nước. Họ là hình ảnh tương lai của thanh niên chúng ta: có tri thức, quyết tâm, và dũng cảm. Họ chính là hình ảnh Người lao động mới.

Các truyện ngắn của Nguyễn Bắc Sơn cũng rất hấp dẫn. Thiên truyện nào cũng đề cập được đến cái cốt lõi của văn học - những số phận của con người. Một người bị tù vì sai lầm của sếp, một giáo viên dạy giỏi chỉ vì dám bảo vệ một nhà thơ mà số phận chìm nổi; một cô gái vì ham công danh mà đánh mất tình yêu… Đề tài không mới, nhưng cách thể hiện vẫn rất hấp dẫn. Hấp dẫn bởi chi tiết, hấp dẫn bởi cách lý giải, hấp dẫn bởi ngôn từ nhiều tầng nghĩa, hấp dẫn bởi suy tư sâu sắc của một người vừa trải đời vừa nhân hậu. Có nhiều truyện, thật ra chả có chuyện gì, mà hoá sâu sắc, ví như các chuyện Chọn chỗ, Bộ comlê xẻ bên, Đấu khẩu. Chỉ một việc chọn chỗ ngồi lúc đi họp thôi mà hiện ra đủ cả cái khoa trương rỗng tuếch của thói hội họp vô bổ, tâm lý sợ quyền lực đến phát run phát rế hoặc lòng nhân ái giữa con người với nhau khi chia tay về hưu cùng món quà là bộ comlê kỷ niệm.

Về đề tài tình yêu, Nguyễn Bắc Sơn viết khá tinh tế và rất hiểu tâm lý những người đang yêu. ở hầu hết các truyện, anh đều đề cập đến tình yêu. Đó là tình yêu giúp nhau vượt qua khó khăn của cặp vợ chồng Cường - Ngân, nhưng trong khi đang dần tới thành đạt thì suýt đổ vỡ, chỉ vì một phút xao lòng của người vợ, do quá mải mê công việc nên sao nhãng chức phận làm chồng (Người hai quê). Đó cũng là tình yêu khó dung hoà với thói hư vinh (Điều không thể) là tình yêu vượt qua định kiến dân tộc của Kim Thư - Mác Tanh (Mũi dọc dừa). Đây là tập truyện rất có chiều sâu trên các lĩnh vực: xã hội, kinh tế, tâm lý. Là một bức tranh tổng hợp và sinh động về nhân sinh - kinh tế và bối cảnh xã hội hiện nay.

Những suy tư triết lý của anh nói chung là sâu sắc. Tuy nhiên, đôi chỗ triết lý còn hơi khiên cưỡng. Ví dụ anh đồng nhất hai khái niệm thói đời và luật đời trong Luật đời. Văn của anh sinh động, hóm và sâu. Tuy nhiên đôi chỗ có cảm giác tác giả hơi tham chi tiết. Giá mà chắt lọc hơn ở Người hai quê, giá mà tinh tế hơn ở Đấu khẩu với quyền lực. Truyện của anh thật, rất thật. Đó là ưu điểm, nhưng thật quá mà thiếu sự bay bổng,dễ bị lẫn sang truyện ký.

Mặc dù thế, đây vẫn là một tác phẩm hay, không chỉ về phương diện nội dung mà cả về hình thức nghệ thuật.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Biên giới Tây Nam - Tập truyện ngắn nhiều tác giả, Nxb Trẻ 2004

Vũ Trung Hà

Biên giới Tây Nam là cụm từ khá quen thuộc với mỗi người Việt Nam chúng ta vào một thời chưa xa lắm, khoảng trên 20 năm trước đây. Biên giới Tây Nam không chỉ là một vùng đất, một vùng trời, một vùng biển mà nó còn là nơi mà ở đó mỗi ngọn núi, dòng sông, cánh rừng, mảnh ruộng đều trở nên thân thuộc với mỗi người chúng ta. Bởi ở đó có cuộc chiến tranh mới nổ ra sau khi đất nước trải qua ba mươi năm chiến tranh vừa giành lại được hoà bình mới hơn hai năm.

Mười hai năm chiến đấu và bảo vệ biên giới Tây Nam Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia (9-1977 - 9-1989) dường như không để lại gì nhiều trong nền văn học chúng ta. Hàng trăm truyện ngắn, mấy trăm bài thơ được công bố trên báo chí cả nước trong thời gian ấy dường như chưa tạo được một nét gì mới lạ trong đời sống văn học nước nhà. Sự xuất hiện của một số cây bút lớn lên từ gian khó chiến trường trên khắp các mặt trận thuộc địa bàn của ba Quân khu 5, 7 và 9 có lúc, có nơi cũng gây được một chút tò mò, thích thú nơi những người yêu văn học. Rồi sự đổ bộ của các cây bút là nhà văn trong và ngoài quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ lên các chiến trường biên giới Tây Nam trước và sau sự kiện 7-1-1979 (ngày Phnôm Pênh được giải phóng) đã ít nhiều tạo ra được những cảm thông nơi người hậu phương. Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam đã là dĩ vãng nhưng là một dĩ vãng không yên lặng, một dĩ vãng sống động bởi hình ảnh người lính bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế đã dần dần trở thành nhân vật văn học. Nhân kỷ niệm lần thứ 60 ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam. Nxb Trẻ đã cho ra mắt bạn đọc trên cả nước hai tập truyện ngắn Biên giới Tây Nam tập hợp sáng tác của những nhà văn trong và ngoài quân đội viết về anh bộ đội Cụ Hồ ở các mặt trận biên giới Tây Nam.

Người đọc có thể bắt gặp bộ truyện ngắn hai tập này những tên tuổi đã từ lâu trở nên quen thuộc trên văn đàn như: Ma Văn Kháng, Nguyễn Bảo, Trung Trung Đỉnh, Chu Lai, Lê Lựu, Khuất Quang Thuỵ, Nguyễn Thị Như Trang, Dạ Ngân, Trần Thuỳ Mai, Sương Nguyệt Minh… Mỗi người một cách tiếp cận, một cách thể hiện nhưng đều để lại trong lòng bạn đọc những dấu ấn thật đặc biệt. Đó là những trang văn giàu chất tự sự của nhà văn Nguyễn Thị Như Trang trong Năm tháng qua đi. Đó là những căng thẳng, khốc liệt của cuộc chiến trong Ranh giới một vùng của Nguyễn Bảo. Đó là những góc khuất tâm hồn rất đỗi đời thực của những người lính trong Truyện rất khó viết của nhà văn Nguyễn Đông Thức… 16 truyện ngắn được giới thiệu trong mỗi tập sách là bức tranh đa dạng, chân thực và cảm động về người lính Việt Nam tại mặt trận biên giới Tây Nam. Đó còn là những khúc ca bi tráng về người lính của một thời - thời chiến tranh chưa xa.



(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Đọc “Chiến đấu ở Tây Nguyên” nghĩ về “Văn hoá đánh giặc”

Nhà văn Trương Vĩnh Tuấn

Tôi đã có bài thơ tặng ông

Vùng lên từ Đông Bắc

Trấn thủ ải Tây Nguyên

Học cách “Tổ tiên ta đánh giặc”*

ông huyền thoại của cháu con.

Tôi cũng có may mắn là hơn mười năm chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên được làm lính của ông, được thực hiện những quyết tâm chiến lược của ông, và từ những nhiệm vụ thực hiện mưu kế của ông đã cho tôi trưởng thành về cách đánh giặc cũng như cách sống sau này.

Tôi lại có may mắn được ông tin cẩn giao cho việc tổ chức thực hiện cuốn hồi ký của ông mà phải hai mươi năm sau cuốn sách mới được ra mắt bạn đọc.

Ông thường nói với chúng tôi: “Đây không phải là cuốn sách nói về mình, mà chính là nói về dân tộc mình, nói về quân đội mình trong việc dùng mưu kế đánh giặc”.

Vâng phải hiểu đúng như vậy.

Bây giờ cuốn sách đã được in ra, tôi lại đắm mình trong từng dòng chữ. Tôi tìm thấy đồng đội tôi trong cuốn sách ấy. Tôi tìm thấy đồng bào của tôi trong cuốn sách ấy. Và tôi lại tìm thấy tôi trong cuốn sách ấy. Cuốn sách đã lý giải cho tôi bao điều mà hồi ấy với tư cách người lính chúng tôi chỉ có quyền thực thi tất cả các mệnh lệnh của ông mà không có điều kiện lý giải, thực ra cũng không thể lý giải nổi.

Tháng 10 năm 1966 với một tổ đài thông tin 15 oát của trung đoàn 320 độc lập, chúng tôi từ phía tây vượt sang phía đông sông Sa Thày làm một mũi thọc sâu đánh thẳng vào Sở chỉ huy dã chiến của Sư đoàn anh cả quân đội Mỹ đóng tại khu vực đồi đất đỏ để kéo lực lượng của Mỹ ra ngoài cho quân ta tiêu diệt. Tôi đâu có ngờ đó là thực hiện mưu kế của tướng Chu Huy Mân trong việc chống lại chiến lược tìm diệt của Mỹ.

Tháng 3 năm 1967 khi nhận nhiệm vụ đi “chuẩn bị” một số “bãi đáp” cho lính Mỹ nhúng sâu vào hậu cứ của ta, để pháo binh ta tiêu diệt. Tôi cũng đâu có ngờ rằng ta đã phán đoán đúng ý đồ của địch chủđộng giăng bẫy tiêu diệt địch.

Từ Pleime (năm 1965) đến thắng lợi của hai chiến dịch Đông và Tây Sa Thày (1966-1967) đã là những bài học tổng kết cho Tướng Hoàng Minh Thảo thực hiện một ý đồ tác chiến mới: “Vận động tiến công kết hợp với chốt”.

Vào tháng 10 năm 1967 đường hành quân từ Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh đến Đaktô chỉ có hai ngày, ấy vậy mà chúng tôi phải đi hai tuần lễ vòng qua sông Sa Thày, phải cố tình làm lộ, phải giơ lưng ra hứng bom đạn của địch, phải chạm trán với các trung đội thám báo, biệt kích của địch để cho đại quân ta cắt những ngọn núi cao chót vót chuẩn bị cho chiến dịch Đaktô năm 1967 (gọi là Đăktô 1).

Chúng tôi (trung đoàn 320) vòng về chân dãy núi Ngọc Gio Lang khi chỉ còn hai ngày nữa là nổ súng. Chả thấy giặc đâu cả. Nhưng cấp trên bảo: Đợi đến hai ngày nữa sẽ gặp địch.

Quả thật “Sau 17 ngày đêm liên tục chiến đấu, ta đã đánh quỵ 1 lữ đoàn Mỹ, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn và 2 đại đội Mỹ, đánh tiêu hao nặng 4 tiểu đoàn Mỹ, 2 tiểu đoàn nguỵ, loại khỏi vòng chiến đấu 4092 tên, phá huỷ 15 khẩu pháo, 32 xe quân sự, bắn rơi 38 máy bay” (trích hồi ký). Điều quan trọng hơn là tướng Hoàng Minh Thảo đã gọi toàn bộ lực lượng tinh nhuệ nhất của Mỹ để cho chúng một bài học nhớ đời (lời tác giả), từ đó “làm cho quân Mỹ rất e ngại tiến sâu vào khu căn cứ của ta” (trích hồi ký).

Hoả tiễn ĐKB lần đầu tiên xuất trận tại chiến trường đã bắn trúng ngay từ quả đạn đầu.

Cao điểm 800 được bộ chỉ huy chọn là mồ chôn giặc đã diễn ra đúng ý đồ.

Chiến dịch đã đúng ý đồ của ta. “Chọn chỗ mà diệt địch” “gọi đúng lực lượng của địch mà đánh” “đánh đúng chỗ cần đánh để tiêu diệt ý chí và mưu đồ của các cấp chỉ huy địch và tạo thế và lực cho ta”. Tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với lối đánh giặc của tổ tiên làm nên nghệ thuật tác chiến của tướng Hoàng Minh Thảo, đấy chính là thành công của vị tướng mà tôi tôn kính.

Sau khi giải phóng hoàn toàn Đaktô Tân Cảnh (1972) chúng tôi nhổ tiếp các chốt “Chư Nghé, Pleicần, Đắc Xiêng, Đức Cơ, Măng Đen, Măng Buk và cuối cùng là Đak Pet mở rộng khu giải phóng, tạo thế chiến lược cho mặt trận.

Hoàng Minh Thảo vị tướng đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với bộ đội Tây Nguyên, lòng tin tuyệt đối của bộ đội Tây Nguyên, để đến mùa xuân năm 1975 ông kêu gọi “Trường Sơn chuyển mình. Pôcô dậy sóng, quét sạch quân thù, giải phóng Tây Nguyên” thì muôn người như một chúng tôi thực hiện đúng mưu kế của ông.

Xin cám ơn ông Trần Tấn Ngô - Tổng giám đốc Tổng Công ty Sách Việt Nam đã giúp đỡ tận tình để cuốn sách sớm ra mắt bạn đọc.

Xin cảm ơn Nhà xuất bản Quân Đội nhân dân đã rất công phu và khẩn trương để cuốn sách ra đúng vào dịp Kỷ niệm 60 năm thành lập Quân đội nhân dân.

Với tôi cuốn sách này là vô cùng quí.

Xin được bạn đọc chia xẻ cùng tôi.

12-2004



(*) Tên cuốn sách nổi tiếng của giáo sư, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo.

(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Biên giới Tây Nam - Tập truyện ngắn nhiều tác giả, Nxb Trẻ 2004

Vũ Trung Hà

Biên giới Tây Nam là cụm từ khá quen thuộc với mỗi người Việt Nam chúng ta vào một thời chưa xa lắm, khoảng trên 20 năm trước đây. Biên giới Tây Nam không chỉ là một vùng đất, một vùng trời, một vùng biển mà nó còn là nơi mà ở đó mỗi ngọn núi, dòng sông, cánh rừng, mảnh ruộng đều trở nên thân thuộc với mỗi người chúng ta. Bởi ở đó có cuộc chiến tranh mới nổ ra sau khi đất nước trải qua ba mươi năm chiến tranh vừa giành lại được hoà bình mới hơn hai năm.

Mười hai năm chiến đấu và bảo vệ biên giới Tây Nam Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia (9-1977 - 9-1989) dường như không để lại gì nhiều trong nền văn học chúng ta. Hàng trăm truyện ngắn, mấy trăm bài thơ được công bố trên báo chí cả nước trong thời gian ấy dường như chưa tạo được một nét gì mới lạ trong đời sống văn học nước nhà. Sự xuất hiện của một số cây bút lớn lên từ gian khó chiến trường trên khắp các mặt trận thuộc địa bàn của ba Quân khu 5, 7 và 9 có lúc, có nơi cũng gây được một chút tò mò, thích thú nơi những người yêu văn học. Rồi sự đổ bộ của các cây bút là nhà văn trong và ngoài quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ lên các chiến trường biên giới Tây Nam trước và sau sự kiện 7-1-1979 (ngày Phnôm Pênh được giải phóng) đã ít nhiều tạo ra được những cảm thông nơi người hậu phương. Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam đã là dĩ vãng nhưng là một dĩ vãng không yên lặng, một dĩ vãng sống động bởi hình ảnh người lính bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế đã dần dần trở thành nhân vật văn học. Nhân kỷ niệm lần thứ 60 ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam. Nxb Trẻ đã cho ra mắt bạn đọc trên cả nước hai tập truyện ngắn Biên giới Tây Nam tập hợp sáng tác của những nhà văn trong và ngoài quân đội viết về anh bộ đội Cụ Hồ ở các mặt trận biên giới Tây Nam.

Người đọc có thể bắt gặp bộ truyện ngắn hai tập này những tên tuổi đã từ lâu trở nên quen thuộc trên văn đàn như: Ma Văn Kháng, Nguyễn Bảo, Trung Trung Đỉnh, Chu Lai, Lê Lựu, Khuất Quang Thuỵ, Nguyễn Thị Như Trang, Dạ Ngân, Trần Thuỳ Mai, Sương Nguyệt Minh… Mỗi người một cách tiếp cận, một cách thể hiện nhưng đều để lại trong lòng bạn đọc những dấu ấn thật đặc biệt. Đó là những trang văn giàu chất tự sự của nhà văn Nguyễn Thị Như Trang trong Năm tháng qua đi. Đó là những căng thẳng, khốc liệt của cuộc chiến trong Ranh giới một vùng của Nguyễn Bảo. Đó là những góc khuất tâm hồn rất đỗi đời thực của những người lính trong Truyện rất khó viết của nhà văn Nguyễn Đông Thức… 16 truyện ngắn được giới thiệu trong mỗi tập sách là bức tranh đa dạng, chân thực và cảm động về người lính Việt Nam tại mặt trận biên giới Tây Nam. Đó còn là những khúc ca bi tráng về người lính của một thời - thời chiến tranh chưa xa.



(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Nửa đời còn lại - cuộc kiếm tìm cái thiện (Tiểu thuyết của Thiếu Văn Sơn - Nxb Hải Phòng, 2002)

Cao Năm

Nửa đời còn lại là một bước tiến của Thiếu Văn Sơn trong nghiệp văn chương, mà rõ nhất là ở tâm lực ngòi bút của anh trong quá trình xây dựng nhân vật tiểu thuyết.

Từ một trận ốm kịch liệt của ông Phan Thanh Toàn, sau ngày ông rời ghế lãnh đạo cao nhất huyện Thanh Hưng để về hưu, Thiếu Văn Sơn đã đưa người đọc trở lại không khí làng quê những năm 1965-1975 sôi sục khí thế đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Như một cuộc việt giã mấy mươi năm bây giờ mới đến điểm dừng, trong khi nằm trên giường bệnh, ngày ngày có người túc trực ở bên, thăm viếng ra vào, thi thoảng hoặc ông Toàn lại thấy hiện về rõ như ban ngày trong số những người vào thăm ông có người mà đạo đức, phẩm chất và việc làm, thậm chí lời ăn tiếng nói của họ cho đến chết ông cũng không thể quên. Bởi những việc làm của họ, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đều tác động đến sự hình thành một Phan Thanh Toàn khao khát quyền lực, đến không từ một thủ đoạn nào, thậm chí bỏ mặc cả người mình yêu, cả đứa con trai duy nhất chỉ để giữ lấy cái ghế lãnh đạo cao ở huyện lúc bấy giờ. Thế nên, giờ đây khi có thì giờ nhìn lại, nghĩ suy về tất thẩy những việc làm đó, con người đó, Phan Thanh Toàn mới thấy rõ những việc làm đúng, việc làm sai cũng như những người thực sự tốt với mình, và cả những kẻ ngày chưa xa ấy sống giả tạo với mình. Toàn là một nhân vật Bí thư Huyện uỷ ở góc độ những năm chống Mỹ mà xét, ông ta thực lòng tận tâm lo lắng công việc chung, mà mối lo lớn nhất của ông cũng như phần đông cán bộ lãnh đạo lúc bấy giờ là lo tổ chức sản xuất tốt và chi viện cho tiền tuyến “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” nhưng cũng đồng thời lo giữ vững ổn định chính trị, đời sống xã hội ở làng quê. Trong Phan Thanh Toàn bản chất của anh nông dân ngấm khá sâu, nên trong mối lo cho việc chung thì cũng đồng thời mưu cầu lợi ích cho riêng mình, theo kiểu “nước nổi thì bèo nổi”. Toàn là một nhân vật cán bộ huyện, những năm 1965-1975, chứa đựng khá nhiều mâu thuẫn nội tâm, tính cách phức tạp mà ngay từ những năm ấy, ông ta đã có lúc buộc phải nghĩ về mình, nhưng có điều ngày ấy khát vọng quyền lực ở ông ta còn quá lớn, nên dẫu có nghĩ cũng chưa thể sâu xa, day dứt được như bây giờ đã về hưu. Đặt nhân vật Toàn trong hoàn cảnh như thế, tác giả có điều kiện mổ xẻ tâm lý nhân vật, đào sâu vào phẩm chất con người Toàn, và những người gần gũi với ông ta, từ đó bật lên những đức tính tốt đẹp và thái độ đúng đắn của những người từng một thời gắn bó với nhau, cho dù hôm nay mỗi người đã có một cương vị, một hoàn cảnh khác.

Cô Nguyên là con một gia đình có giáo dục, nhưng chỉ vì thương anh cán bộ lãnh đạo huyện sơ tán ở nhà mình sớm hôm vất vả nên cô cũng muốn chăm sóc anh cán bộ trẻ trung, đẹp trai một chút. Nhưng cái tình trong trắng, hồn nhiên của một cô gái nông thôn đâu có phân biệt được rạch ròi đâu là tình thương, đâu là tình yêu, nên mới dẫn đến hậu quả là cái buổi trưa cả nhà đi vắng, chỉ mình cô ở nhà cơm nước cho Toàn, từ đùa nghịch, cô đã trút bỏ áo quần dâng hiến trọn cho Toàn tình yêu đầu tiên. Rồi cô có mang. Dẫu thực tâm Toàn yêu Nguyên nhiều lắm thì Toàn cũng không thể dấn thêm được nữa, vì Toàn đã có vợ ở làng, dù vợ Toàn bị vô sinh, và vì, điều này quan trọng hơn, Toàn là đảng viên, là cán bộ huyện thì dứt khoát không thể yêu bất cứ người nào được nữa. Toàn có thể hy sinh tình yêu, cũng tức hy sinh đứa con, chứ không thể chịu mang án kỷ luật “hủ hoá”, không chịu mất chức lãnh đạo huyện. Yêu Nguyên lắm, muốn có một đứa con lắm lắm mà Toàn đành dứt lòng xa Nguyên, dứt lòng từ chối đứa con Nguyên đang mang. Nhất là Toàn biết, đời Toàn mà không có con trai nữa thì coi như dòng họ Phan Thanh của gia tộc ông đến đây là tuyệt tự. Vậy mà cho đến khi biết Nguyên đã đẻ con trai, Toàn cũng không dám nhận con. Bi kịch của nhân vật Toàn chính là ở đây, và cũng ở cái nút này nhân vật Toàn bộc lộ đầy đủ tính cách của mình: hám chức quyền, dòng tộc, danh vọng nhưng lại không dám hy sinh một cái gì, đến khi nghỉ hưu mới thấy cái lớn nhất của con người mà không tiền bạc nào mua được , ấy là tình cảm vợ chồng, con cái, họ tộc, láng giềng thì bỗng giật mình vì chính ông đã “bỏ quên” những cái quý giá ấy mấy chục năm trời. Không chỉ gia đình mà cả tình bạn, tình đồng chí trong một cơ quan giờ đây nghĩ đến ông Toàn cũng không khỏi giật mình. Hùng Dũng là một lái xe cần mẫn cho ông thời chống Mỹ. Bây giờ Hùng Dũng đã là một đại tá, khi về công tác ở tỉnh nghe tin ông ốm đã vào bệnh viện thăm, rồi từ đó chắp lại sợi dây tình cảm xưa từng bị đứt đoạn. Chính Hùng Dũng đã lên nông trường chè Cao Sơn tìm cô Nguyên, kể hết sự tình với Lại Ngọc Tảo (chồng Nguyên) để thu xếp cho Lại Ngọc Thắng, đứa con chung của Toàn và Nguyên hiện mang họ bố dượng, về quê Thanh Hưng nhận bố đẻ và đổi sang họ bố Phan Thanh. Thái độ khoan dung của Lại Ngọc Tảo khi nghe Hùng Dũng đặt vấn đề cho Thắng nhận bố đẻ ở quê, sự độ lượng của Tảo khi nhận tin ông Toàn ốm mệt liền thúc giục vợ (Nguyên) mau mau đưa con về quê, không chỉ là cách ứng xử chan chứa tình người của Tảo mà còn là sự cố gắng của Hùng Dũng trong việc hàn gắn vết thương lòng của bạn bè, đồng chí một thời gắn bó bên nhau, sẵn lòng bỏ qua cho nhau những nỗi lầm ấu trĩ.

Khác với lối viết trong tiểu thuyết Gió lạnh và một số truyện ngắn của anh mà tôi đã đọc, lần này, ở Nửa đời còn lại Thiếu Văn Sơn có nhiều cố gắng đi vào khắc hoạ nhân vật với những đường nét khá rõ. Bên cạnh ông Toàn, nhân vật chính được tác giả để nhiều tâm sức vun đắp, một số nhân vật như Dũng, bà Cành (vợ ông Toàn), Nguyên và Tảo, giám đốc trại lai tạo giống lợn F3 Nguyễn Mạnh, đến cả những nhân vật chỉ xuất hiện rất ít như bà Cả Vui, ông Nguyện, bác sĩ Đỗ Mạnh đều có những nét riêng, đáng nhớ. Đọc Nửa đời còn lại, theo dõi các nhân vật trong cuốn sách được tác giả lưu tâm xây dựng, thấy rõ cố gắng của Thiếu Văn Sơn trong cuộc tự vượt mình. Tác giả là người làm báo lâu năm, hiện anh là Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh Thái Bình, nên nắm khá chắc những vẫn đề nóng bỏng của sản xuất nông nghiệp thời chống Mỹ, tái tạo sự kiện giàu sức sống và không khí thời bấy giờ, ngay cả cách cư xử người với người vây giờ nghe rất lạ nhưng ngày ấy lại là thực. Nhưng cũng ở lợi thế này, tác giả bộc lộ hạn chế gần như “cố hữu” của một người làm báo viết văn, ấy là sự áp dụng dễ dãi lối viết trần thuật báo chí vào văn học nên những trang tái tạo hiện thực ấy trở nên trần trụi, đơn giản và khô, ít chứa đựng sự gợi mở suy nghĩ và hình tượng. Đấy cũng là điều mà những ai làm báo muốn viết văn thành công đáng suy nghĩ để phát huy mặt lợi thế, khắc phục mặt hạn chế trong khi xây dựng tác phẩm văn học.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Lục bình mải miết - Tạp bút và tản văn của Dạ Ngân - Nxb Kim đồng 2004

Kim Quyên

Lục bình mải miết - là đầu sách thứ tư của nhà văn Dạ Ngân viết cho thiếu nhi. Trôi theo Lục bình mải miết của nhà văn chúng ta sẽ được dịp xuôi về miền sông nước Nam bộ, thăm thú phong cảnh thiên nhiên hoang dã, gặp gỡ những con người chân chất mộc mạc sinh sống bằng những cái nghề mà chỉ ở miền Tây mới có.

Không chỉ có tấm lòng đối với nơi chôn rau cắt rún, mà phải có quá trình sống, lao động, gắn bó máu thịt với mảnh đất đó và có những câu chữ tài hoa mới nói hết được niềm vui, nỗi buồn của vùng đất mà mình đã được sinh ra và lớn lên.

Nhớ về sông Tiền, sông Hậu người ta thường nhớ những rặng bần ven sông, những chiếc đèn đáy đêm đêm giăng trên sông nhấp nháy như những vì sao. Và cảnh đổ đáy vào buổi sáng sớm thật thú vị trong bài “Đèn đáy trên sông” … Một cái gì thật thiêng liêng kỳ diệu khi người chủ hàng đáy rót xuống chân ông một dòng tép tươi ròng sáng bạc với những con mắt đo đỏ vì trời còn khá tối… Các cô bé bây giờ không còn được thấy đom đóm và những ánh đèn đáy vào những đêm nước kém nữa…”(Đèn đáy trên sông - tr22)

Có thể nói không ai hiểu rõ cây lục bình như nhà văn Dạ Ngân. Chính tôi cũng là người miền Tây, từ nhỏ cũng từng “bầu bạn” với nó, từng lấy lục bình chơi trò bán quán rồi lớn lên biết vớt lục bình tấp gốc cây… cả đời nhìn thấy loài cây dại nầy nhưng không hiểu rõ nguồn gốc, cách sinh sôi nẩy nở, mùi vị của bông lục bình khi nhúng xuống nước như thế nào. Xa hơn nữa, nhà văn còn mượn hình ảnh của những nhánh lục bình để kể lại cuộc đời truân chuyên của những bà goá luôn nhẫn nhục, cam chịu những mất mát thua thiệt bởi chiến tranh “Vì vậy, tôi hay nhớ họ khi chạm vào sợi dây quê hương trong lòng mình, má tôi và họ, hai thế hệ goá bụa nhưng đều là những nhánh lục bình túc tắc bên nhau trôi lên trôi xuống, bền bỉ tươi héo rồi úa tàn mà không sao tách khỏi dòng sông ấy được” (Lục bình mải miết. tr.93)

Với 15 bài viết theo thể loại tạp bút và tản văn do Nhà xuất bản Kim Đồng in ấn (sách dành cho thiếu nhi), nhà văn Dạ Ngân đã dẫn dắt không chỉ thiếu nhi mà cả người lớn về châu thổ Đồng bằng để tìm hiểu nguồn cội về những ngày khẩn hoang lập vườn, để thấm thía tình làng nghĩa xóm qua cây đuốc lá dừa, rồi lại ngạc nhiên thú vị vì một cái nghề ngộ nghĩnh không tên và không thu lợi nhuận, nhưng đòi hỏi người thực hiện phải có bàn tay khéo léo mới làm được, đó là nghề sạ lúa. Còn một nghề lạ lùng nữa là nghề đổi nước, giữa miền nước sông tràn trề lai láng mà có nơi nông dân phải mua nước ngọt để dùng cho sinh hoạt hàng ngày. Dạ Ngân tả rất tỉ mỉ, chi tiết nghề nầy như thể chính chị là người chèo ghe đi lấy nước ngọt bán cho người ở miền nước lợ vậy.

Xếp lại trang sách cuối cùng, người đọc không khỏi thú vị vì vừa thu lượm được nhiều kiến thức về một miệt vườn xa lắc cùng với nỗi ngậm ngùi, trắc ẩn về những con người cần mẫn, lam lũ, phóng khoáng, mơ mộng nhưng cũng hết sức can cường của một miền quê bạt ngàn hoa trái. “Lục bình mải miết” chắc sẽ góp phần không nhỏ cho tủ sách Kim Đồng trong việc làm giàu tri thức cho các em về lá hoa cây cỏ và về những người nông dân chân chất, dễ thương.



(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Bức tranh xưa - Tập tản văn đỗ đức, Nxb Văn hoá Dân tộc - 2004

Đăng Bẩy

67 bài tản văn, một thể loại không rậm chữ nhiều lời, song cũng đủ để hình thành một tập sách gần 200 trang dày dặn. Vẫn là những câu những dòng trau chuốt về nhạc điệu, khiến tác giả vừa viết xong thường thích xướng lên trước các bạn bè, và đến khi được in ra trên báo chí dễ khiến người đọc gật gù, khúc khích…

Song điều đáng nói là Đỗ Đức chứng tỏ được sở trường trong việc chọn lựa và gia công chi tiết để xếp sắp vào cái khuôn khổ đặc biệt của tản văn. Có khi là cả một số phận (Người bạn gốc ấn, Bức tranh xưa, Khóc cho quá khứ, Cây sấu già, Người bán chim ở chợ Bắc Hà…), có khi là một tình huống (Rượu chít, Đổi sổ, Tư thế, và cũng có khi chỉ một câu thơ, câu nói bâng quơ, thậm chí một chữ (Ra đứng đầu cầu, Tình ruồi, Thành ngữ, Tụt nõ…) cũng đủ để Đỗ Đức trút vào đó bầu tâm sự và những chiêm nghiệm của mình về cuộc đời này.

Như đã được định hướng ngay từ nhan đề cuốn sách, tác giả thật là một người trân trọng quá khứ - đặc biệt là cái hồn cốt của nó - và chi chút trong cuộc sống hôm nay. Bao nhiêu kỷ niệm tuổi thơ (Thiên tuế, Hàn nồi hơ, Cây đa thùng rượu…), chuyện những con người chân chất và sâu sắc ở vùng núi phía Bắc (Tiếng khèn Mông, Nàng Xáy, Chuyện vùng biên, Thảo quả, Người của cao nguyên đá…) được tác giả thuộc và thuật lại thật có hồn và có duyên. Và nhiều chuyện nhân thế (Đi chùa, Thầy xưa, Bán mua chữ cựu, Chiếc xe đạp được cho, Tiền phúng viếng, Từ chiếc tăm tre…) đủ khiến người đọc dở cười dở mếu.

Thường xuyên xuất hiện trong những chuyên mục Ghi chép, Tản mạn dọc đường, Tản văn… của một số báo chí, trong vòng dăm năm lại đây, Đỗ Đức làm như chỉ viết báo vặt giúp vui người đọc. Nhưng với Bức tranh xưa ông chứng tỏ một cây bút không những có văn, và còn có sách. Dường như cây bút này chưa muốn thoả mãn với những ô báo “đến hẹn lại đăng” và đang nao nức chuyển mình: một số tản văn (Người bán chim ở chợ Bắc Hà, Kẻ bất cần đời, đặc biệt là Căn phòng có ma) đã thấp thoáng vóc dáng của những thiên truyện ngắn! Vậy là sau Chuyện đời (Văn hoá - Thông tin xuất bản 2001) hoạ sĩ Đỗ Đức đã có tác phẩm thứ hai hiện diện giữa làng văn.



(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Trong lành "Gió đang xoan" của Trần Nhương

Nguyễn Hưng Hải

Trần Nhương không còn trẻ nữa. Nhưng đọc Gió đang xoan - tập thơ mới nhất của anh, vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành - có cảm giác bút lực của Trần Nhương còn đầy sung mãn, trẻ trung.

Với 12 tập sách xuất bản từ năm 1980 đến nay cùng với hàng trăm bức họa, có thể nói Trần Nhương là người viết khoẻ, vẽ khoẻ; bởi bên cạnh nghiệp viết anh còn phải làm tròn bổn phận cán bộ của Hội Nhà văn Việt Nam.

Cầm tập thơ Gió đang xoan đọc đi đọc lại nhiều lần trên chính quê hương Phú Thọ - nơi sinh thành nhà thơ Trần Nhương - tôi càng tin tưởng quý mến và trân trọng những gì anh gửi gắm trong từng câu chữ như những nét vẽ trong 43 bài thơ in trong tập thơ này.


Thừa nhận bút lực sung mãn của Trần Nhương là thừa nhận tố chất của một năng khiếu bẩm sinh, viết như trời bắt viết; viết như trời cho viết; và hình như có cả việc viết để trả ơn trời, trả ơn đời.

Với bản chất của một người lính Cụ Hồ, chuyển ngành với quân hàm trung tá, thơ Trần Nhương “khoẻ” ở tư tưởng, “khoẻ” ở lối tư duy triết luận đã qua nhiều truân chuyên, trải nghiệm. Tạng của Trần Nhương là trực diện. Anh không thích lối nói vòng vo. Tính bộc trực thẳng thắn và rất đỗi chân thành của Trần Nhương hiện rất rõ trong từng câu chữ. Anh yêu, ghét rõ ràng, không lờ nhờ nửa trong nửa đục. Có lẽ bởi vậy mà hơn 20 năm nay đọc Trần Nhương tôi có cảm giác thơ anh xung kích như những người lính trận.

Điểm qua vài bài điển hình, vỡ ra nhận định trên đây của mình không nhầm, dù Trần Nhương không tuyên bố. Ngay bài thơ mở đầu của tập Gió đang xoan, trong một trạng thái xao động, nôn nao nào đó, có thể chỉ là khoảnh khắc thôi, Trần Nhương đã thừa nhận: “Phượng là ai mà thấu ruột gan ta / lòng bộc trực kìm nén gì được mãi...” (Phượng).

Không kìm nén được, đó là cái làm nên sung mãn của bút lực. Nhưng ở đời dường như không kìm nén được nhiều khi cũng lắm phiền hà. Tự ý thức được điều đó nên trong bài thơ Trò chơi trong siêu thị - một trong những bài thơ sáng giá nhất, ấn tượng nhất của Gió đang xoan - Trần Nhương đã viết: Dắt cháu vào siêu thị/ chẳng mua hàng gì, cháu thích vui chơi/ quá nhiều trò moi tiền/ trò bạo lực, trò lái xe tốc độ/ cháu tôi thích trò đập đầu con thú/ con nào đòi nhô lên miệng lỗ/ đập một nhát nó vội vàng thụt xuống/ và con khác lại nhô lên/ cháu tôi đập liên hồi/ những con thú liên hồi nhô lên thụt xuống. Tưng tửng như chơi mà ám. Tưởng như chơi, tưởng chỉ là trò chơi nếu không trải nghiệm dễ gì nhận được điều đó. Sao cái trò chơi trong siêu thị lại giống cái trò đời ở đâu đó hôm nay. Thêm một cảm phục Trần Nhương ở phẩm chất thi sĩ khi anh quy nạp “Thì ra sự nhoi lên để hơn người/ cũng là điều khao khát/ thì ra không muốn để ai hơn người/ cũng là điều thích thú”.

Những ai đang mang trong mình sự đố kỵ nhỏ nhen đọc những câu thơ vừa dẫn ở trên liệu có giật mình xấu hổ? Không phải dắt cháu vào siêu thị đâu, Trần Nhương đang cho ta xem lại “Tấn trò đời”. Anh buồn và chúng ta cùng buồn khi Trần Nhương nghi hoặc: “Rời siêu thị lòng tôi héo rũ/ trò chơi ư hay hồn cốt quê tôi?”. Cũng trên một cảm hứng như thế, Trần Nhương liệt kê bao nhiêu loại virus để rồi : “Những con virus sinh ra/ là phiên bản của con người/ có phải ???”.

Đã có lần người viết bài này phải thốt lên: “Khi cái giả đã thật hơn cái thật/ ta còn xem tem nhãn để làm gì”. Đọc Trần Nhương càng thấu hiểu thêm điều này: “Người bán rau bỏ sâu vào cho thành rau sạch/ người nấu rượu bỏ đạm vào cho thành rượu ngon/ người bán hoa quả bỏ điôxin vào cho hoa quả tươi/ người quá lứa bỏ silicôn vào cho thành người trẻ/ người đểu cáng bỏ nụ cười vào cho thành người thánh thiện/ người trọng bệnh bỏ tư tưởng vào mong trở thành tráng kiện...”. Xa xót của Trần Nhương cũng là xa xót của nhân tâm luôn phập phồng nỗi lo băng hoại về đạo đức, lối sống. Nhưng trước sự thật phũ phàng ấy vẫn còn một nơi để lòng ta ấm áp: Anh bỏ vào em câu hát/ chúng mình cùng ngân nga...

Ngòi bút của Trần Nhương tinh nhạy

cập nhật những bất cập của xã hội hôm nay và anh đưa vào thơ một cách khéo léo, thấm ngọt và đắng đót nhưng không sa vào trào lộng, đả kích. Bây giờ người ta dựa vào thần thánh linh thiêng để linh đình lễ hội, bao nhiêu dịch vụ ăn theo tốn kém hàng tỷ đồng cho những công việc không mấy thiết thực, ai cũng biết là vô bổ nhưng chẳng ai dám can ngăn. Trần Nhương lên tiếng : “Vĩ nhân cứ để vĩ nhân/ đình kia ít lể thì thần mới thiêng/ hay gì hương khói triền miên/ tụng ca quá thể càng thêm bẽ bàng... Và những câu thơ như đồng dao mà ý tứ của nó không bé bỏng tý nào: Vô danh là của số nhiều/ cớ sao lại ít người yêu/ thật buồn. Và: Này bé nhập vào cho to/ này to chia ra cho bé/ nhớ sao trò chơi con trẻ/ vẫn thường chơi ô ăn quan...”

Trong Gió đang xoan còn một mảng thơ khiến người đọc rưng rưng những hoài niệm về tuổi trẻ, về tình yêu, về những năm tháng đẹp đẽ nhất của đời mình trên Trường Sơn. Một cô gái giao liên ngã xuống khi mùa hoa chuối đỏ, một ông lão vốn là chiến sĩ thồ hàng lên Điện Biên, một manh áo của cha để lại. Thơ anh lúc này chuyển sang tự sự: Bây giờ mình thành ông lão/ xe thồ đã ngơi bảo tàng/ tớ chán ở nhà đọc báo/ ra đường bơm vá xênh xang... Hay viết về Mẹ xuống đồng giữa ngày giá rét, anh cầu mong: Rét qua đi cho ngày nắng ấm lên/ để mẹ cấy chiều nay khỏi cóng/ để mùa vàng nay mai ong óng/ uốn câu như dáng mẹ trên đồng...

Và thi sĩ Trần Nhương lại trở về với một thi nhân mộng mơ đắm đuối với những câu thơ óng ánh: Bóng mây là cái mưa chi/ Đến thì như vỡ mà đi như lành rồi: Giữa đường ngỡ thế là xong/ Bóng mây một thoáng sao không... tạnh buồn (Mưa bóng mây). Lại mưa ở Sa Pa gặp cô gái người Mông cùng ngồi trú mưa với bộ váy áo thổ cẩm, anh viết: Đường thêu thổ cẩm vẫn duyên/ đong đưa khoé liễu làm nghiêng cả trời/ và nghiêng luôn cả anh rồi/ hàng hiên cứ muốn cùng ngồi trú mưa/ bỗng nhiên trời tạnh buồn chưa/ em đi sao nỡ để thừa một anh...”. Trong bài Bão anh viết về sự đơn côi của chàng trai trong giờ phút người yêu về nhà chồng: Ngược với chiều hạnh phúc/ người đi trong mộng du/ thơ buồn ngâm mấy khúc/ tê tái tràn suốt thu. Đọc khổ thơ này tôi như đẫm trong không khí Đường thi. Và khi nói về nỗi buồn Trần Nhương viết khá độc đáo: Và người và phố và em/ Và sông đổ ngọn sang bên nỗi buồn (Tháng Tư ).

Từ năm 2002 đến nay Trần Nhương mỗi năm cho in một tập thơ: Gió tháng Ba vẫn thổi (2002), Gió bát ngát đồng rừng (2003) và Gió đang xoan (2004), tập nào cũng có từ Gió mở đầu, hình như anh cố tình cho ra một sê-ri gió. Xin kể thêm là vào tháng 7-2003, Trần Nhương tổ chức triển lãm hội hoạ lần thứ 2 của mình tại Nhà triển lãm Hội Mỹ thuật Việt Nam với trên 50 tác phẩm. Thi và hoạ là sự đam mê của anh. Qua những tập thơ gần đây Trần Nhương đang tìm tòi tiếng nói mới cho thơ, anh đang tự đổi mới mình. Thơ anh gắn với số phận con người hèn kém, như tiếng nói của số đông. Thơ anh ngào ngạt hơi thở của chính ngày hôm nay. Sự tìm tòi của anh đáng khích lệ, còn nó có được bạn đọc chấp nhận không thì còn phải chờ đợi. Có thể thành công, có thể thất bại nhưng sự lao động cần cù, chắt chiu từng câu chữ, tìm tòi cho thơ trong thời buổi @ này là điều đáng biểu dương.

Khép lại bài viết này tôi thấy Trần Nhương như gửi gắm trong Gió đang xoan lời nhắn gửi hãy sống khoẻ và trẻ như gió đang xoan, trong lành và tốt đẹp như gió đang xoan. Bởi chỉ có những làn gió xoan mới nhiều hoa thơm cỏ lạ, mới khoáng đạt, thiếu đi hương vị ấy cuộc đời này sẽ buồn tẻ, oi nồng biết bao...

*Nhân đọc tập thơ Gió đang xoan của Trần Nhương - Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản năm 2004.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Một mình với một mùa thu

Nguyễn Đức Mậu

(Đọc Bỗng thương đàn sếu bay ngang - nguyễn xuân hải, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2004).



Từ năm 2000 đến nay, ngoài công việc làm báo, Nguyễn Xuân Hải dành khá nhiều tâm sức cho thơ. Chỉ trong vòng mấy năm, Nguyễn Xuân Hải cho in liền 3 tập thơ: Ngỡ như một khúc dân ca (năm 2000), Chuông chùa gõ một tiếng không (2002) và tiếp đến là Bỗng thương đàn sếu bay ngang (2004). Tôi hiểu vì sao Nguyễn Xuân Hải lại lấy trọn câu lục bát đặt tên cho ba tập thơ của mình. Đằng sau câu lục kia là câu bát, là âm điệu ngân rung, là tình cảm gợi mở trong lòng người đọc: Chuông chùa gõ một tiếng không. Ngước về Trấn Vũ bềnh bồng sương bay hoặc: Bỗng thương đàn sếu bay ngang/ Bỗng nghe động bóng trăng tan cuối trời… Tự thân những câu thơ trên cũng ẩn chứa những buồn vui xao động mà tác giả muốn giãi bày cùng bạn đọc.

Nguyễn Xuân Hải có nhiều bài thơ viết về lịch sử đất nước. Đề tài lịch sử thật khó viết, dễ khô mộc, dễ sa vào kể lể nếu tác giả không rung động, không truyền được cảm xúc vào thơ.

Chân đã chạm chín bậc thềm xưa cũ/ Tay lần theo dấu mây gió lưng rồng/ Dòng suy tưởng chợt về như cơn lũ/ Chín vương triều tròn thiên kỷ hưng vong

(Trước điện Kính Thiên)

Đi ngược thời gian, trở về những vương triều thủa trước, tác giả nghe được: ngựa hý, bóng thông reo, tiếng nguyệt cầm ca kỹ. Thả tâm hồn phiêu diêu trong cõi nhớ Thăng Long tác giả nhìn được cảm nhận được những huyền tích xa xưa dội lại. Bài thơ Vô đề, gói gọn trong bốn câu lục bát, tác giả cũng nhắc tới di chỉ Hoàng Thành:

Bâng khuâng bước xuống Hoàng Thành/ Ngọc vàng đâu mất, ngói lành còn đây/ Rồng thiêng ẩn chín tầng mây/ Tình người đọng ngọt nước đầy giếng xưa

Nguyễn Xuân Hải có thơ Viết trước đền vua Đinh, Trước tượng Hoàng thái hậu ỷ Lan, Giấc mộng Hàn Giang… Những bài thơ trên tác giả đều lấy cảm hứng lịch sử chắp cánh cho cảm xúc riêng mình. Tác giả nhắc đến bi kịch quyền lực anh giết em vì tranh giành ngôi báu: Sông thuần hậu, núi uy linh/ Nước non, non nước trọn tình bên nhau/ Anh em giọt trước, giọt sau/ Lưỡi gươm quyền thế chém đau muôn đời. Rồi trước bến Hàn Giang nhớ về Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác giả cảm thán, đúc kết:

Bến Hàn Giang và mây trắng la đà/ Thơ Quan Trạng thả về trời một thủa/ Rơi xuống nhân gian trang đi trang ở/ Trang nào cũng từ máu chắt ra

Qua một chặng đường thơ, Nguyễn Xuân Hải có ý thức mở rộng biên độ đề tài. Tác giả nói nhiều đến nỗi riêng, niềm chung. Cái tôi, cái ta khi đơn lẻ, khi hoà nhập tạo cho người đọc sự cộng hưởng đồng điệu. Con xin mượn tiếng chuông chùa là một trong những bài thơ hay, Nguyễn Xuân Hải nhắc về người cha với nỗi niềm thương nhớ, thành kính:

Mỗi lần trời gọi heo may/ Nắng thu ngọt lá vàng bay kín đường/ Con tìm một chút khói hương/ Nhớ thương thắp vọng về phương cha nằm…

Nguyễn Xuân Hải có thơ tưởng nhớ 13 thanh niên xung phong hy sinh tại Truông Bồn năm chiến tranh đánh Mỹ. Nói tới sự hy sinh lớn lao trong chiến tranh, tác giả nhìn nhận ở một góc độ khác:

Đâu người lỗi hẹn trầu cau/ Để bao mùa trái rụng đau bên thềm/ Lá vàng mòn mắt đợi têm/ Lối đưa đâu chẳng về bên cõi người.

Nguyễn Xuân Hải có thơ viết về nước Nga xa xôi, cửa thiền Yên Tử, chiều Đà Lạt, tiếng chuông chùa, hoa loa kèn, hoa bất tử… Có khi là dòng suy tưởng chợt đến, là cảm xúc trào dâng hoặc một thoáng vu vơ, vui buồn vô cớ. Khi trong lòng đã có điều muốn nói thì ngoại cảnh chỉ là cái cớ để cho thơ phát lộ:

Tháng tư trắng suốt màu hoa em đợi/ Búp búp xanh như nốt nhạc gọi hè/ Bao thầm kín mùa xuân chưa kịp nói/ Bỗng một ngày cây cỏ mở lòng nghe…(Hoa loa kèn)

Trong bài Vô đề Nguyễn Xuân Hải nói tới sự cần mẫn, đam mê của người làm thơ. Trên các ngả đường đi, tác giả mong quyên nhặt được gió được mây, được hương sắc. Quyên nhặt để cho tâm hồn thêm giàu có: Cứ góp mãi quyên hoài như thế/ Anh giàu mơ tưởng nhất trần gian. Nguyễn Xuân Hải mượn màu Hoa bất tử để nói về tình yêu, từ sự khô héo vốn có của hoa, anh phát hiện: Loài hoa biết chết cho yêu/ Bao nhiêu khô héo bấy nhiêu nồng nàn… Nguyễn Xuân Hải tìm tới sự trắc trở thường thấy trong tình yêu đôi lứa. Tác giả nhắc nhủ mình và nhắc nhủ người khác, câu thơ đầy sự cảm thông, chia sẻ:

Suối đầy suối cạn em ơi/ Nguồn xanh một dòng vẫn chảy/ Trời chẳng se duyên một đời/ Thì hoá đá thương nhau vậy (Màu thương)

Người đọc thêm hiểu Nguyễn Xuân Hải qua những buồn vui thế sự và những suy nghĩ trăn trở trong nghề cầm bút. Tác giả có những câu thơ gạn lọc: Ngày bớt vô tư/ Đêm đêm ưu phiền. Trong bài Một mình với một chiều thu, tác giả nhận ra quy luật sinh tử của tạo vật, cõi người:

à ơi… chiếc lá vừa rơi/ Mong manh thế! Một mảnh đời vội đi/ à ơi… khản giọng chim quy/ Tiếng lòng gọi nỗi chia ly bạn bầy/ à ơi… rã một vầng mây/ Cao xanh cũng chốn lưu đầy phù du…

Đọc Bỗng thương đàn sếu bay ngang - tập thơ thứ ba của Nguyễn Xuân Hải, tôi hiểu tác giả vẫn kiên trì, bền bỉ với thơ. Trên con đường thi nghiệp, mỗi người một cảnh ngộ, một dạng vẻ nhưng trước tiên cần phải nuôi cho mình ngọn lửa say mê tâm huyết. Xin trích mấy câu thơ Nguyễn Xuân Hải viết thay cho lời tác giả tâm sự: “Nợ người có bốn câu thơ/ Tưởng rằng có mấy canh giờ là xong/ Ngờ đâu chữ trải thành sông/ Trước trang viết vẫn cánh đồng trắng phau”. Khác với các nghề lao động đơn thuần, nghề thơ có khi càng viết, tay nghề càng cao càng thấy khó. Phải chăng Nguyễn Xuân Hải đã ý thức được điều đó nên anh đang âm thầm, gắng sức để tự vượt lên mình?

(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Tập thơ "Mưa qua tôi" -Những bộc bạch tìm tri âm

Đã từng biết Nguyễn Xuân Hùng, vậy mà tôi vẫn bất ngờ nhận được tập thơ mới anh gửi tặng Mưa qua tôi (Nxb Hội Nhà văn, 2004). Bởi lẽ lâu nay bạn bè chơi với nhau, quý mến nhau, vốn vẫn quen với hình ảnh tất bật của Nguyễn Xuân Hùng - phóng viên báo Vĩnh Phúc, lúc nào cũng lỉnh kỉnh: nào máy ảnh, nào máy ghi âm, nào hồ sơ… lúc nào cũng sẵn sàng tác nghiệp chứ không giống người đang lãng đãng làm thơ. Vậy mà đây đã là tập thơ thứ ba của anh, sau các tập Viết lúc nửa đêm (Nxb Văn học - 2001), Thơ hai người (Nxb Thanh Niên - 2003). Nghĩa là trong vòng bốn năm, Nguyễn Xuân Hùng đã trình làng được ba tập thơ. Điều ấy đủ nói lên niềm đam mê và những nỗ lực không mệt mỏi của anh với Nàng thơ vốn luôn kiêu kỳ và khó tính.

Mưa qua tôi

ấy là lúc nhận rõ mình hơn

Cô đơn và trong sạch

ấy là lúc tôi nhận hương cuộc sống

Toả ra từ những giọt ngời trong

(Mưa qua tôi)

Nguyễn Xuân Hùng đã mở đầu tập thơ thứ ba của mình một cách chân thành và mộc mạc như vậy. Sự chân thành mộc mạc như chính bản tính đáng mến ở anh vậy. Anh viết về những người thân yêu, viết về làng quê nuôi lớn mình, cho mình “dịu cơn khát sau những quãng đường xa”. Anh viết bằng giọng thủ thỉ tâm tình, như đang trò chuyện với tri âm về những gì mình nặng lòng bấy lâu nay. Chính bởi vậy thơ của anh dễ đi vào lòng người. Đã có lần tôi nhận xét rằng: Thơ anh viết không cầu kỳ nhưng luôn dồi dào cảm xúc, cảm xúc của một người như đang thăng hoa. ở tập thơ mới trình làng của anh, điều này càng rõ hơn. Có cảm giác Nguyễn Xuân Hùng để những cảm xúc thơ đưa đẩy mình đi mà bỏ qua những phép tắc của thể loại. Người “trong nghề” hẳn sẽ tìm được những chỗ không vừa ý về mặt hình thức nhưng nếu tiếp cận bằng xúc cảm thơ mà lý giải thì có lẽ cũng dễ tha thứ hơn.

ở tập thơ Mưa qua tôi, không khó khăn để có thể bắt gặp những câu thơ đọc lên thấy rưng rưng: “Tháng năm đi giữa lặng im/ Bóng mẹ in ruộng chân chim góc trời/ Bàn tay vẽ nhánh sông trôi/ Nỗi lo đời mẹ bằng tôi bây giờ?/ Đồng tôi lúa đỏ hai bờ/ Mẹ tôi tần tảo dọc bờ ruộng quê” (Thơ tặng mẹ). Còn gì hạnh phúc hơn đối với người mẹ khi những đứa con hiểu được nhọc nhằn, hy sinh của đời mình?

Nhiều lúc miên man lạc vào những dòng thơ của Nguyễn Xuân Hùng, tôi tự nghĩ, hình như không phải anh đang làm thơ mà anh đang viết lên những dòng tâm tư chân thành, sâu kín của mình đấy thôi. Bởi người làm thơ máy móc sao có thể viết được những dòng thơ thấm thía, ân tình đến thế: “Đường thênh thênh ta bước lên nhà/ Nghe hạt thóc kể về những người cày cấy/ Thương lưỡi cuốc, lưỡi cày chạm vào sỏi đá/ Bàn tay nào rớm máu chẳng buông lơi/ Thương cánh đồng vụ chiêm khê, mùa úng/ Mẹ rẽ mạ nét trăng cong thấp thỏm trông trời” (Em có nghe). Tôi đặc biệt ấn tượng với hình ảnh rất đắt mà Nguyễn Xuân Hùng đã đưa vào thơ của mình, câu “Mẹ rẽ mạ nét trăng cong thấp thỏm trông trời. Tự dưng tôi chạnh nhớ câu ca dao xưa viết về những nỗi vất vả của người nông dân, phải lo “trông trời, trông đất, trông mây…”.

Thế mạnh của Nguyễn Xuân Hùng trong tập thơ lần này chính là bởi anh đã cất lên tiếng nói của một người từng lam lũ trên những “cánh đồng bão cướp đi mùa gặt”, thấm những giọt mồ hôi của mẹ cha, biết nghe tiếng “những mầm non cựa mình đạp đất vươn lên”. Chất ca dao, dân ca cũng được anh sử dụng hài hoà trong mạch thơ của mình, tạo nên sức nặng. Nếu tiếp tục phát triển theo hướng này, Nguyễn Xuân Hùng hẳn sẽ còn làm bạn đọc phải bất ngờ.

Với Mưa qua tôi, tôi nghĩ Nguyễn Xuân Hùng đã tạo cho mình một bước tiến mới trong chặng đường thơ đầy gian nan của mình.

(*)Mưa qua tôi - Tập thơ của Nguyễn Xuân Hùng -BNxb Hội Nhà văn, 2004.

(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Tập thơ "Khúc lãng mạn cho tuổi hai mươi của Vương Tâm

Nghiêm Nhan

Nhà thơ Vương Tâm mới ra tập thơ “Khúc lãng mạn cho tuổi hai mươi” do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành gần đây. Tên tập thơ có vẻ cho tuổi trẻ nhưng thực ra anh viết cho mình. Anh quan niệm cuộc đời con người hai mươi năm là một chặng và con người ta có đến nhiều chặng hai mươi để làm nên đời mình. Anh viết:

Tuổi hai mươi đầu tiên trai trẻ

Anh đi tận cuối trời...

… Tuổi hai mươi tiếp nối khát khao

Tráng kiện một cuộc đời

từng trải . ..

... Tuổi hai mươi thứ ba . ..

... An ủi ta em đến xôn xao

Kéo lại những tuổi hai mươi

đã mất. . .

(Khúc lãng mạn cho tuổi hai mươi)

Nghĩ và quan niệm cuộc đời, tuổi đời như thế, Vương Tâm còn trẻ lắm trong suy nghĩ và hơi thơ. ở tập thơ mới này với hơn 70 bài anh đã trải lòng mình qua những cảm xúc về tình yêu, cuộc sống, đất nước, và đặc biệt xúc động là những trang thơ viết về quê hương và mẹ.

Cuộc sống đã cho anh những quan sát thấm thía tình đời.

Tôi xa với sự bon chen

Và gần với những thân quen bạn bè

Gần và gần mọi chở che

Xa và xa mọi lập loè đỏ đen .. .

(Xa - gần)

Bài thơ có “mùi thế sự” - một chất ít thấy ở Vương Tâm. Phải chăng anh đã tới cái độ “chín đời” để cảm hết những lẽ đời. “Xa-gần” viết theo thể lục bát cứ đều đều nhịp hai cho thấy cái độ bình tĩnh, thanh thản của anh, bộc lộ cái nhìn của anh trước cuộc sống.

Vương Tâm có ưu thế mạnh về thơ tình. Giọng thơ thì thầm, thủ thỉ, lúc thì hạnh phúc dạt dào trong tình yêu, khi thì ngậm ngùi đau khổ. Đặc biệt ở tập “Khúc lãng mạn cho tuổi hai mươi”, anh có một bài thơ độc đáo. Đó là bài “Khúc liêu trai”. Bản thân thi ca đã có một chút trừu tượng, siêu thực rồi nhưng ở bài “Khúc liêu trai” hình như anh khám phá được ở bản thân mình có thêm một thế giới mộng mị, mông lung, liêu trai trong lòng.

… Bỗng dưng gió thốc mái nhà

Hồn anh nổi sóng phong ba giữa trời

Bồng em khắp chốn mọi nơi

Nhưng đâu có thoát lẽ đời… cỏ xanh

Gối lên giấc mộng trong lành

Tỉnh mơ, mình lại một mình nhớ em.

(Khúc liêu trai)

ở đây sự cô đơn lộ rõ, điều thường thấy ở những người sáng tác tâm trạng. Bài thơ chỉ với 18 câu lục bát nhưng đã cho tác giả tự khám phá mình và mở ra một hướng mới vừa kết hợp với tinh thần thơ cổ điển, vừa mang lối tư duy thơ hiện đại. Hy vọng với mạch cảm xúc này nhà thơ Vương Tâm sẽ ra được một “vệt” thơ mang không khí “liêu trai”.

Anh tuy không ở độ tuổi hai mươi thứ nhất mà đã có vài lần hai mươi nên giờ đây thơ anh còn diễn đạt cả độ “chín” của sự nhân hậu. Bài thơ “Đừng buồn nghe em” là ký hoạ chân dung hiện nay của anh. Chân dung dung của một ngươi buồn buồn, tình cảm, giàu suy tư.

Anh yêu nỗi buồn phiền

Hiện về như ánh sáng

Vẻ đẹp ấy thầm lặng

Luôn níu kéo thiết tha



Anh lơ ngơ tuổi già

Quên quên và nhớ nhớ

Chắc đời sẽ còn khổ

Nhung đừng buồn nghe em

(Đừng buồn nghe em)

“Khúc lãng mạn cho tuổi hai mươi” là một tập thơ buồn, giàu tâm trạng với những ký ức hoài niệm, nghĩ suy. Hấp dẫn nhất, hay nhất và tình cảm nhất là những bài anh viết về quê, về mẹ. Hành trình một đời người giúp anh có những cái nhìn thấu đáo về những chân giá trị trong cuộc sống. ở bài “Về quê” là nỗi niềm gửi gắm thái độ sống của anh.

Thôi ta lại về bến quê

Khói thơm mái lá bờ tre rì rào

Bỏ đi những nỗi khát khao

Quay lưng với chốn cồn cào

bon chen...

(Về quê)

Chiêm nghiệm để viết. Chiêm nghiệm cuộc đời để sống. Anh đã viết nên những bài thơ về mẹ rất hay. Càng viết càng thương mẹ. Dường như giờ đây hình ảnh người mẹ chính là sự an ủi, là chỗ dựa tinh thần lớn, động viên và là nguồn cảm xúc bất tận cho anh, để thêm một lần nữa anh tự khám phá mình.

...Con giờ đã run tay

Tóc bạc gần giống mẹ

Làm việc gì cũng thế

Cứ bồi hồi gần xa.

(Thưa Mẹ)

Còn ở bài “Mong mẹ về” là một “lục bát Mẹ”, nói theo nghĩa thi vị của thể 6-8. Vương Tâm tinh tế trong gieo chữ ở thể thơ này, và cũng nhờ lợi thế của lục bát mà anh diễn đạt được chập trùng nỗi nhớ và bạt ngàn nỗi thương mẹ ở người con có hiếu.

Một đời nặng gánh vuông tròn

Cõi về bát ngát núi non điệp trùng

Còn đâu mẹ nữa mà mong

Con buồn nhỏ lệ giữa dòng thời gian

(Mong mẹ về)

Thấm thía những mất mát trong đời để rồi anh tự đi ngược vào lòng mình. Thơ tâm trạng ra đời trong những khoảnh khắc cô đơn như thế.

Bơ vơ bao nỗi đầy vơi

Con giờ bạc tóc mồ côi tháng ngày

Ngồi bên mộ cỏ đêm nay

Mẹ đi lạnh buốt lưu đày đường xa...

(Mong mẹ về)

Buồn, vui xen lẫn trong nhưng bài thơ. Đến tập “Khúc lãng mạn cho tuổi hai mươi” - Vương Tâm càng đạt đến độ chín về nghề, không quan trọng vấn đề kỹ thuật thơ nữa mà cảm xúc tự trào ra, chân thật. Thấp thoáng một chút vui trong tập thơ này:

...An ủi ta em đến xôn xao

Kéo lại những tuổi hai mươi đã mất

Đời trẻ lại trào dâng tất bật

Vụng về như thuở hai mươi...

(Khúc lãng mạn cho tuổi hai mươi)

Yêu cuộc sống. Yêu cái hồn nhiên tuổi trẻ nhà thơ Vương Tâm đã tìm được giọng điệu và lối đi cho riêng mình, bởi nếu mất đi cái chất lãng mạn trẻ trung thì chắc cuộc đời vô vị lắm.

“Khúc lãng mạn cho tuổi hai mươi” là một tập thơ trữ tình, tự sự, giàu tâm trạng của nhà thơ Vương Tâm. Hy vọng anh sẽ phát triển tiếp một số chủ đề và mạch cảm xúc hiện có trong tập thơ này.n

5-8-2004

(Phụ bản thơ - Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
"Tấm ván phóng dao"- một sức sống của các giá trị nhân văn cổ điển

Văn Giá

Thú thật, đã lâu lâu tôi không đọc tiểu thuyết. Do bận cũng có, do lười cũng có. Tiểu thuyết là một loại “hàng nặng”, cần phải có tâm huyết, thời gian, sức khỏe, lại phải tương đối thư nhàn, không quá bấn bíu với miếng cơm manh áo... mới có thể đọc cho tử tế được. Mới đây, nhân đợt có công chuyện dài ngày ở mấy tỉnh miền Tây Nam Bộ, tôi được một người bạn là cô giáo dạy văn trường chuyên PTTH tặng cuốn tiểu thuyết Tấm ván phóng dao, kèm theo một lời khích lệ: “Cuốn này đọc được đấy!”. Ban đầu tôi chỉ nghĩ thôi thì ít nhất cũng có cái để đọc cho đỡ buồn lòng những đêm xa nhà. Nhưng thật bất ngờ, sau khoảng chừng mươi trang đầu, tôi bị cuốn hút ngay lập tức.

Những mảnh ký ức u buồn

Câu chuyện về cơ bản được trần thuật từ một nhân vật xưng “tôi”- người kể chuyện. Gọi là kể chuyện, nhưng câu chuyện không dựa trên một cốt truyện rõ ràng. Nếu bảo kể lại rất khó. Chỉ có thể đại loại thế này: Nhân vật ông Ba đứng ra kể về cuộc đời, số kiếp của ông cùng những người trong gia đình- một gánh xiếc rong hành nghề ở các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ những năm tạm chiếm. Trong chương trình biểu diễn của gánh xiếc này có một tiết mục được coi là hấp dẫn nhất, là linh hồn của các đêm diễn (nên cũng trở thành quan trọng nhất trong việc câu khách, bán vé, mưu sinh) - màn phóng dao của ba vai diễn: Tôi - người đứng sau tấm ván có nhiệm vụ giữ tấm ván cho vững, cô em gái còn nhỏ tuổi đứng áp lưng vào mặt trước của tấm ván, và người anh trai cả trong vai phóng dao cầm 12 lưỡi dao sáng loáng phóng trực diện lần lượt cắm xung quanh sát khuôn mặt người em gái. Sau nhiều đêm thành công, có một đêm, do người phóng dao bị phân tâm, cô em gái đã bị nạn. Cũng từ đêm kinh hoàng đó cô gái trở thành một phế nhân mang triệu chứng bệnh tâm thần, gánh xiếc cũng tan vỡ, gia đình ly tán, mỗi người một số phận đau buồn theo những cách khác nhau... Nhưng đây không phải là một truyện kể, mà là một tiểu thuyết, được viết bằng kỹ thuật, nghệ thuật của tiểu thuyết. Toàn bộ câu chuyện và các nhân vật tham gia vào câu chuyện được trình bày như một quá trình, sự sống cứ lần lượt mở ra sống động trong từng vi mạch. Hiệu quả là: Tác phẩm vần vụ những suy tư, chiêm nghiệm, day dứt, nghiền ngẫm về số kiếp con người. Tất cả đã hoà kết, cộng hưởng lại, tạo cho tác phẩm một ám ảnh, một ba động lớn.

Viết tiểu thuyết này, tác giả chọn cách thức trần thuật theo kiểu hồi ức. Từ thời gian hiện tại, nhân vật tôi- ông Ba nay đã già cả, độc thân, làm nghề bán dạo các con rối bằng vải tự làm- kể lại câu chuyện của những ngày cả gia đình hành nghề xiếc rong. Thỉnh thoảng ông đến thăm bà em (trước kia là cô đào đứng trước tấm ván) cũng đã già, sống độc thân, sau lần bị nạn có một bộ óc trẻ con và gần như đánh mất ý niệm về thời gian, cả hai cùng ngồi vẩn vơ lúc quên lúc nhớ chắp nối những mẩu quá khứ u buồn. Ông già đã để cho ký ức lúc chập chờn bảng lảng khói sương, lúc chói gắt dữ dội đi về xen ngang thì hiện tại. Chất liệu hồi ức được biểu đạt ở đây không hiện ra theo cách trình tự, mà được đảo lộn, xáo trộn; không nặng về kể tả, mà nặng về tâm trạng, suy tư, chiêm nghiệm, cật vấn. Đây là một dạng truyện viết theo cách của một hồi ức tự nghiệm. Tính chất cảm thương và u buồn bao trùm, đè nặng lên từng câu chữ.

Để đạt được hiệu quả này, về mặt kiến trúc, tác giả tiến hành phân mảnh, nghĩa là triển khai trần thuật theo cách liên tục các mảnh liền kề, không kết dính bề mặt có tính nhân quả, mà kết nối bề sâu có tính suy tưởng. Chúng là những mảnh sự kiện, mảnh suy tư, mảnh tâm tình, mảnh triết lý, mảnh hồi nhớ, mảnh hiện tại, mảnh giấc mơ, mảnh khung cảnh... được sắp đặt bên cạnh nhau và luân phiên theo cách không đều nhau trên bề mặt văn bản truyện. Thủ pháp phân mảnh ngày hôm nay dấn thêm một bước nữa: Đập vỡ các trường đoạn miêu tả cho nhỏ vụn hơn, linh hoạt hơn, sắp xếp phóng túng hơn, và sự miêu tả cũng giản lược hơn. Nó không có tham vọng dung chứa mọi thứ, “biết tuốt” mọi thứ như tiểu thuyết truyền thống – một cách tự sự tất dẫn tới dung lượng lớn, thậm chí đồ sộ, và kèm theo nó là sự nhiều lời. Nó hướng tới sự cô đúc, ít lời, sự tối giản. Chính thủ pháp phân mảnh này đã tạo ra nhiều khoảng trống trần thuật nhằm khơi gợi, kích thích sự tưởng tượng ở người đọc. Thủ pháp này phù hợp với một khuynh hướng tiểu thuyết mới xuất hiện gần đây được gọi là tiểu thuyết ngắn. Nó được Mạc Can sử dụng như một thủ pháp chính, quán xuyến từ đầu đến cuối rất linh hoạt và hiệu quả. Một ví dụ: Tuy câu chuyện chủ yếu được kể bởi nhân vật “tôi”- ông Ba với những mảnh vụn ký ức có vẻ như hỗn độn hiện về, nhưng có lúc nhân vật này lại được đẩy ra thành nhân vật ở ngôi thứ ba thể hiện bằng những mảnh vụn hiện tại, miêu tả hai anh em ông khi đã về già, sống trong cảnh tàn tật, cô độc. Nhân vật, nhờ vậy, lúc được nhìn cận cảnh, trực diện, lúc lại được đẩy ra xa trên một bối cảnh rộng của hồi ức có tính bao quát; lúc trí nhớ bám vào tình tiết, sự kiện, khi thì lại đào vào cõi suy tư, tâm trạng, cảm xúc. Nhịp điệu tự sự có khi nhanh chậm tuỳ chỗ, khi lướt qua, lược bỏ, khi dừng lại chậm rãi, kỹ lưỡng. Qua đó người đọc vẫn thấy được khá rõ đời sống nhân vật và bóng dáng thời cuộc trong các chiều kích cần thiết.

Một ý vị triết học cùng với chất thơ lan toả

Sự chuyển đổi linh hoạt trong cách thức trần thuật như đã nói ở trên góp phần đắc lực cho việc đào sâu vào cõi nội tâm nhân vật, gọi lên mặt giấy những vỉa tâm hồn sâu khuất, bí ẩn rất đỗi bất ngờ, lắm khi bất ngờ đến độ kinh ngạc. Cõi tâm hồn âm u, bí mật và vô cùng vô tận của con người đã được lật lên từng lớp. Hai tình thế kinh khủng của sự sống được nhà văn lựa chọn miêu tả: 1, Sự tuỳ thuộc lẫn nhau và rất mong manh của ba số phận trong màn phóng dao vô cùng nguy hiểm, bất trắc; 2, Cả ba số phận này trước sự cổ vũ vô tâm và cuồng nhiệt của khán giả hằng đêm diễn. Bao nhiêu suy tư đau đớn, rỉ máu bật lên từ những lần cô em thoát chết: Liệu đến lúc nào có sự phân tâm ở người phóng dao không? Tại sao thằng em và cô em lại thụ động và nhẫn nại tham dự vào cái trò diễn chết người này? Liệu có phải hiếu sát là một đặc tính phổ biến của giống người? Tình anh em máu mủ có ý nghĩa gì ở đây không? Có phải khán giả cũng có tâm lý hiếu sát? hay vô tâm? hay nông nổi, ngu muội, bầy đàn? hay cuộc sống không có niềm vui nào khác?... Vô vàn những câu hỏi cật vấn đắng đót, nhức nhối hiện lên. Con người phải trả lời cho được những câu hỏi này. Hoặc nếu không trả lời được thì bản thân nỗ lực trả lời, cái ý muốn cần phải trả lời đã là một cố gắng cảm động, tự nó có ý nghĩa hướng thiện. ý nghĩa đạo đức, nhân tính bật lên từ đó. Chúng mang giá trị cứu rỗi.

Đi theo con đường cật vấn, suy tư không khoan nhượng về sự sống trong các chiều kích của nó, tất yếu tác phẩm mang ý vị triết học. Chất triết lý có cơ hội bộc lộ. Không phải cứ ấn vào miệng nhân vật hoặc tuỳ tiện trữ tình ngoại đề hàng lô các câu triết lý mà có được tính triết lý. Nó toả ra từ những suy nghiệm đau buồn, từ cách nghĩ, cách tưởng tượng, từ những câu nói có vẻ ngẩn ngơ của người tàn tật tâm hồn, từ những dày vò, tra vấn đời sống một cách ráo riết, từ đáy sâu tinh thần nhân vật... Một ví dụ, nhân vật “tôi” nhớ lại cái đêm diễn mà đứa em gái bị trúng dao, lúc đang đứng sau tấm ván, trong tay anh ta cũng có một con dao tình cờ giắt sau tấm ván, anh ta tự nhiên nảy ra một ý muốn sát nhân, rồi nghĩ ngợi miên man: “Anh cứ thử cầm một con dao dọc giấy hay là dùng xẻ dưa, đừng dối mình rằng anh đã không giết chúng, có người đùa với nhau bằng vật bén nhọn sau đó giết chết người, cũng đừng nói là vô tình, lúc đó một thoáng anh có manh nha ý tưởng bạo hành, một phản xạ có điều kiện, liên tưởng nầy dẫn tới hình ảnh anh tôi với những lưỡi dao trên tay” (tr.147). Đọc tới đây khiến tôi liên tưởng tới Đốt của những kiệt tác Tội ác và trừng phạt, Anh em nhà Caramadôp... Sự phân tích tâm lý như trên và ở một vài chỗ khác nữa trong Tấm ván phóng dao đã ít nhiều mang phẩm tính của Đốt.

Một ký ức u buồn của một số kiếp u buồn (vừa dị tật vừa tàn tật cả thể chất lẫn tâm hồn) tất yếu đẻ ra những suy nghiệm có tính triết lý. ý vị triết học không thể được sinh ra từ sự hớn hở tự mãn hoặc từ những hứng khởi dễ dãi, nó chỉ có thể được sinh ra từ máu và những nỗi thống khổ của kiếp người. Tấm ván phóng dao chính là một thể nghiệm đau đớn như thế.

Cũng lại thấy có hai mạch trần thuật song song: mạch tự sự hướng tới các sự kiện, biến cố, tuy ít thôi nhưng lắm khi cũng khá dữ dội; và mạch biểu hiện trôi theo những xúc cảm tâm hồn thật u buồn và hư ảo của nhân vật. Hai mạch này đan trộn, hoà huyết trong nhau. Mạch thứ nhất phần nhiều trở thành nguyên cớ cho mạch thứ hai xuất lộ. Mạch thứ hai thăng hoa, trôi dạt, miên man. Đó là chất thơ của tiểu thuyết Tấm ván phóng dao. Những tưởng tượng, liên tưởng, những mộng mơ, xúc cảm của nhân vật trước mây trời sông nước phương Nam có mùa mưa sùng sũng, có những đêm trăng sao ẩm ướt con đường, có những miệt vườn, kênh rạch, tiếng xe thổ mộ nhẫn nại trong khuya... Những phận người muôn mặt với thổ âm, từ vị riêng, những tập tục sinh hoạt riêng. Tất cả đã làm nên một diễn ngôn mang đầy phong vị phương Nam, hồn riêng Nam Bộ. Âm vọng văn hoá truyền đời của thuỷ thổ mạch nguồn Nam Bộ bàng bạc, quyến luyến tấm lòng người đọc. “Những chuyến xe khởi hành trong đêm cô quạnh và lãng mạn, thường Phương ngồi trên mui xe, với chú Bê và tôi, xe lướt qua những cánh đồng, gió bật tung mái tóc của chị, chị có cái gáy thon và trắng ngần, sau đó gió dịu dàng trìu mến buông thả mái tóc Phương dài xuống lưng(...). Chúng tôi tới núi Ba Thê đứng nơi cửa sông, nhìn qua một cánh đồng ngút ngàn, tới vùng Năm Căn mà trước kia thời khai hoang chỉ có năm căn nhà, rồi ngược về Cái Nước, một chợ nhỏ hoang vu, lộng gió (tr.105-106). Những mẩu văn đằm thắm chất thơ như thế điểm xuyết suốt các trang hồi ức. Nhờ vậy, sự miêu tả về hiện thực của cuộc mưu sinh, của chiến tranh, của bạo lực... được làm dịu lại, đỡ bị chói gắt, nhường chỗ cho tâm trạng hiển hiện. Toàn bộ tiểu thuyết dịu dàng một chất thơ u buồn hướng về số kiếp tàn lụi của dăm bẩy phận người. Nên nó phả vào lòng ta một niềm thương cảm rưng rưng. Đọc tiểu thuyết của Mạc Can thấy thương vô kể!...

Sự trở lại của các giá trị nhân văn cổ điển

Tác phẩm kết thúc rất thê thảm. Hầu hết các nhân vật đi vào tàn lụi, hoặc tâm thần, cô độc, hoặc biệt vô tăm tích, hoặc tù tội, hoặc chết sớm. Tất cả đều bị những thế lực hữu hình vô hình nào đó tàn phá không thương tiếc. Lắm khi con người bị xoáy vào cơn lốc của sự Huỷ Diệt tàn bạo, tức đồng nghĩa với sự hoành hành của Thần Chết. Và khi đó, mỗi lúc lâm vào tâm trạng tuyệt vọng, những tưởng chết là một giải pháp tối ưu. Thế nhưng hoá ra không phải như vậy, cho dù sống một đời sống bi thảm nhất thì vẫn “không có gì sung sướng cho bằng khi được sống trên trần gian, dù cho có người đang sống từ bỏ nó, chết là một nỗi buồn nặng ký lắm” (tr.197). Nhân vật bà Tư về già (gọi là già nhưng cũng chỉ sấp tuổi quãng 40) sống ở một nơi gần bãi tha ma, toàn trò chuyện với người âm, một mình lủi thủi, không còn một ai thân thích, chỉ trừ ông Ba- ông anh thỉnh thoảng ghé thăm, với một chút xíu săn sóc vụng về. Cuộc sống tưởng như cận kề với cõi chết. Thế nhưng hai con người này vẫn không chấp nhận cái giá lạnh của tử thần, vẫn nương tựa vào nhau để sống, cả hai vẫn cố nhoi lên, vực mình lên về phía vầng sáng hoài niệm để sống. Trong những tia hồi quang quá khứ, đáng kể nhất vẫn là Phương, chị Phương, mối tình đầu tuyệt vọng và câm lặng của “tôi” thời trẻ. Phương là một vầng sáng thánh thiện nhất, thần tiên nhất giữa một đời sống ô hợp, đầy tính vụ lợi và bạo lực. Phương là một người duy nhất, ngược hẳn với đám đông, không thích màn phóng dao, lần nào cũng “không cầm nổi xúc động” mỗi khi chứng kiến. Bởi cô nhìn ba con người ấy không phải như những diễn viên, mà như những phận người. Nên cô mới thấy “chạnh lòng” trước “vẻ hốc hác đến tội nghiệp” của người phóng dao, mới cảm thấy “cô nhỏ” đứng trước tấm ván chắc là “hằng đêm cô khóc thầm” (tr.103-104)... Phương chính là hiện thân của đức từ tâm, lòng thương xót con người. Vâng, được sống khác hẳn với không được sống, tức đồng nghĩa với sự chết. Nhưng nó cũng khác với phải sống, hiểu như một thái độ chấp nhận, hoặc cao hơn, đương đầu với cuộc đời để khẳng định sự tồn tại của mình. Được sống hàm nghĩa một ân huệ. Phải là người đã trải qua những giây phút mong manh nhất của mạng sống, đã từng bị đem tính mạng của mình ra đùa cợt, thách đố Thần Chết hằng đêm, phải nghĩ ngợi nhiều lắm về cái chết như bà Tư mới có đủ thẩm quyền nói điều này. Được sống đã là hạnh phúc. Đây là một cấp độ tư tưởng của tác phẩm. Nhưng không dừng ở đó. Vẫn biết hướng về sự sống, khẳng định sự sống là một động lực lớn của nhân loại cắt nghĩa vì sao loài người vẫn bám chặt vào mặt đất này. Nhưng điều gì để cho con người muốn được sống? Có phải do sợ chết không, hay là lý do nào khác? Câu trả lời của tác phẩm chính là lòng biết thương người, là cái phẩm tính biết mủi lòng trước những khổ đau, rủi ro của con người. Như vậy, cho dù ngay trong những hoàn cảnh bi thảm nhất, con người vẫn tha thiết được sống trên cõi thế này chính là nhờ vào một niềm tin thiêng liêng và bất tử rằng tình thương nơi con người không bao giờ bị mất. Đây mới là chỗ đến cao nhất của tư tưởng tác phẩm, là cốt lõi của tư tưởng tác phẩm. Và là một thông điệp nhân văn sâu sắc mà tác phẩm muốn gửi đến người đọc hôm nay.

Tôi vẫn cứ nghĩ rằng cuộc sống càng tiến về phía hiện đại, mức sống ngày càng cao thì đáng buồn thay, chất lượng nhân văn của cuộc sống ngày càng suy giảm. Con người hôm nay trở nên thực dụng hơn, sòng phẳng hơn, thô bạo và lạnh lẽo hơn. Tình trạng vô cảm trước nỗi đau, nỗi thiệt thòi, mất mát của con người là có thật, và đã đến lúc trầm trọng. Cuốn sách này, bằng một cách tự nhiên nhất đã đánh thức trái tim người đọc lòng xót thương đối với những kiếp người bất hạnh. Đó là những ông Ba, bà Tư, ông Hai, những kép diễn như ông Trần, những Phương, Tùng, Điệp... Đặc biệt nhất là ông Ba (nhân vật chính) và bà Tư- những con người bị chính nghề nghiệp tàn phá (gánh nặng mưu sinh và thói vô tình của người đời). Hai con người ấy cả đời cố thu nhỏ mình lại đến mức không thể nhỏ hơn được nữa (hiểu theo nghĩa thân hình và cả với nghĩa tâm lý thúc thủ, sợ hãi), ấy thế mà vẫn bị thôn tính, tàn huỷ. Thế nhưng ở họ, tấm lòng biết quý giá sự sống, thương xót con người thì không gì có thể huỷ diệt được. Nó trường cửu. Nó cần có mặt trên mặt đất này. Nhờ có nó, cuộc đời sẽ bớt giá lạnh hơn, sẽ trở nên ấm áp hơn, đỡ cô độc hơn, con người tha thiết với sự sống hơn.

Tôi nghĩ rằng có những nhà tiểu thuyết cùng với sự đột phá liên tục của kỹ thuật tự sự, đã viết bằng sự phẫn nộ của một quả tim thông minh như Tạ Duy Anh, hoặc bằng một sự mơ mộng trí tuệ như Nguyễn Bình Phương... Nhưng cũng lại có cách viết với một sự giản dị thông suốt, trực diện, chân cảm như bút pháp Mạc Can, và cũng đã đạt được hiệu quả nghệ thuật không ngờ. Dường như anh không quan tâm lắm về kỹ thuật, ấy thế mà lại có kỹ thuật- thứ kỹ thuật do nội dung chín mà nó tự nứt, tự thúc ra, góp thành mầm sống nghệ thuật. Do vậy, tác phẩm này đã tụ được một vài hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng, gây ám ảnh và mang tính khái quát cao như cơn mưa, tấm ván, bàn tay vô thức luôn viết chữ, lưỡi câu, trò phóng dao... Và nhất là con cá (máu và mắt cá) trở đi trở lại với nhiều biểu hiện rất biến ảo thuộc về hình dáng và tính nết của nó. Hình ảnh sau cùng này gợi lên cả một miền suy tưởng sâu xa về cõi người. Một tác phẩm hay phải đạt được một vài biểu tượng nghệ thuật có khả năng phát sáng như thế.

Mạc Can đã tiếp nối thật tự nhiên và đầy trách nhiệm chủ nghĩa nhân đạo truyền thống của nền văn học Việt Nam: Trực tiếp hướng về số kiếp con người theo cách biểu hiện lòng xót thương đau đớn đối với con người (và cũng đã ít nhiều đặt ra yêu cầu hoàn thiện nhân cách con người) – những giá trị nhân văn cổ điển vĩnh hằng. Đó là mạch nguồn chảy mạnh mẽ trong lòng văn chương dân tộc đã có từ xa xưa, qua Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, qua Thạch Lam, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao và rất nhiều nhà nghệ sĩ tên tuổi khác. Trong một bối cảnh xã hội có nhiều rạn nứt và đổ vỡ như xã hội hiện đại hôm nay, chỉ có các giá trị nhân văn cổ điển mới có khả năng cứu vãn thế giới. Các giá trị nhân văn cổ điển lành tính sẽ xoa dịu, sẽ hàn rịt lại những tổn thương tinh thần to lớn của con người hiện đại. Tôi tin tưởng điều đó. Thành công của Tấm ván phóng dao chẳng phải là một minh chứng đầy sức thuyết phục đó sao! Tác phẩm làm ấm lòng những người kỳ vọng vào nền tiểu thuyết Việt Nam hôm nay.



(1) Tiểu thuyết của Mạc Can do Nxb Hội nhà văn ấn hành quý I năm 2004, 203 trang. Đây là tác phẩm nằm trong chương trình Dự thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam.



(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Lẳng lặng Tìm về để hỏi mình

Trịnh Thanh Sơn

Sáu năm trước, nhân gặp nhau ở Đại hội Hội Nhà văn Hà Nội, Nguyễn Hoà Bình đem tặng tôi tập thơ đầu tay của anh, có tên là Tìm về (Nxb Thanh niên ấn hành - 1998). Tôi đã đọc tập thơ ấy rất hào hứng và nói với Nguyễn Hoà Bình rằng: “Anh có phẩm chất thi sĩ. Nếu không quá bận vì những công việc khác, nếu còn yêu thơ, hãy làm thơ nữa đi!”. Nguyễn Hoà Bình chỉ tươi cười, nét cười khiêm tốn, không nói lại lời nào. Tính anh thế, cứ lẳng lặng thế, rất kiệm lời, nhất là những khi phải nói về mình. Ngày ấy, Bình đang là phó Thư ký toà soạn của báo Hà Nội Mới, tôi nghĩ, có thể do nghề nghiệp đã tạo nên một tính cách “lẳng lặng” thế!?

Vậy nhưng, đọc thơ Nguyễn Hoà Bình, tôi thấy anh không lặng lẽ như trong giao tiếp, mà nồng nàn, thiết tha và nhất là tinh tế, day dứt lắm! Chẳng hạn:

Nghe như gió khẽ thở dài/ Bóng trăng bịn rịn đưa ai sang cầu/ Phải ai đã nói một câu/ Xa rồi, liệu nhớ, mai sau lối về?

(Tìm về)

Người hỏi thì tỏ ra bâng quơ, vô tình thế, nhưng lời hỏi thì âm thầm đau buồn, xót xa bao nhiêu?! Bấy năm rụng mấy tóc thề! Lời xưa, bến cũ, tôi về tìm ai? Thơ ấy là thơ của người nghiêng về nội tâm, thơ ấy là thơ của một người cả nghĩ. Những người cả nghĩ thường hay tự day dứt, day dứt vì họ là người thuỷ chung! Nghiệm ra ở đời, những người cả nghĩ và thuỷ chung là những người khổ, những người “chập cheng”, những người “khư khư mình buộc lấy mình vào trong”, những kẻ thân làm tội đời! Thà cứ như loài gà quẹt mỏ còn hơn? Nhưng là nhà thơ, làm sao quẹt mỏ được? Bởi vậy, nhà thơ vẫn hoài niệm khôn nguôi:

Ngoảnh lại kìa, tóc đâu còn nữa còn xanh/ Phố đã khác, vị khói chiều cũng khác/ Chỉ hoa súng vẫn như ngày loạn lạc/ Nở tím lòng, thị xã của Em - Tôi! (Thị xã Em - Tôi)

Nguyễn Hoà Bình là một người thơ thành thực, thành thực đến mức không nói nổi một lời nói dối bao giờ. Anh sống cũng thành thực như anh viết, ngay cả những khi, nếu cần điêu ngoa một chút, có lẽ có lợi hơn? Nhưng không, không thể nói một lời điêu ngoa, vậy thì đành thành thực.

Chiều như thế, sao đành lìa bỏ được/ Say ngu ngơ tôi uống cả mắt mình/ Gió vẫn thổi tóc em đầy hương c/ Chẳng bao giờ, tôi lại hoá người dưng (Một chiều trong tôi)

Không hoá được người dưng, thì đành hoá thành người thực. Người thực còn khó, còn nhọc, còn vật vã hơn người dưng nhiều lắm. Hãy làm người thực một lần trong đời, một lần trong thơ rồi mới hiểu. Nguyễn Hoà Bình dường như là kẻ đã hiểu chuyện đời thực nó như thế nào. Vậy nên, trong một hoàn cảnh cụ thể của đời sống, anh đã viết những câu thơ thật giản dị mà nao lòng:

Nào gạo, nào tiền, nào củi/ Bộn bề những chuyện âu lo/ Cả khi ốm nằm chợt tủi/ Thương ai?… Biết đến bao giờ.

(Hình như)

Sau cuộc Tìm về đau đáu và buồn thương ấy. Nguyễn Hoà Bình tự hỏi mình bao nỗi nông sâu. Rằng, chuyện đời dâu bể thì vẫn thế, nhưng em có anh rồi, thì em hãy ngủ đi, yên tâm mà ngủ trong lời ru ngọt ngào:

Cái Ngủ ơi, ngủ cho ngoan/ Thôi, bao mất mát, lo toan… đừng buồn/ Ta thương, thương Cái Ngủ hơn/ Để ta gánh đỡ đoạn trường… Ngủ đi (Ru em)

Người có lời ru như thế, không thể là người vô cảm được. Bao nhiêu nỗi niềm nhân thế, bao nhiêu thế sự buồn đau, bao nhiêu thăng trầm biến cải, khi chứng kiến những chuyện “Vũng nên đồi”, người thơ bình tĩnh và hào hoa vẫn một lòng tin cậy:

Bây giờ, tóc chẳng còn xanh/ Bao nhiêu thương nhớ, có thành tương tư/ Bây giờ, còn có ai chờ/ Cho ai xin lỗi, bây giờ… còn ai? (Còn ai)

Thơ Nguyễn Hoà Bình thật dịu dàng, đăm đắm, nhất là những khi anh viết về mẹ, về vợ và về bạn bè, những bạn bè một thuở nào, nay không còn nữa. Thật cảm động khi nghe qua thơ anh một lời ru:

Thôi ngủ yên, bạn nhé, đừng buồn/ Căn nhà đất, mẹ mới vừa dựng lại/ Mảnh vườn nhỏ, giờ đã thơm hoa trái/ Mẹ cả đời, mãi thương út long đong/ Quảng Trị chiều nay, biển cũng nao lòng/ Nên nghiêng đổ, dâng phù sa ngập bãi/ Gió như thể cứ gọi hoài gọi mãi/ Những vong hồn con Việt lạc đâu xa?

(Ngủ yên bạn nhé)

Tôi đọc thơ Nguyễn Hoà Bình và cảm nhận được những nỗi niềm của một nhà thơ đa cảm, đa diện và đa phương. Chẳng hạn, khi lên thăm lại chiến trường Điện Biên năm xưa, anh có những câu thơ thật bịn rịn trước lúc chia tay:

Anh về nhé!/ Em nhớ lời dặn chứ/ Tháng ba ơi, Ban còn nở trắng rừng/ Dòng Nậm - Rốm đã xanh bờ ngô lúa/ Điện sáng Nà - Lơi, nghe mẹ mắt rưng rưng. (Về nhé Điện Biên)

Và đây nữa, một nỗi lòng với trung du:

Mưa dầy quá./ Vĩnh Yên, mờ trước mặt./ Hãy đừng đi. Thôi, ướt hết em rồi/ Tàu cọ nhỏ che đủ vừa vạt tóc/ Gần đấy mà, sao lại thật xa xôi. (Vĩnh Yên vẫn đợi)

Thơ ấy là thơ của một tấm lòng cả tin và cả nể. Người ấy là người mang số khổ, chỉ biết dâng tặng chứ không đòi đoạt. Dâng tặng tới mức không còn nghĩ gì đến bản thân, đau đáu trong anh là một trời hoài niệm:

Câu hát nào em hát đến mê say/ Để tôi được nhớ thương về nơi ấy/ Cho thành phố mỗi sớm mai thức dậy/ Mãi nhắc về một “Khuổi Nậm còn reo…” Lần theo câu hát)

Có thể thấy từ Tìm về đến Hỏi mình là một chặng đường thơ gần 10 năm của Nguyễn Hoà Bình, một chặng đường tuy chưa thật chuyên tâm, chuyên chú lắm, nhưng cũng đánh dấu một bước chuyển rất quan trọng, rất chất lượng trong thơ anh. Những gì mà Nguyễn Hoà Bình đã thể hiện qua thơ, đã tạo nên một ấn tượng, một nhịp điệu và một phong cách tâm hồn không dễ gì trộn lẫn.

Và như thế, Nguyễn Hoà Bình đã lặng lặng đi vào thế giới thi ca bằng dáng vẻ riêng của mình.

(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Đọc tiểu thuyết Giải hạn (*) của Trần Hiệp

Mạnh Lê

Thoáng nhìn trang bìa, bạn đọc ngỡ đây là cuốn sách viết về chống mê tín dị đoan. Đọc đoạn mở đầu, lại tưởng sách kể về chuyện vụ án. Đọc đến trang 343, trang cuối cùng của cuốn tiểu thuyết, bạn đọc mới ngộ ra rằng, tiểu thuyết Giải hạn không phải sách chống mê tín dị đoan, không phải sách kể chuyện vụ án mà là sách kể chuyện người chuyện đời ở một vùng quê.

Lý Quang Minh là một người lính từ chiến trường trở về. Cũng như bao cuộc đời khác, ông có một mái ấm gia đình nồng nàn hạnh phúc. Một người vợ hết mực thương yêu chồng con và hai đứa con ngoan một trai một gái. Điều hạnh phúc hơn nữa là ông có một quê hương để vì nó mà ông không quản gian lao vất vả, vì nó mà ông đã bộc lộ hết mình những phẩm chất cao quý của người lính, bộc lộ năng lực của người biết tổ chức quản lý sản xuất để rồi từ cương vị chủ nhiệm Hợp tác xã đến Bí thư Đảng uỷ xã, Lý Quang Minh đã đưa xã Đại Thanh từ một xã yếu kém tụt hậu trở thành xã điển hình tiên tiến về tổ chức sản xuất và các phong trào xã hội khác.

Lý Quang Minh cùng với gia đình bất ngờ bị đẩy vào tình thế bi kịch. Ông Minh bị giam lỏng một tháng ở huyện, bị xoá sổ mọi thành tích để nhận án kỷ luật 3 tháng tù treo. Bà Sang, vợ Minh bị điên dại, con trai ông vì không tin những điều kẻ xấu vu oan cho bố mình đã đâm bổ ra đường trong tâm thế bất an bị xe cán cụt chân. Gia đình ông cạn kiệt dần sinh lực sống tiều tuỵ âm thầm trong oan ức đắng cay…

Nguyên nhân nào đẩy cuộc đời Lý Quang Minh đến tình thế bi kịch? Những người hãm hại Lý Quang Minh đâu phải ai xa lạ mà chính là những người cùng công tác với ông, những đồng chí của ông. Một chủ tịch xã Lâm Trọng Thận, một phó bí thư huyện uỷ Mức, một chủ nhiệm hợp tác xã Lài, một phó chủ nhiệm phụ trách tài vụ Phú một lái xe Tác… với những mối lợi cá nhân họ sẵn sàng liên kết lại với nhau, dùng mọi thủ đoạn như chọc gậy bánh xe, đánh bùn sang ao, ném đá dấu tay, bốc lửa bỏ bàn tay… Mỗi cá nhân dựa vào sở trường hiện có của mình, kẻ tung dư luận, kẻ viết đơn tố cáo khiếu nại, kẻ lợi dụng đoàn kiểm tra, nhà báo và ngón đòn bí hiểm nhất là dùng áp lực quyền lực dựa vào những sơ hở của công tác tổ chức kỷ luật mà dồn Lý Quang Minh vào tình thế phải nhận án kỷ luật.

Bằng giọng văn trần thuật sinh động, gợi cảm với lối kể chuyện vừa kể vừa tả, nhà văn Trần Hiệp đã khéo léo dẫn dắt bạn đọc cuốn hút vào câu chuyện số phận cuộc đời bí thư đảng uỷ Lý Quang Minh. ở đây thủ pháp nghệ thuật kết hợp kể và tả để cho sự việc và con người cùng lúc hiện lên rõ nét. Sự việc làm cho câu chuyện có lý, con người làm cho câu chuyện có tình. Lý và tình là cơ sở cho một kết cấu, một giọng điệu thẩm mỹ mà hạt nhân của nó là chất tự sự và trữ tình bổ sung cho nhau, đan quyện vào nhau…

Bằng vốn hiểu biết phong phú hiện thực nông thôn cùng với khả năng nắm bắt và quan sát tinh tế, nhạy cảm, nhà văn Trần Hiệp đã tạo dựng một không khí cuộc sống sôi động căng thẳng mà vẫn dìu dịu ấm áp nét dân giã chân quê. Một cuộc tình tự dưới trăng, trên đồi ông Sấm, một đám giỗ để bàn chuyện giăng bẫy Lý Quang Minh một cuộc họp chi bộ Đảng, một cuộc biểu tình lên huyện, một cuộc ẩu đả ở lò gạch… Tất cả ngỡ là vụ việc nhưng cũng là cuộc sống sinh hoạt thường xảy ra ở làng quê. Sức hấp dẫn của tiểu thuyết Giải hạn chính là khả năng tổ chức sắp xếp các mối quan hệ sự việc, quan hệ nhân vật theo trình tự không gian thời gian một cách hợp lý để câu chuyện không sa vào những chi tiết vụn vặt vô bổ mà vẫn hút vào bi kịch cuộc đời Lý Quang Minh. Những nhân vật như Lý Quang Minh, như Lâm Quang Thận là những nhân vật đại diện cho ý tưởng thẩm mỹ của nhà văn. Có thể coi cuộc tranh chấp quyền lợi của bè lũ Lâm Quang Thận là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa cái tốt và cái xấu, cái cao thượng và cái đê tiện thấp hèn, cái thiện và cái ác. Trong cuộc chiến đấu đơn thương độc mã này, cái xấu, cái ác tạm thời thắng thế song mầm mống của cái tốt đã lặng lẽ xuất hiện và họ là chủ nhân của thế hệ mới. Đó là cô luật sư trẻ sắc sảo thông minh Lý Thị Vinh (con gái Lý Quang Minh), đó là Tâm, cán bộ công an nhiệt tình sôi nổi trung thực. Vinh và Tâm im lặng thu nhập đầy đủ các chứng từ tài liệu để minh oan cho bí thư Đảng uỷ Lý Quang Minh. Sự xuất hiện loại nhân vật như Vinh, Tâm là biểu hiện một cách nhìn, một kiến giải nghệ thuật của nhà văn Trần Hiệp. Phải chăng những loại án oan ức như của Lý Quang Minh không bao giờ được giải oan nếu xã hội không có những con người mang phẩm chất cao đẹp mới.

Dẫu chưa nhiều nhưng tiểu thuyết Giải hạn đã xuất hiện những chi tiết hiện thực mang màu sắc thẩm mỹ: cái chết của cụ Ngạn, một cây sồi của làng, một Đảng viên lâu năm đã đột ngột ra đi khi nghe tin Lý Quang Minh chịu án kỷ luật, giây phút hồi tâm của bí thư huyện uỷ Toàn, một ngày sống cuộc đời thường của bí thư Đảng uỷ Lý Quang Minh… Mặt khác nữa, tiểu thuyết này không đặt vấn đề tranh chấp quyền lực giữa các dòng họ mà cụ thể ở đây là dòng họ Lý và dòng họ Lâm song một số nhân vật vẫn nhân danh dòng họ mưu cầu những lợi ích cá nhân của mình. Cho nên, không khí tranh chấp quyền lực bên ngoài của các dòng họ vẫn tạo nên một không gian oi bức ngột ngạt tạo thế áp đảo để dồn Lý Quang Minh vào thân cô thế cô. Đối với thể loại tiểu thuyết tạo được không gian thẩm mỹ cho tác phẩm là yếu tố quan trọng thể hiện khả năng cảm hoá và tái tạo hiện thực của nhà văn. Tiểu thuyết Giải hạn phần nào đã thể hiện được điều đó.

Song, trong tác phẩm còn chen vào lời bình của nhân vật dẫn chuyện làm nhạt nhoà nét khắc chạm của bút pháp hiện thực. Một số quan hệ nhân vật hành động nhân vật tung ra ban đầu mà không được giải mã như quan hệ hẹn hò giữa Hận (con trai Thận) với Vinh. Hay cuộc ân ái vụng trộm bất đắc dĩ giữa vợ chủ nhiệm Thận với tay nhà báo Hoàng Lê. Một số nhân vật cần được khắc hoạ sâu về tâm lý nhân vật như nhân vật chủ nhiệm Lài, bà Vẻ vợ chủ nhiệm Thận.

Giải hạn là tiểu thuyết thứ tám của nhà văn Trần Hiệp. Từ một cuộc giằng giật quyền lực do hám danh, hám lợi ở một số cán bộ lãnh đạo ở nông thôn, nhà văn hướng cuộc đấu tranh vào sự khẳng định của những giá trị Chân Thiện Mỹ. Vậy nên, vụ án Lý Quang Minh dù chưa được xử lý, cái xấu, cái ác của các nhân vật gây án như Lâm Quang Thận, chủ nhiệm Lài, phó chủ nhiệm tài vụ Phú đã phải phơi bày ra trước ánh sáng. Một lần nữa, nhà văn Trần Hiệp thể hiện thế mạnh của bút pháp tả thực trong việc thể hiện những quan hệ ràng buộc giữa người với người trong một cơ chế tổ chức mà ở đó cái lợi, cái danh, cái xấu, cái ác vẫn đang là sức cản sự đi lên của cuộc sống đang ngày một đổi mới trên mọi miền đất nước hôm nay…n

Thành phố Thanh Hoá tháng 6-2004

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Thơ trữ tình Nguyễn Trọng Tạo(*) Bức tranh tình không năm tháng

Trịnh Thanh Sơn

“Ôi, có những câu hát ta biết bao giờ hát lại. Những tấm ảnh thời thanh xuân của em chẳng là những câu hát như vậy đó sao?”. Đó là những câu thơ của Nguyễn Trọng Tạo trong bài Những tấm ảnh thời thanh xuân mà mỗi lần đọc, tôi thấy như được trở lại thời thanh xuân của chính mình, và trở lại thời thanh xuân của một ai đấy nữa! Thanh xuân của tình yêu đầu đời! 54 bài thơ trong tập thơ nhỏ xinh và mỏng mảnh này là 54 trạng huống tình yêu, say đắm và buồn, buồn như một ngày xuân không còn hoa cúc, buồn như cây khóc lá, buồn như một đêm tỉnh giấc, ta chợt thấy nỗi buồn đang ngồi bên: Là khi tỉnh giấc trong đêm/ một mình ta thấy ngồi bên nỗi buồn… và một van nài lạ lùng, hi hữu:

Buồn ơi, Buồn có thương tôi.

Đừng làm tôi phải mồ côi Nỗi Buồn.

(Xon nê Buồn)

Cách nói, cách cảm và cách thơ ấy chỉ riêng Nguyễn Trọng Tạo mới có. Ngoa ngôn chăng, thậm xưng chăng, phách lối chăng? Ai nghĩ gì thì nghĩ, nhưng Tạo không thể sống nổi nếu không có một Nỗi Buồn cặp kè bên cạnh: Buồn đừng đi, Buồn đừng tan/ mất Buồn còn lại tro tàn mà thôi! Trong con mắt nhà phê bình Trần Mạnh Hảo thì thế nào Nguyễn Trọng Tạo cũng sẽ biến thành một nhà “Buồn học”, nhưng nếu thay nỗi buồn kia thành niềm vui chẳng hạn, thì cơ sự sẽ ra sao? Chẳng lẽ lại phải đọc là: Vui đừng đi, vui đừng tan/ mất vui còn lại tro tàn mà thôi! Vô duyên biết mấy, nông nổi và hạn hẹp vô cùng!

Hình như, với Nguyễn Trọng Tạo, tình yêu là cặp song sinh với Nỗi Buồn. Cả tập thơ với 54 bài này, tôi không bắt gặp Tạo cười hơ hớ lần nào, chỉ thấy anh đã buồn và sẽ lại buồn hơn, ngay cả trong một ngày vui là ngày có Quà sinh nhật:

hai mươi bài hát vui

hát tặng một nỗi buồn

hai mươi bài hát buồn

hát tặng nỗi buồn hơn…

Ngay cả một ngày vui là trong tiệc cưới của Em: Nếu ngày mai khi tiệc cưới của em/ bạn bè đến nói cười và chúc tụng/ xin em hãy coi tôi như bè bạn/ và xin đừng dù khẽ gọi tên tôi… giọng điệu bài thơ này phảng phất chất giọng Nguyên Sa một thời xa lắm, nhưng nó hiện đại hơn vì không sướt mướt và quá bi lụy, nó ở một chiều kích khác của tâm thức,

tôi còn đi. Mưa gió. Đường dài

trái tim phải lội qua bao thác lũ

dẫu gió lạnh thổi mãi con chim nhỏ

em đừng buồn - trời rộng phía

yêu thương…

(Nếu ngày mai).

Nỗi buồn trong tình yêu của Nguyễn Trọng Tạo đã được nâng lên thành một triết lý hoặc là một định đề - bất di bất dịch. Nhiều khi nỗi buồn của anh lại khiến cho người đọc phải bật cười, cười trong cay đắng và như thế còn hơn cả nỗi đau thương.

hoa đã tặng. Người đã không còn nữa.

em đã yêu. Em đã bỏ tôi đi

sẽ dở hơi nếu là tôi đứng khóc

nhưng cười vui thì tôi sẽ còn gì?

Nói tập thơ trữ tình của Nguyễn TrọngTạo là thơ tình yêu thì đúng rồi, nhưng hình như chưa đủ, chưa thoả đáng, chưa thấu suốt cái nội hàm của nó. Thơ tình của Tạo chứa cả một trời thế sự, một biển tâm linh, thăm thẳm linh hồn người. Không có tình yêu con người, tình sự sống, tình yêu hoa cỏ, gái trai, sẽ không viết được những câu thơ đau xót như thế này, và cũng hài hước như thế này: Anh làm vua không ngai, em vẫn là hoàng hậu/ chàng hoàng tử khóc nhè, nàng công chúa hờn dai/ chợt thương quan không dân/ chợt thương ngai không chủ/ thương những đời người chung thân/ trong áo mão cân đai… (Cổ tích thơ tình).

Và rồi đây nữa:

Chặt cây mà bắc cầu sang

Không em, anh sống lang thang hai lần

Ước chi em giận một tuần

Em xa vài tháng, em gần… cả năm.

(An ủi)

Phẩm chất cốt lõi trong thơ tình Nguyễn Trọng Tạo trở thành bức thôngđiệp gửi tới người đọc là tình yêu, yêu đến hết mình, đến tan xác, đến rỗng không, đến không còn hồn vía:

Chia cho em một đời tôi

một cay đắng

một niềm vui

một buồn

tôi còn cái xác không hồn

cái chai không rượu tôi còn vỏ chai.

(Chia)

Người biết yêu đến tận cùng thì cũng biết hiến dâng đến tận đáy. Nhiều khi nhà thơ tự ví mình như bông hoa ly vàng, nhỏ tí xíu, khuất lấp trong muôn ngàn loài hoa rực rỡ, khiêm nhường và cao thượng: Dẫu nhỏ nhoi tôi có một cái tên/ khi ngập nước và khi thì ngập nắng/ hoa li vàng mùa hạ chính là tôi… và một niềm run rẩy rất đỗi dịu dàng, mong manh và thủy chung biết bao:

Biển đầy vơi thương nhớ, biển xanh ơi

Thân thể ai hồng hào pha ngọn sóng

Da thịt người chạm vào tôi nóng bỏng

Rồi có thể người quên

Còn tôi mãi giữ gìn…

(Hoa li vàng)

Càng đi sâu vào mê cung thơ tình Nguyễn Trọng Tạo, người đọc càng khám phá thêm những miền tâm trạng mới, đặng làm phong phú thêm, chất lượng tâm hồn người. Cái mà nhà thơ tưởng mất lại là phù sa bồi đắp cho tâm tưởng ta thêm phì nhiêu, và đó chính là cái mà ta được:

tôi về khép lại căn phòng

thấy trong lồng ngực như không có gì

trái tim đã bỏ tôi đi

ai mà nhặt được gửi về giùm tôi.

(Gửi)

ở đây chỉ là cách nói, cách diễn đạt bằng thơ những điều khó nói. Tuy nhiên một nhà thơ thực sự tài năng không nhờ vào cách nói, phải có một nội lực cường tráng để có gì mà nói! Với nhà thơ “trữ lượng tâm hồn” là điều cần thiết hơn cả, cái mỏ ấy hệt như một mỏ dầu, càng khai thác, càng phát sáng. Và tôi không nghi ngờ Tạo là một mỏ dầu có trữ lượng cao, anh đã từng làm cháy, thậm chí thiêu đốt bao tâm hồn yêu và đang yêu:

cho thơ tôi được nói lời

tình-yêu-tôi, gửi tới người-tôi-yêu.

bởi tôi tin những sớm chiều

người không quen… sống rất nhiều

cho tôi.

(Thơ gửi người không quen)

Đọc Thơ trữ tình của Nguyễn Trọng Tạo, bạn đọc sẽ không muốn ngồi trong nhà nhìn ra mưa nữa, mà bạn sẽ… nhảy ra đường. Ra đường để làm gì thì chưa biết, nhưng cứ phải ra đường, để có thể đắng cay nhặt lại được một “nỗi buồn” nào đó, đau xót và quyết liệt vô cùng:

một ngày người bán rẻ ta

ta thành đồ vật giữa nhà người dưng

một ngày người đến rưng rưng

mua gì vô giá? xin đừng mua ta

(Nỗi buồn kiêu)

Yêu và buồn là cặp trẻ song sinh, Nguyễn Trọng Tạo đã minh chứng cho điều ấy.

Ai từng quen biết Nguyễn Trọng Tạo, chỉ ngồi với anh một buổi chiều thôi, uống rượu và nghe anh hát Làng quan họ quê tôi hay Khúc hát sông quê… sẽ cảm nhận rằng, Tạo là người vô tư lắm, hồn nhiên và sung mãn lắm! Không, không phải vậy đâu, Nguyễn Trọng Tạo vốn là người cả nghĩ, đến nỗi: Người đẹp nhìn tôi trên đường/ về đêm tôi cảm thấy buồn…, đến nỗi nhìn ai cũng ngỡ là mình thuở ấy, thuở xa xôi nào:

có ai ngồi xuống chỗ chúng mình kia

chàng trai ấy cùng với cô gái ấy

cô gái đẹp sao giống em đến vậy

và chàng trai run rẩy giống anh sao

cỏ biếc xanh như cỏ đêm nào…

(Cỏ xanh đêm trước)

Trong tập thơ này của Nguyễn Trọng Tạo, tôi đặc biệt yêu thích bài Thơ tình người đứng tuổi. Có cảm giác rằng anh viết cho tôi, và viết riêng cho một người nào đấy nữa, một người nào trong vô vàn chúng ta:

bây giờ cao bổng vòm cây

dòng sông trôi đã vơi đầy tháng năm

áo tôi đạn xé bao lần

tóc người hao mấy mùa xuân đợi chờ

(Thơ tình người đứng tuổi)

Con người ngỡ là từng trải, từng trải qua chiến trường, qua cả “tình trường” mà không hề chai sạn, cứ run rẩy như thuở mới vào đời, như một khúc mộng mơ, như một kẻ mắc nợ. Nợ cái gì thì chưa biết, nhưng Tạo là con nợ của trăm năm:

tôi còn mắc nợ áo dài

một làn gió trắng một bài thơ hay

tôi còn mắc nợ mi mày

một con thuyền lá xanh đầy mắt nai

(Tôi còn mắc nợ áo dài)

Trắng nợ như thế thì sẽ còn nợ tiếp, nợ chung thân, nợ tử hình! Tử hình rồi còn chưa hết nợ: “Có lúc ngôn từ biệt tích/ đam mê trơ đá gan lỳ/ em mèo ơi đừng đến nữa/ sợ em dựng dậy tử thi!… (Chiêm cảm). Và đến nông nỗi ấy thì phải giấu biệt mình đi, lặn một hơi để không ai tìm thấy nữa:

có một chàng đơn độc

bước trên đường Không Tên

có một nàng Hạnh Phúc

ở số nhà Lãng Quên…

(Nỗi nhớ không tên)

Nguyễn Trọng Tạo đã tự mình làm ra một đường phố, một số nhà cho riêng mình, đấy là số nhà Lãng Quên trên đường Không Tên vậy! Có tin được không? “Tin thì tin không tin thì thôi”. Và tôi gọi tập thơ trữ tình của Nguyễn Trọng Tạo là Bức tranh tình không năm tháng!n

Hà Nội, tháng 4 năm 2004



(*) NXB Hội Nhà văn - Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, ấn hành –2004

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Thơ Wislawa Szymborska (Ba Lan) qua bản dịch của Tạ Minh Châu

Nguyễn Hoàng Sơn

Liên tiếp mấy năm trở lại đây, giải Nobel văn học được trao cho các nhà viết văn xuôi: Coetzee (Nam Phi), Gunter Grass (Đức), Cao Hành Kiện (Pháp gốc Trung Quốc), Fo (Italia)... Gần như ngay sau khi tên tuổi của họ được tôn vinh tại Xtockhôm, người yêu văn chương Việt Nam đã có thể tìm đọc một vài tác phẩm tiêu biểu qua bản dịch. Điều đó chứng tỏ sự nhanh nhạy của các nhà làm sách thị trường và khả năng bao quát của các dịch giả VN, cộng thêm một chút liều lĩnh có giới hạn khi chúng ta chưa thực sự tham gia công ước về quyền tác giả? Các nhà thơ đoạt giải Nobel và những người hâm mộ họ ở Việt Nam dường như kém may mắn hơn? Những Gabriel Mistral (Chi Lê), Brodski (Mỹ gốc Nga), Seamus Heaney (Ailen), Eliot ( Anh), Octavio Paz (Mehicô)... gần như còn... vô danh với đại đa số công chúng nước ta? Chỉ một so sánh nhỏ ấy cũng cho thấy khó khăn to lớn, đôi khi là không thể vượt qua của các dịch giả dù là đầy tài năng, uyên thâm về ngoại ngữ nhưng với thơ cũng đành... kính nhi viễn chi mà thôi! Riêng nữ thi sĩ Ba Lan Wislawa Szymborska là một ngoại lệ: tháng 12 năm 1996, bà được tặng giải Nobel thì tháng 7 năm 1997, một tuyển thơ dịch dày dặn hơn 200 trang với 75 bài đã được dịch giả - nhà thơ Tạ Minh Châu công bố tại Hà Nội. Đây là một cố gắng đáng ghi nhận của người dịch, một may mắn cho người yêu thơ. Tạ Minh Châu từng học tập tại trường Đại học Tổng hợp Vacsava, có học vị tiến sĩ khoa học xã hội, nhiều năm làm công tác đối ngoại, hiểu biết của ông về ngôn ngữ và văn hoá Ba Lan không có gì phải nghi ngờ. Điều đáng nói hơn là chất thơ của bản tiếng Việt. Tạ Minh Châu trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt nam với tư cách một dịch giả nhưng ông cũng là tác giả tập thơ “Đi ngược hoàng hôn” (1994) với những bài thơ giàu cảm xúc. “Tạng” thơ của Tạ Minh Châu có vẻ không cùng tần số với thơ Szymborska? Chính ông đã thú nhận “Dịch thơ Wislawa Szymborska là một công việc vô cùng gian khó”. Khó, nhưng không thể không làm, ông khiêm tốn nhưng tự tin “Chúng tôi đã hết sức cố gắng để bản dịch thơ Wislawa Szymborska gần nguyên bản nhất cả về ý tưởng và phong cách”. Thơ Szymborska khó dịch, cũng không dễ đọc. Nhưng nếu đọc kĩ, đọc hết, người yêu thơ, nhất là người làm thơ sẽ có được những điều thu lượm thật thú vị và bổ ích. Tôi hình dung Szymborska là một người đàn bà cao tuổi nhưng còn rất tinh anh, đã có một thời xuân sắc, thông minh, hóm hỉnh nhưng độ lượng, khoan dung. Bà nói về công việc làm thơ với một sự giễu cợt vừa đủ “Công việc của họ không ăn ảnh một cách tuyệt vọng. Một người ngồi bên bàn hoặc nằm trên đi văng, mắt dán vào tường hoặc trần nhà, thi thoảng viết dăm bảy dòng rồi sau mười lăm phút lại gạch xoá đi và hàng giờ lại trôi qua mà chẳng viết được gì... Liệu có khán giả nào chịu được cảnh ấy không?” Rất nhiều bài thơ của bà cũng có cái giọng diễu cợt rất mức độ ấy, thường là tự diễu cợt, hơi buồn nhưng không bi luỵ. Cuộc đời trôi qua không trở lại, điều này người ta đã nói từ hàng ngàn năm trước, nhưng Szymborska vẫn có cách nói riêng:
Không có gì xảy ra hai lần

và sẽ không bao giờ có cả

vì thế mà chúng ta

đã sinh ra như những kẻ vụng về

và sẽ chết như chưa hề nếm trải

Heraclitus đã nói: không ai có thể tắm hai lần trong một dòng sông. Nhưng có nên buồn vì điều ấy không? Nữ thi sĩ trả lời: không. “Ngươi đang tồn tại ư - vậy là ngươi sẽ phải trôi qua/ ngươi đang trôi qua - đó là điều tuyệt diệu.” ám ảnh về thời gian theo đuổi nhà thơ. Mỗi giây sống của bà là đấu tranh với sự trôi chảy ấy. Trong viện bảo tàng, bà nhìn rõ kết cục: “Bàn tay đã thua chiếc găng tay/ Chiếc giày chân phải đã thắng bàn chân phải”. Nhưng biết mà không bi luỵ, buông xuôi “Còn tôi/xin hãy tin là tôi đang sống/ Cuộc chạy đua giữa tôi với chiếc áo dài/vẫn đang còn sôi động? Ôi, nó mới bướng bỉnh làm sao?/ Tựa như muốn mình bách niên tồn tại!”. Có vẻ như nhà thơ tinh quái nháy mắt, giơ nắm đấm doạ chiếc áo dài: hãy đợi đấy! Biết rõ cuộc đời ngắn ngủi “ngắn ngủi đến nực cười” và đầy bất trắc, không phải để ngồi than thở mà để thêm yêu, thêm quý mỗi ngày mình được sống. Một ngày chủ nhật thông thường cũng là một phần thưởng lớn lao, nhà thơ đặt tay lên ngực “Cám ơn em trái tim ta/ Bởi ta lại một lần tỉnh giấc”. Trân trọng, nâng niu sự sống, thi sĩ đau đớn khi sự sống bị săn đuổi, bị triệt hạ. Với con người, thật sỉ nhục là những đòn tra khảo, như trong các nhà tù của Mỹ trên đất Iraq bị dư luận lên án mới đây “Đã chẳng có gì đổi thay/ Thể xác luôn đớn đau/ phải thở, phải ăn, phải ngủ/ làn da thì mỏng và dưới da là máu/ thể xác có nhiều răng, móng tay/ xương dễ gãy, khớp thường hay dãn./ Tất cả những điều này/ đều được lưu tâm trong những đòn tra khảo”! Với thiên nhiên, sự vô cảm đang huỷ hoại thế giới đa dạng “Một con cánh cam chết nằm trên đường qua cánh đồng/ Ba đôi chân cẩn thận gập vào trong bụng/ Thay vì sự lộn xộn của cái chết là sự ngăn nắp chỉnh tề/ Sự khủng khiếp của cảnh quan vừa phải/ Phạm vi cục bộ xít xao/ từ bụi cỏ tới cây bạc hà/ Nỗi buồn không lan ra/ Bầu trời xanh ngắt./ Đối với sự bình yên của chúng ta/ cái chết hình như hời hợt/ những con vật không chết mà chỉ là tắt thở/ mất đi một chút cảm giác, một chút thế gian/ chúng ta muốn tin vào điều đó”. Sâu thẳm trong tâm trí, Szymborska muốn thiết lập một sự bình đẳng giữa muôn loài, cả sinh thể và vật thể. Ai dám nói một cành cây gãy không đau, một tảng đá không có khát vọng? Các sự kiện cũng vậy, không sự kiện nào quan trọng hơn sự kiện nào “Rất hay là tôi đang ở đây và đang nhìn ngắm/ Phía trên tôi là một con bướm trắng/ đang dang cánh lượn lờ trên không/ bằng đôi cánh của mình/ bóng bướm lướt qua bàn tay tôi/ không phải bóng của ai/ mà chỉ là bóng bướm// Nhìn cảnh này tôi luôn không còn tin/ rằng những gì quan trọng/ lại quan trọng hơn những điều không quan trọng.” Cái giọng gàn gàn này có hơi hướng á đông? Với nữ sĩ, điều kì diệu và trọng đại có ở khắp nơi, chẳng hạn “đó là cây bạch dương soi mình dưới nước/ lộn trái sang phải/ lộn ngọn xuống gốc/ rễ không cắm được vào đáy nước/ cho dù nước nông”. Đọc những câu thơ đơn giản, những “phát hiện” tí xíu tưởng chừng ai cũng biết này, tôi tự hỏi: phải chăng nghệ sĩ là người đi trên đời để nhặt nhạnh những cái bé nhỏ, bị người đời bỏ qua như cái bóng cây bạch dương kia? Nó vô nghĩa ư, vậy thì cái gì là không vô nghĩa? Trong sự khiêm tốn thường trực của Szymborska có sự kiêu hãnh bướng bỉnh. Bài thơ “Nấm mộ” như bài văn bia tác giả tự đề cho mình “Nằm ở đây là tác giả của một vài bài thơ/ cổ xưa như dấu phẩy/.../ Nhưng trên nấm mộ kia/ cũng chẳng có gì hơn/ một bài thơ/ một con cú mèo/ và một loài hoa dại/ Hỡi khách vãng lai / hãy rút trong cặp ra/ bộ óc điện tử được coi là vô cùng hiện đại/ và hãy suy ngẫm lại/ một giây về phận đời Szymborska”. Khó có thể điểm hết những câu thơ tinh tế, những tứ thơ sâu sắc trong tập thơ dịch này. Szymborska là mẫu nhà thơ chuyên nghiệp điển hình, với “nghề thơ” thật cao cường. Không có sự “ăn sẵn” từ đề tài, cảnh quan hay vần điệu truyền thống. Tất cả đều phải thông qua sự tái tạo, nhào nặn rồi đóng lên dấu ấn riêng của nhà thơ. Có được dấu ấn ấy là tài năng của nhà thơ, truyền được dấu ấn ấy đến với người đọc Việt Nam là công lao của dịch giả. Ba Lan là một ngôn ngữ không lớn, chỉ có khoảng dăm chục triệu người sử dụng nhưng đã có ba nhà văn, nhà thơ đoạt giải Nobel. Từ lâu văn học Ba Lan đã không xa lạ với bạn đọc Việt Nam chính là nhờ lao động miệt mài của các thế hệ dịch giả: Nguyễn Hữu Dũng, Tạ Minh Châu, Lê Bá Thự, Nguyễn Chí Thuật, Thanh Thư... Tập tuyển thơ Szymborska do Tạ Minh Châu dịch đã bổ sung kịp thời vào “tủ thơ Nobel” bằng tiếng Việt vốn chưa phải là phong phú lắm và còn hiếm những cuốn đứng được với thời gian như Thơ R. Tagore, Thơ P. Neruda (do Đào Xuân Quý, Xuân Diệu... dịch)...

Mỗi nhà thơ thực sự lớn đều không che lấp đường của người đi sau. Đây là những lời kết thúc diễn từ Nobel của Wislawa Szymborska “ Vâng, đúng là trong ngôn ngữ thường ngày, khi người ta không cân nhắc kĩ từng từ một, tất cả chúng ta đều dùng khái niệm “một thế giới bình thường”, “một cuộc sống bình thường”; “một công việc gì đó bình thường”... nhưng trong ngôn ngữ của thi ca, nơi mỗi một từ đều vô cùng quan trọng thì chẳng có gì là bình thường nữa cả. Một viên đá, một đám mây, một ngày và nhất là sự sống của ai đó trên thế gian này. Và có lẽ các nhà thơ sẽ còn luôn bộn bề công việc.” Từ sự nghiệp của Szymborska, có thể thấy thơ và “công việc” của nhà thơ quan trọng biết bao!

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Cuốn sách thao thức hồn quê

Xuân Cang

Tên sách thì rất ngọt ngào, còn gì ngọt ngào hơn mía? Nhưng ngay từ những dòng đầu, trang đầu, cuốn tiểu thuyết đã cho thấy đây là câu chuyện cay đắng về một vùng quê, về những con người trong trầm luân bể khổ trên một dòng sông tấp nập thuyền bè, đầy ắp tiếng cười trẻ nhỏ, với những trò chơi trong gió sóng, dưới trăng vàng, một bãi mía ngút màu xanh, thơm mùi đường mật. Một cái nhìn xuyên suốt về một vùng quê của một nền văn minh lúa nước chuyên làm nghề trồng mía kéo đường, qua không gian và thời gian lịch sử đầy biến động. Nhưng ở đây Đào Thắng không miêu tả lịch sử bão táp đã đi qua vùng quê này như thế nào, mà là những cuộc đời, những hồn người, những thân phận nổi nênh chìm đắm, trong biến thiên của trời đất và con người. Cuộc biến đổi dâu bể đã tạo ra một vụng sâu nhiều sải nước bên bờ sông Châu và lạc vào đây đôi cá chép lớn hoá thần. Một bãi mía mênh mông và những lò mía gia truyền. Những người trồng mía, thợ thủ công, dân chài, bộ đội; ông chủ và người làm ăn, bà mụ đỡ đẻ và đứa con hoang, người dâu thảo hiền và những anh em khác giống; cái cao cả và cái thấp hèn, tục tĩu mông muội và thánh thiện, hiền lương và tàn bạo, tất cả nhào trộn đan chen, tạo nên những cảnh trớ trêu và hoang dã, hạnh phúc trần gian và thảm kịch nối tiếp nhau đi suốt cuốn truyện. Rất khó kể lại thành một cốt chuyện có tích có miếng, nhưng đọc thì rất lôi cuốn. Mạch chuyện rất rõ ràng, đơn giản nhưng bạn đọc không biết cái gì sẽ xảy ra.
Điều trớ trêu là nhân vật đi suốt cuốn truyện tác động đến hầu hết các nhân vật còn lại là Lẹp, thằng Lẹp, lão Lẹp, một con người dị tướng, đầu trọc lốc, hai mỏm tay cụt, đôi mắt cá lẹp, một to một bé, thân hình vạm vỡ, trần trụi, mặc cái quần vá chằng vá đụp đầy rận, trong đầu không một nửa hột chữ, ăn nói tục tĩu, tính tình của kẻ thấp hèn, đầy ham muốn bản năng, tối tăm, tàn bạo. Chính Lẹp đã chiếm được cô Bé trinh trắng, xinh đẹp nhất vùng ngay trong đêm Lẹp được Bé cứu khỏi chết đuối dưới vụng Diễm có đôi cá thần, để rồi sau đó Bé bỏ làng phiêu lưu lên phố Bắc trên biên giới. Chính Lẹp đã vừa hiếp người chị dưới đò vừa dùng hai tay cụt kẹp cổ làm chết chú bé em ruột của cô gái ấy. Lẹp là biểu tượng của cái ác, tận dụng những cơ hội để ngày càng ác thêm, càng rơi vào số phận nghiệt ngã thì càng thêm ác nghiệt, cái ác của sự ngu muội, hoang dã giữa một thiên nhiên sông nước ngọt ngào, bờ xôi ruộng mật và những con người tầng tầng lớp lớp khác nhau nhưng cái chung vẫn là hướng thiện. Cái ác ấy bắt đầu từ một hoàn cảnh đáng thương: Chú bé Lẹp bị tai nạn lao động và bị hắt hủi. Điều đáng nói là cái ác ấy cứ tự nhiên tồn tại, song hành với cái thiện, không bị trừ diệt hoặc loại trừ, trái lại nó còn tìm được dịp lộng hành ở một vùng quê đầy những truyền thuyết, tích truyện dân gian thánh thiện. Đã có một lần trong tiểu thuyết cái ác muốn “hóa thiện”. Đó là ông Chép, chồng bà mụ Mến. Ông quyết ra tay bắt con cá thần, ông gọi là cá trâu. Nhưng ông bị chính cá thần quật chết. Phút hấp hối, ông nói với bà Mến: “Mình ơi, tôi không sống được. Tôi ngông cuồng giết hại sinh linh, tàn phá sinh linh muốn sống hiền hòa với mình. Giờ nghĩ lại, muộn quá rồi”. “Không phải cái gì cũng phá được, giống gì cũng giết được. Giết hết thì mình sống với ai. Phá hết thì mình ở chỗ nào.” (tr. 62). Nhưng với Lẹp thì không. Cái ác tiêu biểu để lại dấu ấn trong lòng người đọc là ở cuối cuốn tiểu thuyết: Bà cả Thuần nổi tiếng là hiền thảo, trong phút phẫn chí và oan trái đã trẫm mình trên sông, bà con bảo nhau vớt lên, nhưng lão Lẹp trong vai an ninh xã cương quyết không cho vớt, bảo là giữ nguyên hiện trường đợi công an về làm biên bản (nhưng không có công an nào quy định thế trên “hiện trường” sông nước). Lẹp ác thế, nhưng đọc suốt cuốn truyện, ta không thấy người dân quê (và tác giả) dùng một biểu tượng nào có sẵn trong văn học như ma quỷ, yêu tinh, phù thủy... để gọi tên hoặc ví von. Đào Thắng muốn rằng cái ác ấy tên là Lẹp, vậy mà thôi. Như đã từng có một chị Dậu, một Chí Phèo trong văn chương.

Nhưng cái dấu ấn Đào Thắng trong cuốn tiểu thuyết này không phải chỉ là hình tượng ấy. Mà là cái hồn quê thao thức trong mỗi trang văn. Cái hồn của một vùng lò mía với những dân “nhà chè” (người làm công) những đàn trâu kéo mía, với mật, đường, những núi bã mía, núi rơm, cây le, cây gạo gù và dòng sông Châu trên bến dưới thuyền, có vụng Diễm với đôi cá trâu hóa thần, cùng vùng bãi mênh mông hình thành sau một cơn lũ có xoáy nước lớn, với những cây nước vòi rồng từ trời đổ xuống, và tổ tiên những người dân ở đây đã biến thành vùng mía, một vùng mía không chỉ có ngọt ngào, mà còn có muôn vàn đắng cay, vật vã. Cái hồn quê với trò chơi đuổi bắt dưới sông của trẻ con gọi là trò “xin muối”: “Xin muối. Muối ăn gì? Ăn dưa. Dưa nhà ai? Dưa ăn trộm. Trộm nhà ai? Trộm nhà mày!” (trang 13 - sách trên). Cái hồn quê với hòm đồ nghề của bà mụ Mến đã từng đỡ đẻ cho khắp mặt bọn trẻ trong làng. Hòm đồ nghề mà mỗi khi mở ra “trước mắt bà mụ hiện lên những khuôn mặt người đàn bà vượt cạn đầy đau đớn”, “nỗi đau sinh thành phải chịu, cần vượt qua thì nòi giống mới được duy trì”. “Bà nhặt ra những thanh cật nứa già, có phủ muối rang với gừng thái lát, rồi quấn lại bằng giấy bản. Bà mụ mở tiếp những gói lá phơi khô, lá ngải cứu, cây cỏ sữa, cây nhọ nồi dùng cầm máu, những vị đặc trị dùng cho người mẹ, còn lá hương nhu, kinh giới, kim ngân hoa, lá sả để tắm cho trẻ mới chào đời. ở một góc hòm còn có một bọc dùng để bồi bổ âm lực, khí huyết bị thuyên giảm sau sinh nở, ấy là rau má và đinh lăng phơi khô.” “Thứ thuốc lá và củ cây đinh lăng, dây và củ rau má đem đun lên uống, đàn bà đẻ mau hồi sức, ngay bà mụ uống thứ thuốc ấy cũng thấy người nhẹ nhõm, tươi tắn, cười nói suốt cả ngày, thật quả bồi bổ chả kém “anh” sâm Cao ly, lại dễ kiếm, hợp thung thổ, huyết khí người mình” (tr. 250). Hễ gặp một chi tiết động đến cái hồn quê thì tác giả liền dừng lại và dựng lại bằng tất cả đam mê: Buổi làm lễ tra vú trục ép mía, đàn chim mía, đàn kiến kim đội quân bảo vệ mía, bí quyết nhà nghề pha nước vôi làm đường trầm, con trâu cục và cuộc trộm trâu, trả trâu để thuần phục kẻ dữ, đêm mò trai và tiếng đêm dưới vực Diễm, món gỏi cá và bát dấm đặc sánh thơm phức... Anh dựng lại bằng chính ngôn ngữ dân dã bùn đất của dân quê vùng này, lóng lánh cái văn hóa vùng đồng bằng châu thổ: ông già lặn nước sâu lặn tít cù lịt dưới đáy (tr. 51), cái trục ép mía gọi là “hàng ông hàng bà” (tr. 78), con cá ngần sinh ra câu “nước da trắng ngần” của con gái (tr. 155), cô gái tắm đêm trên sông gọi là ăn vụng sông đêm (tr. 284)...

Đối diện với Lẹp là Khuê, một thanh niên có học, mang trong mình cái hồn quê thánh thiện ấy, hòn máu của đất (tên phần 2 cuốn sách). Anh lớn lên vào bộ đội với dòng chữ chết người kèm trong lý lịch: “Đi bộ đội được nhưng không giao nhiệm vụ quan trọng.” (tr 275). Mặc dầu vậy, anh đã đi khắp các chiến trường Quảng Trị, đường Chín - Nam Lào, sau này còn có dịp phiêu du trên chiến trường phố Bắc năm 1979. Anh là người xâu chuỗi tất cả những sự thật, những bí ẩn của quê hương. Cái năm anh trở về quê với quân hàm đại úy, những tưởng sẽ làm lại cuộc đời, làm lại một vùng quê. Nhưng đến cuối trang truyện, chàng trai vẫn chỉ còn cách cuốn gói ra đi. Lẹp còn nguyên đó. Cái ác lên đài cao (từ ngữ của bà mụ Mến) còn nguyên đó. Cuốn sách khép lại như một lời báo động. Và mở ra với một lời kêu gọi: Hãy đổi mới xã hội chúng ta trên cái nền tảng văn hóa, làm sống lại cái hồn quê còn thao thức ngay chính trong mỗi con người chúng ta.

Chỉ tiếc rằng ở phần 2, tác giả đã không biết dừng lại. Anh đẩy nhân vật Khuê lên chiến trường Phố Bắc, tìm sự thật về những người thân, và anh đã gặp đủ mặt những người cần gặp. Bàn tay tác giả lộ quá rõ ở những trang này (từ chương XXII đến chương XXVI tr 366-440) khiến người đọc mất hứng thú.

Mặc dầu vậy, với đấu ấn riêng của mình, Đào Thắng đã tạo ra một tiểu thuyết về nông thôn mang dáng vẻ mới, cốt cách mới, đầy gợi ý cho những sáng tạo tân kỳ hơn trong tiểu thuyết Việt Nam.

(1) Tiểu thuyết của Đào Thắng, Nhà xuất bản Trẻ 2004.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Du lịch tâm linh cùng Văn Cầm Hải

Hoàng Phủ Ngọc Tường

(Nhân đọc cuốn "Tây Tạng, giọt hoa trong nắng" (1) của Văn Cầm Hải)



Càng đọc Tây Tạng, giọt hoa trong nắng của Văn Cầm Hải tôi càng thấy kinh ngạc về hướng đi mới trong bút ký của nhà văn này: Đó là cuộc len lỏi vào thế giới tâm linh của một cộng đồng nhân loại.

Tây Tạng, miền đất mà mọi người đều mơ ước, và có ít người dám mạo hiểm tìm đến, kể cả những nhà du lịch lão luyện. Thế nhưng, sau Trên Dấu Chim Di Thê(2) dọc ngang Âu Châu, Văn Cầm Hải vừa đi Tây Tạng về, và cho ra đời Tây Tạng, giọt hoa trong nắng, như một thứ rượu tsampa của xứ tuyết mà anh dành để thết đãi nhân gian sau chuyến đi. Hiển nhiên rằng, Tây Tạng đâu phải là mảnh đất để "thư giãn" đối với những kẻ có chất rượu giang hồ trong dòng máu; chỉ việc máu của Hong, tay vệ sĩ người Tứ Xuyên hộ tống Văn Cầm Hải trào ra đầy hai cánh mũi đủ chứng tỏ điều ấy. Xứ sở Tây Tạng nằm chót vót trên "mái nhà thế giới" nên áp suất không khí trở nên nhẹ hẫng khiến cho máu cứ trào tuôn ra bên ngoài thân thể, đó là cái giá mà những kẻ giang hồ phải trả khi dám léo hánh đến Tây Tạng.

Từ Thành Đô (Trung Quốc) tác giả đã bay qua đỉnh Hy mã lạp sơn để đi vào đô thành Lhasa, thủ phủ của Tây Tạng, xứ sở ngự trị cao nhất hành tinh, từ đó người ta có thể nhìn ngắm cả nhân loại hình như đang cười nói ở phía dưới. Văn Cầm Hải đã có dịp ngắm màu trắng của tuyết vĩnh hằng trên đỉnh Qomolangma, trên núi Kailâsa, nơi xuất phát những dòng sông vĩ đại của thế giới; ngắm sông Yarlung Tsangpo chảy triền miên qua kinh thành Lhasa như một dòng trường ca; ngắm màu nắng vàng chan hoà, trong mắt như một thứ ánh sáng của thiền định… Và cảm xúc huyền bí với nhiều thánh tích linh thiêng trong chùa Đại Chiêu với 1300 năm tuổi do công chúa Văn Thành xây dựng, trong cung Potala, tu viện T ashilhunpo nằm trên hoa chan-tai nở bạt ngàn dưới mặt đất bao la mây gió.

ở đây không có những cái gọi là "danh lam thắng cảnh" mà du khách thường gặp nhan nhản khắp thế giới; tất cả đều hiện ra trong một không khí tĩnh lặng như vô ngôn, và một thứ ánh sáng trong veo làm bằng ánh sáng từ mặt trời chiếu hắt lên màu tuyết ngàn năm của dãy Hy mã! Tây Tạng không phải là một quang cảnh, mà là một cảnh giới sắc không, khiến cho con người như đang từ bỏ cõi trần gian này để đến một cõi khác.

Theo bước đi lãng du của tác giả, chúng ta không chỉ bắt gặp những công trình xây dựng của con người dành cho những việc thiêng liêng mà còn được đối thoại với những nhân vật và tên tuổi tiêu biểu cho một truyền thống văn hoá riêng đã có bề dày trên ngàn năm, như Phật Bon-po, đại sư Padmasambhava, hành giả Milarepa, nhà vua Tùng Tán Cương Bố, Văn Thành Công chúa hoặc Kim Thành công chúa. Những vị đó gắn liền với niềm sùng kính của nhân dân hoặc nương theo những ý tưởng triết học rút ra từ kinh sách hay nghiên cứu mà tác giả đã họp thành một mảng của lịch sử Phật Giáo (Mật Tông) ở Tây Tạng.

Toàn bộ thế giới ấy đã hiện ra như hình ảnh nhất quán của một nền văn hoá khác biệt: "Văn hoá ánh sáng. Giá trị ánh sáng được khẳng định trong mọi gam màu cuộc sống, từ lời kinh rơi đầu lưỡi cho đến ngọn địa y hát xanh núi tuyết! ánh sáng trở thành ngôn ngữ triết học đối thoại vô tiền khoáng hậu trên miền đất Tây Tạng". Văn Cầm Hải không sa đà theo những cái lạ mắt của người du lịch. Anh luôn luôn để cái nhìn dừng lại trên những biểu tượng của nền văn hoá ấy, ví dụ những bảo tháp đang được thờ kính, những dây cờ phướn sặc sỡ la liệt tận trong núi, những vị Lama ở các đền chùa, những người ngồi thiền định trong vách núi, vị âm công chuyên mổ xác theo phép "điểu táng", hoặc như nàng kỹ nữ Yarlung ở nhà thổ Lhasa, đồng hoá với Yeshe Tsogyel "đi vào vực sâu núi thẳm, sống một đời mưa nắng, ăn hết hoa cỏ, nàng chuyển sang ăn không khí cho đến khi xương trán nhô ra trên đỉnh mày nhưng nàng vẫn nhẫn nại chờ đợi ngày hoá thành Phật nữ". Cùng với những sự vật thiêng liêng mà tác giả đã gặp và đã thu nhập vào nội tâm, Văn Cầm Hải đã hình thành trong chuyến đi này một tour du lịch mới, gọi là "du lịch tâm linh".

Điều sau cùng, là tôi đã xao xuyến nghĩ về chính tác giả cuốn sách này. Rằng, qua một chuyến đi ngắn ngủi, với tinh thần "chiến sĩ tâm linh", anh đã miêu tả lại cuộc viễn du mang tính chất hành hương, và giới thiệu với bạn đọc toàn bộ cuộc sống tâm linh của Tây Tạng. Anh luôn luôn thao thức với những kỷ niệm sống chết thời thơ bé để tự giải thích về những người, những vật mà anh thấy trước mắt, bằng "con mắt thứ ba" của huyền thoại Tây Tạng như anh nói "trong những ngày lang thang xứ tuyết, tôi đều bị hút hồn trong cái nhìn sâu sắc quét ra từ đôi mắt Phật khác thường xuất hiện khắp nơi trên xứ Tạng". Rõ ràng chính tác giả cũng có một đời sống tâm linh sâu thẳm. Tôi bàng hoàng nghĩ rằng, một người mới ngần ấy tuổi đời đã biết suy nghiệm một cách sâu sắc như vậy thực không phải là một bản lĩnh dễ thấy giữa đời người.

Tây Tạng, giọt hoa trong nắng quả là một kinh nghiệm quý hiếm của văn học.

Như hoạ sĩ Đại Sĩ đời Tống, thường xuyên ngồi trên mõm đá để nhìn dòng sông, quên cả mưa bão nhưng bút lực lại cuồn cuộn như mưa bão, đã nói rằng: "Làm thế nào để trở thành một nghệ sĩ, nếu người ta không từng đọc một vạn cuốn sách, và đi một vạn dặm sông núi?!".



(1) Tây Tạng, giọt hoa trong nắng - Bút ký -Nhà xuất bản Trẻ và Công ty Phương Nam ấn hành, 2004.

(2)Trên dấu Chim Di Thê - Bút ký - Nhà xuất bản Trẻ và Công ty Phương Nam ấn hành, 2003.
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Tiểu thuyết “Dòng sông mía” và cuộc bứt phá của Đào Thắng

Bùi Việt Thắng

1. Trong một tiểu luận văn học gần đây trên Tạp chí Nhà văn (số 4 năm 2000) tôi có nêu một nhận xét về tiểu thuyết đương đại Việt Nam được nhiều người tán đồng: Cứ khoảng mười năm lại có một “đợt sóng mới” của thể loại tiểu thuyết được coi là “cỗ máy cái” của văn học - đầu những năm 60, 70, và 90 của thế kỷ XX. Lấy một ví dụ dễ thấy: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991 đã trao cho ba tiểu thuyết Bến không chồng của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, và Thân phận tình yêu của Bảo Ninh. Cuộc thi tiểu thuyết (1998-2000) do Hội Nhà văn tổ chức lại làm phát lộ khả năng tiềm tàng của thể loại này qua Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh, Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh …. Cuộc hội thảo “Đổi mới tư duy tiểu thuyết” tổ chức tháng 11 năm 2002 tiếp tục kích thích nỗ lực tìm tòi và sáng tạo của các nhà văn (nội dung cuộc Hội thảo được tập hợp in thành sách: Đổi mới tư duy tiểu thuyết – Nxb Hội nhà văn – H. 2002).
Riêng trong văn học hiện đại Việt Nam, tôi nghĩ không có ý niệm “tiểu thuyết đã chết”. Đúng như ý văn hào Nga M. Sôlôkhốp đã nói: “Không nên bàn chuyện tiểu thuyết chết hay sống cũng như không nên bàn chuyện người nông dân có nên cày cấy, gieo trồng hay không. Chỉ nên nói chuyện mùa màng thu hoạch ra sao”.

Tiểu thuyết Dòng sông mía của Đào Thắng xuất hiện trong bối cảnh văn học như thế, là cả một thuận lợi đồng thời cũng là một thách thức lớn đối với nhà văn. Sau Điểm cao thành phố (tiểu thuyết, 1981) là Nước mắt (tiểu thuyết, 1991), Đào Thắng có vẻ như im hơi lặng tiếng, nhưng bạn bè trong văn giới thì biết anh đang âm thầm một cuộc chuẩn bị. Riêng tôi biết anh đã dồn tâm huyết viết một tác phẩm của đời người cầm bút. Mùa hè năm 1991, ở Trại sáng tác Quân đội mở tại Đồ Sơn, Đào Thắng đã chia sẻ với đồng nghiệp về một cuốn tiểu thuyết mới trên cơ sở phác vẽ cốt truyện, nhân vật và cả bút pháp để hoàn thành tác phẩm. Vừa tròn một giáp “thai nghén” kể cả mang nặng đẻ đau, cuối cùng món nợ với đời, với nghiệp văn Đào Thắng đã trả được và nhờ nhà xuất bản Trẻ nhận làm “bà đỡ”.

2. Phải nói ngay rằng, về mặt kết cấu, tiểu thuyết của Đào Thắng không có gì mới, nghĩa là vẫn được xây dựng theo lối “tiểu thuyết chương hồi”… cái gì xảy ra trước thì kể trước. Tiểu thuyết có độ dày 500 trang, được chia làm hai phần gần ngang nhau: Phần I: Lửa hoang (258 trang, gồm 15 chương từ I đến XV); phần II Máu của đất (232 trang gồm 17 chương từ XVI đến XXXII). Một cuốn tiểu thuyết 500 trang chưa phải là dài nhưng đủ ôm trùm một không gian rộng lớn và một thời gian mấy chục năm từ trước hoà bình (1954) đến đầu những năm tám mươi thế kỷ trước.

Tâm lý bạn đọc ngày nay ngại đọc dài, vậy mà Dòng sông mía đã cuốn hút nhiều người vì những “chuyện lạ” được nhà văn kể bằng giọng trầm tĩnh nhưng hoạt và khéo léo dẫn dắt người đọc đi qua cõi mê cung của cuộc đời nhiều nhân vật. Về một khía cạnh nào đó, Dòng sông mía của Đào Thắng gần gụi với Thời xa vắng của Lê Lựu – viết về nông thôn, về người nông dân trong những thăng trầm của lịch sử thời hiện đại. Nhưng nông thôn và người nông dân trong tiểu thuyết của Đào Thắng lại không trồng lúa mà là trồng … mía. Chính vì thế mà trong bản thảo được hoàn thành đưa đi in, tiểu thuyết ban đầu có nhan đề Dòng sông vĩnh cửu. Nghe nói một bạn văn của Đào Thắng, một người rất sành điệu đã góp ý sau khi đọc toàn văn, đề nghị đổi thành Dòng sông mía. Một bên là trừu tượng và mơ hồ, một bên gợi cảm vì tính đặc trưng của câu chuyện được kể trong suốt 500 trang tiểu thuyết.

Nếu nhà văn viết truyện ngắn thường “dấu binh” để tung ra “cú đấm nghệ thuật” ở đoạn kết, thì trái lại, nhà tiểu thuyết phải mê hoặc người đọc ngay từ đầu. Đào Thắng đã làm được điều đó. Sự xuất hiện của Lẹp – một nhân vật kì dị đã tạo nên sức cuốn hút người đọc và chính nó đã tạo nên độ căng, tính kịch cho toàn bộ phần I của tiểu thuyết. ở đây không biết tác giả hay nhân vật Lẹp đã “mê hoặc” người đọc ? ! Ta gặp ngay một con người dị dạng “khi sinh ra trời đất cũng cho hắn đủ tứ chi, nhưng bây giờ thì hắn chỉ còn hai chi sau rắn chắc, bắp thịt lồi ra ụ ị, lớp da dày như bì trâu, gót chân và những ngón chân nứt nẻ, sần sùi chai cứng. Cái sự việc kinh hoàng khiến hắn mất hai chi trước trời cho, biến hắn thành một kẻ quái dị, gắn đời hắn với nghiệp mò trai ốc dọc bờ sông Châu, đến bây giờ chưa ai quên”.

Nhân vật Lẹp như một “ngòi nổ” làm bùng phát Cô Bé (con ông chủ lò mía – Quỹ Nhất) – người con gái nổi loạn, người tạo nên “thiên diễm tình” có một không ai ở cái vùng quê trồng mía ven sông Châu. Rồi từ Lẹp, từ cô Bé câu chuyện được dẫn dắt khéo léo đến cuộc đời các nhân vật khác như bà Mến (quan hệ với ông Quỹ Nhất, đẻ ra Lẹp), bà cả Thuần (mẹ Khuê), cô Bé lớn, cô Mận, ông Đồi (quan hệ với bà cả Thuần đẻ ra Các) ….

Chuyện của Lẹp và cô Bé (con gái rượu của ông chủ lò mía – Quỹ Nhất) chính là “chuyện lạ”; “chuyện động trời”. Nói cách khác đó là mối tình loạn luân vì Lẹp và cô Bé là chung cha (ông Quỹ Nhất) nhưng khác mẹ. Câu chuyện tình “tréo nghoe” này chỉ kết thúc khi cô Bé bị sảy thai và nhận ra quan hệ loạn luân với Lẹp, rồi bỏ nhà ra đi.

Nhưng Lẹp chưa thôi vùng vẫy, anh ta còn “sống nhăn răng” ra cả ở phần II của tiểu thuyết – sau đó lấy cô Bê lớn, giết em vợ, trở thành “cốt cán” trong cải cách ruộng đất, rồi sa đoạ, biến chất.

Nhưng nếu Đào Thắng chỉ chăm chút nhân vật này, rồi kết thúc tiểu thuyết thì sẽ rơi vào sự dang dở, sẽ không thể hiện được ý tưởng – lịch sử là sự kế tục của những thế hệ. Vì thế ở phần II, khi Lẹp đã bán hết mình cho quỷ dữ thì Khuê xuất hiện và đóng vai trò chủ đạo. Khuê có nét gì đó gần gụi với Giang Minh Sài của Lê Lựu. Tôi viết thế này nhưng không sợ “chạm nọc” Đào Thắng là bởi tất nhiên lịch sử và đời sống đã cung cấp cho các nhà văn những nguyên mẫu có mẫu số chung.

Số phận của Khuê cũng ba chìm bảy nổi chín lênh đênh … Anh là người không may mắn tuy có thực tâm thực tài, anh là sản phẩm của một thời kỳ lịch sử, bị hoàn cảnh chi phối, cố gắng vùng vẫy nhưng rồi cũng không đi đến đâu. Nói một cách chính xác thì Đào Thắng đã kể rất có duyên về những “trò chơi của số phận” trong tiểu thuyết Dòng sông mía. Viết đến đây tôi nhớ lại một ý của nhà văn Nga I. Bônđarep: “Đúng thế, tất cả chúng ta đều là tù bình của hoàn cảnh và không một ai được tự do hết. Điều đó thật khủng khiếp, thật tuyệt vọng và hèn hạ … Nhưng đó cũng phải có một cái ý nghĩa hợp lẽ nào đó chứ” (Tiểu thuyết Trò chơi của I. Bônđarep – Nxb Lao động, H. 1987, trang 286)

Dòng sông mía như đã nói ở trên, cuốn hút người đọc ngay từ đầu nhờ cái “không khí tiểu thuyết” khi Lẹp xuất hiện cùng cô Bé “toàn thân cô gái giống như một ngọn lửa”. Hai nhân vật này như một cặp bài trùng đi hết phần I, để sang phần II họ “chuyển giao” cho cặp Khuê - Mận. Mận (có chồng là liệt sĩ) đã dám từ bỏ tất cả để đi với Khuê, để giải thoát – cô lao mình xuống dòng sông Châu: “Mận lấy đà như bay lên, lao vút xuống dòng nước tối đen. Khuê hộc lên một tiếng bàng hoàng, rồi cứ thế để nguyên quần áo, cả đôi giày bà Nghĩa mua cho bắt đem theo về, rướn lên lấy đà quăng mình vào dòng nước (….). Một loáng sau trong ánh chớp xa giống như một đường vẽ rối trên bầu trời, bỗng thoáng thấy hai cái đầu người nhấp nhô bơi đuổi nhau trên mặt sóng (…). Liệu hai người có sống, tìm thấy nhau để nói với nhau những lời đền đáp. Hoặc có thể họ sẽ cùng chết trong đêm nay nếu người đàn bà kia quyết tâm trẫm mình?)

Cái kết tiểu thuyết rất mở – bạn đọc tự do lựa chọn cho mình một cách nào đó, còn nhà văn thì như muốn nói to lên: “số phận những con người ấy, từ nay, do các vị độc giả định đoạt”.

3. Nói đến tiểu thuyết là nói đến nhân vật, trong Dòng sông mía, Đào Thắng đã kể chuyện, nêu vấn đề và triết luận về nhân sinh thông qua nhân vật. Ai đó nói nhà văn là “cha đẻ tinh thần” của nhân vật, nhưng nhân vật như con người trưởng thành có quyền tự quyết định thân phận của mình. Ai đó lại nói rằng nhà tiểu thuyết phải vừa đam mê lại vừa tỉnh táo. Nói cách khác, sau khi “đẻ” ra nhân vật, nhà văn phải thật khéo léo và dày công nuôi dưỡng chúng, dìu dắt chúng.

Nhân vật của Đào Thắng trong Dòng sông mía được khai thác và thể hiện khá triệt để phần “con người trong con người”. Nói cách khác, nhà văn chú ý đến phần bản năng của mỗi cá thể, thậm chí cả phần hoang dã, hoang sơ của nó. Đào Thắng từ đầu văn nghiệp không thuộc “típ” nhà văn có thiên hướng đi sâu khai thác phần vô thức của con người. Nhưng lần này, trong Dòng sông mía, anh đã mạnh tay, thậm chí có lúc “vung tay” đi vào khám phá cái “miền hoang dã” trong con người. Tôi nghĩ Đào Thắng không phải là “môn đệ của Freud” nhưng có thể trong quá trình tìm hiểu con người nhà văn đã nhận thấy nhiều khi sức mạnh của tính dục, bản năng, vô thức thật là ghê gớm. Nhân vật của Đào Thắng được xây dựng như những con người bình thường. “Họ có ưu điểm nổi bật là tính ham công việc, những ước mơ, những hy vọng nhỏ bé, gần gũi với đời người”. Một cô Bé xinh đẹp, con nhà giàu nhưng dám quăng thân vào gió bụi, lao vào cuộc tình éo le với Lẹp và thậm chí dám trơ lì trước một sự kiện được coi là “điếm nhục” của dòng họ. Một bà Mến lúc nào cũng tâm niệm “đàn bà chúng tôi không cần cái gì, tiền bạc, của nả, danh tiếng không bằng một đứa con”, (vì lẽ đó mà bà hiến thân cho ông chủ lò mía - Quỹ Nhất - để có được “đứa con trời đánh” như Lẹp). Đoạn văn miêu tả cảnh làm tình của Lẹp và cô Bé (trang 40-42) có thể nói rất “mùi mẫn”.

Có thể nói con người tự nhiên và con người xã hội trong các nhân vật như Lẹp, cô Bé, cô Bê Lớn, Bà Mến … luôn đấu tranh với nhau nhưng để cuối cùng con người tự nhiên vẫn có xu hướng thế mạnh hơn.

Tôi muốn nói đến sự không kiểm soát được nhân vật Lẹp của Đào Thắng. Đành rằng Lẹp “sinh ra trong tà ám, nuôi dạy trong hận đắng và nó được giáo dục bằng một cách khác, kích thích sự thù hận phân chia. Nó được bồi đắp bằng sự hung hãn của cái ác” – nhưng nếu đẩy nhân vật đến tận cùng bản năng thì nhà văn có nguy cơ đứng bấp bênh giữa thành công và thất bại. Chẳng hạn đoạn tả Lẹp giết Bê con, em trai cô Bê lớn (là vợ sau này của Lẹp) thì đúng là “đi quá giới hạn” (trang 180-181). ở đây gọi là “tàn nhẫn” thì hơi quá nhưng phảng phất yếu tố tự nhiên chủ nghĩa. Chi tiết này là con dao sắc có thể làm đứt tay chính người dùng nó – nhà văn. Một đoạn khác, vì muốn tô đậm cái bản năng của Lẹp mà tác giả “bị quên” khi viết “những ngón tay chuối mắn, thô kệch sờ sịt khắp bụng dưới người thiếu phụ” (trang 316). Đó là hành vi sàm sỡ của Lẹp với Côn (vợ Khuê). Vậy mà từ trang 10 đã tả là “bất ngờ đưa hai cái mỏm tay cụt lủn, sần sùi như hai đầu cọc, kẹp lấy cụ trai cơm, thả vào cái giỏ tre có hom, ướp nhớp nháp” (Chả là Lẹp bị cái khe kéo mía nghiền đứt hai bàn tay trong một tai nạn khủng khiếp ở lò mía ông Quỹ Nhất).

ở phần II, nhân vật Khuê tiêu biểu cho một thế hệ dấn thân đi tìm chân lí trên con đường đau khổ, đáng lí phải được “chăm sóc” kỹ càng thì trái lại, sơ lược hơn so với Lẹp, cô Bé. Hoặc giả là nhân vật Lẹp đã kết thúc số phận còn nhân vật Khuê mới bắt đầu sống ở đoạn kết tiểu thuyết?! Tôi và nhiều người tiếc cho nhân vật Khuê - nó sẽ trở nên đầy đặn, sinh sắc hơn nếu như bút lực nhà văn còn dồi dào ở phần II. Dường như nhà văn “đồng bệnh” với nhân vật Khuê nhưng chỉ mới là sự cảm thán chứ chưa thực sự “chia thuốc trị bệnh”.

4. M. Kundera có viết, đại ý: Nhà tiểu thuyết là nhà thám hiểm. Đọc Dòng sông mía, tôi nghiệm thấy điều đó đúng với Đào Thắng. Bản chất con người luôn luôn là điều bí mật khôn cùng đối với nhà văn, vì nó mà nhiều thế hệ nhà văn dũng cảm làm những nhà thám hiểm khám phá cái thế giới bên trong mịt mờ như khoảng không vũ trụ hoặc đáy đại dương. Một nhà thám hiểm có thể gặp tai nạn như chúng ta đã biết trong thực tế và cả trong văn học. Cuộc thám hiểm của Đào Thắng đối với cuộc sống và con người thời đại, không đơn độc vì trước anh, cùng với anh và sau anh đã và sẽ có nhiều nhà văn khác.

Dũng cảm khám phá miền hoang dã của con người, Đào Thắng đã vận dụng trong Dòng sông mía bút pháp kết hợp chất hiện thực và chất huyền ảo. Ai đó nói: mục đích biện hộ cho phương tiện. So với những cuốn tiểu thuyết viết trước, Dòng sông mía ngòi bút của Đào Thắng uyển chuyển, linh hoạt, và đằm sâu hơn. Tiểu thuyết mới của Đào Thắng phần I đậm chất phong tục trong khi phần II lại mang tính luận đề. Một lần nữa, nhìn tổng thể Dòng sông mía đã khơi lên được tầng vỉa văn hoá của đời sống nông thôn, nông dân Việt Nam trong một thời đại đầy bão tố xã hội. Lịch sử và con người, cá nhân và cộng đồng, quá khứ và hiện tại được phối tả trong một bức tranh mang tính toàn bích. Nhưng nổi lên vẫn là vấn đề “số phận con người”

Với tất cả những mặt thành công và chưa thành công, tôi vẫn muốn cổ súy cho Dòng sông mía của Đào Thắng với ý nghĩa là một cuộc bứt phá ngoạn mục của nhà văn. Và biết đâu đấy, đây cũng là dấu hiệu khả quan để chúng ta tin vào một cuộc bứt phá chung của tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Nói cách khác, đọc Dòng sông mía của Đào Thắng, từ đó ta có quyền và cơ sở kỳ vọng vào một tương lai của tiểu thuyết nước nhà.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Sóng vẫn vỗ về nơi đó

Cao Tiến Lê

Đọc tập truyện ngắn chọn lọc Sóng trước vỗ đâu của Phan Cung Việt

NXB Lao Động, 2004

22 truyện ngắn trong tập Sóng trước vỗ đâu như là đại diện cho hai mươi hai cuộc đời, hai mươi hai số phận, mà Phan Cung Việt đã khai thác từ ngõ ngách của thiên nhiên, đường làng, sông núi, biển cả, bến sông, phố nhỏ, con thuyền, bãi cỏ, đêm sương, mỏm đá và cũng là hai mươi hai cốt truyện nối tiếp hôm nay với hôm qua, quá khứ với hiện tại, hiện tại với tương lai. Đấy là số phận của anh Đùng suốt cuộc đời làm việc lớn, đánh giặc sắp lên đến cấp tướng, về



quê như một người hùng, xây nhà cho mẹ, làm nhà thờ họ. Anh khỏe mạnh, trung hiếu, đông con, đông cháu, nhưng số phận trôi dạt, anh lại sống với người vợ bé kém anh vài chục tuổi, sinh dăm đứa con ở trong căn phòng chỉ bằng hai mảnh chiếu giữa lưng chừng trời (tầng ba nhà tập thể) đôi lúc buồn, đôi mắt xưa kia là tráng sĩ phải nhìn xuống, anh lại ngâm lên một câu Kiều: Bước chân vào chốn đoạn trường... đoạn trường của anh nó như biển quê anh. Bao nhiêu nghịch lý ở những hạt cát vàng, cát trắng, cát đen... Nhưng dù là hạt cát gì, thì cũng là cát, và hạt cát đó dùng đúng chỗ vẫn tạo nên những tường thành vững chãi.

Số phận anh Hoàng trong truyện ngắn Phù thủy thì lại khác, có vẻ như cuộc đời đa đoan theo số phận, ngay từ nhỏ, anh đã đi bốn phương trời, mười phương đất, với chất nghệ sĩ trong cơ thể. Anh đã vẽ bức sơn dầu với hai loại hoa: Hoa phượng mang màu đỏ chói chang và hoa bằng lăng mang màu tím đến nao lòng, hai cành hoa như đang nghiêng nghiêng tìm kiếm nhau. Cuộc đời anh là cuộc đời tìm kiếm. Nhưng khi không tìm kiếm nữa thì anh lại nhận được giấy mời về gặp mặt quê hương, xây dựng quê hương, anh hy vọng sự đón tiếp, nhưng thật là ngỡ ngàng, thật là xót xa. Anh bị quản thúc và phải viết trần thuật. Sau những cuộc đấu tố. Cuộc đời không phải là tự mình định đoạt nữa, mà có sự biến hóa như là phù thủy.

Phan Cung Việt ít để ý đến niềm vui, đến sự thịnh vượng, anh khai thác nhiều ở nỗi đớn đau, số phận. Nhưng những số phận không chịu ngã gục, mà im lặng vươn lên.

Tây Thi là truyện ngắn mượn cái thời xa xưa để liên hệ với hôm nay, vẫn là chuyện đàn ông và đàn bà. Đàn ông thì say mê quyền uy và sắc dục. Nổi tiếng như Việt Câu Tiễn cũng chỉ sắc dục và ngai vàng. Bao nhiêu người thù nhau, giết nhau cũng vì chút nhan sắc của Tây Thi, kể cả cái anh đàn ông Phạm Lãi thoang thoảng mập mờ ảo ảnh như một bài thơ tình cũng rơi vào con sóng đời đó. Tưởng lịch sử sẽ giúp người sau tránh được những gì người xưa va vấp. Nhưng không, “sóng trước vỗ về đâu, sóng sau vỗ về đó”. Hiển, người đàn ông hôm nay thành đạt. Tuổi ngoại tứ tuần mà đã có chức lắm tiền. Học xong đại học về làm việc ít lâu, anh xây dựng gia đình. Miên vợ anh, một cô gái bình dị. Trong khi người chồng hành trình đến danh lợi, thì vợ cũng hành trình theo hướng người đẹp Tây Thi. Thế rồi bệnh ung thư xuất hiện, không phải ung thư cơ thể, mà “ung thư hạnh phúc”. Anh chồng thành đạt trong xã hội, nhưng trong mắt vợ thì chẳng ra gì. Chắc hồn Tây Thi đã đến quần đảo trong căn biệt thự của Hiển...

Mặt phản diện là như thế, nhưng không phải đâu đâu cũng như thế, mọi ý tưởng tác giả còn thể hiện trong các truyện Thiên Thu, Cỏ bến sông, Biển trinh nguyên, Tiếng đầm, tiếng hạc... và có lẽ tác giả muốn gói gọn ý tưởng của mình vào truyện Sóng trước vỗ đâu... Đấy là lần tác giả gặp người đàn bà đầy lý sự về cuộc sống: Bây giờ sóng trước vỗ về đâu, sóng sau không vỗ ở đó nữa. Nó vỗ những chỗ khác. Con sông cũng thay đổi, trước chỉ lở một bờ, nay lở cả hai bờ, lở lung tung, chẳng biết đâu mà lần. Đêm đêm nằm nghe tiếng lở bên này bên kia như ma quỷ cãi nhau. Anh không tin thì đi xuống nữa dưới ấy cũng có quán có phố. Nước rút đến đâu “phố” hiện đến đấy. Người ta gọi là “phố phù sa”, “phố ma”.

Theo tay người đàn bà chỉ, tác giả đi xuống phía gần mép sông, tác giả gặp một chiếc quán biển đề: “gội đầu, tẩm quất, trứng gà ngải cứu”. Ba thứ đó nghe ngang ngang, nhưng nghĩ lại cũng có cái lý của nó. Gội đầu làm cho đầu óc nhẹ nhàng, tẩm quất làm cho cơ thể thoải mái và sau hai thứ đó là ăn trứng gà rán với ngải cứu, vừa bổ, vừa chữa bệnh.

Chủ quán là một cô gái trẻ đẹp nói tiếng Nam pha Bắc qua tiếp xúc bề ngoài, mọi người có thể nghĩ đây là loại gái dễ bán rẻ phẩm chất. Không tương xứng với thứ cỏ mần trầu, mọc bên sông. Cô gái gội đầu cho khách, ở cô toát lên mùi hương lôi cuốn gì đó. Qua động tác tẩm quất, thì bàn tay nhỏ bé, xinh xắn ấy đã bằng những động tác mạnh mẽ làm cho tác giả đau ran cơ thể, gân cốt được nắn bóp và như bị điểm huyệt khóa chặt cơ thể... Cô bé tâm sự, cha cô người ngoài Bắc, vào Nam chiến đấu, bị thương, gặp mẹ cô. Cha cô là người nhiều tài năng nghệ thuật, còn mẹ cô là người võ nghệ cao cường. Cô nhận cái tài trí của cha và võ nghệ của mẹ. Nhưng rồi cha cô ốm nặng, ông đòi phải đưa ông về đất Bắc, ông mất, chôn cất cho cha xong, để mẹ ở lại quê cha, cô lần tìm nghề nghiệp nuôi sống. Cô làm nghề tẩm quất, gội đầu như một thứ nghệ thuật, muôn vàn sự va chạm, lịch sự có, đểu cáng có, nhưng cô đều giữ được khoảng cách, giữ được trinh nguyên. Giữ được bằng tiếp thu tài trí của người cha và võ nghệ của người mẹ. Như vậy, “sóng trước vỗ về đâu, sóng sau vẫn vỗ về đó”. Thế hệ trẻ có lối sống riêng, có bản lĩnh riêng, nhưng vẫn giữ được cái gì gia đình đã có đất nước đã có.

Phan Cung Việt nhặt nhạnh những sự đời xảy ra quanh mình để viết, nghe thì tưởng là câu chuyện bình thường, nhưng nghĩ thêm một tý nữa, thấy nó thâm thúy, sâu sắc, hiện đại, mà không phô trương. Không gào thét tính thời đại, tính tư tưởng, nhưng từng truyện đọc xong, nhắc ta một điều gì đó trong cuộc sống ta còn thiếu, ta chưa làm được./.



(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Lá bàng xanh ngoài cửa sổ - Một khúc tráng ca

Đặng Văn Sinh

Phần lớn các truyện trong tập truyện ngắn Lá bàng xanh ngoài cửa sổ của Tô Đức Chiêu(1) đều được phát triển trên bối cảnh của hai cuộc kháng chiến mà điểm xuất phát của các nhân vật thường là một làng quê nghèo vùng nam sông Thủa thuộc địa hạt tỉnh Đông. Đó là làng Cao, làng Thị, xóm bò với những phong tục tập quán rất đặc trưng từ ngàn năm trước được lưu giữ của nền văn minh lúa nước: bao dung, nhân hậu, nhẫn nại nhưng cũng đầy quyết đoán.

Cấu trúc truyện của Tô Đức Chiêu thường là dùng ngòi bút lách sâu vào những miền ký ức. Hiện tại và quá khứ đôi khi đan xen nhau trong một chuỗi liên tưởng mang tính gợi mở nhưng lại tuân thủ nghiêm ngặt tính thống nhất quy luật thời gian tuyến tính. Hai dòng thời gian, một xuôi, một ngược cùng song hành trong cái phông của làng quê và chiến tranh, mỗi khi chúng giao nhau hoặc hoà vào nhau là lập tức bùng nổ hiệu ứng thẩm mỹ. Đó là cách nhìn nhận lịch sử thông qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ nhưng hàm chứa tính biện chứng đầy ấn tượng (Đất ngàn năm yên tĩnh, Bài ca bất tử…), là sự bao dung, độ lượng của một người lính đã nhiều lần bị bom vùi dưới làn mưa bom B52 (Đất ngàn năm yên tĩnh, Phái viên Bộ tổng).

Khai thác đến tận cùng hiệu quả của những miền ký ức, tác giả khắc hoạ chân dung tâm hồn khá đậm nét của một trung đội trưởng pháo cối 120 ly. Đó là chàng trai có học vấn. Xuất thân từ thành phần bị coi là tiểu tư sản chỉ vì ông thân sinh là hương sư. Đức hay Đạt đều là hiện thân của lớp thanh niên thập kỷ sáu mươi, ham học, giàu lý tưởng. Anh quý trọng, tôn thờ ông giáo (Lá bàng xanh ngoài cửa sổ), trân trọng mối tình với cô bán bánh mỳ (Cổng tỉnh) và tự dằn vặt mình là kẻ phụ bạc khi đã ra khỏi cuộc chiến đến mấy chục năm, tóc chớm bạc mới giật mình nghĩ đến cố nhân (Bài ca bất tử).

Những trang hồi ức đặc tả về cảnh đói nghèo, lam lũ của một thời thơ ấu, quả thật, làm người đọc sững sờ bởi cách kể và sự chân thành của người viết. ấy là một thời thật khổ nhưng thật đẹp, gần như một đi không trở lại nhưng “rất oai hùng” như Tô Đức Chiêu đã nhắc đi nhắc lại không dưới năm lần (Bởi cô đã bật khóc và co cẳng chạy khi đứa em út của anh kêu lên nhận phần: “Em còn ăn nữa đấy nhớ” (Cháo cua - ĐVS) nhưng còn đâu mà ăn” (Cổng tỉnh). Ký ức trong “Lá bàng xanh ngoài cửa sổ” là thứ ký ức đắng cay nhưng đậm chất lãng mạn. Các nhân vật trong vùng ký ức ấy đều cao thượng, giàu lòng nhân ái, đức hy sinh, có tâm hồn nghệ sĩ. (Đức, Đạt, Nga, Khang). Phẩm chất của lớp người này là phẩm chất của bậc quân tử. Họ có phẩm cách văn hoá, dám hy sinh, ham học và thường lấy chữ “nhẫn” làm phương châm ứng xử, nhất là với những cấp trên xuất thân từ thành phần bần cố nông, ít chữ nhưng nhiều “chính trị” và nhiệt tình cách mạng cháy đến “nghìn độ”(!) Đức trong “Đường về Khabêca”, Nga trong “Đất ngàn năm yên tĩnh”. Trang trong “Phái viên Bộ tổng”… đều là mẫu người mang dấu ấn lịch sử của một thời đại tuy biến động dữ dội nhưng tâm hồn trong sáng, phẩm chất cao thượng, đặc biệt là giữ được niềm tin - một thứ báu vật mà có nó, chúng ta mới chiến thắng sau một phần ba thế kỷ tao loạn.

Một đặc điểm nữa trong tập “Lá bàng xanh…” là, những người lính được kể đến phần đông là ở cấp binh nhì (Ngọc, Khang, Thìn, Tác), nếu cố gắng phấn đấu thoát ra khỏi cái “đuôi tiểu tư sản” thì cao lắm cũng chỉ đến chức phái viên hoặc trung đội trưởng (Đức, Trang, Nga). Tuy ở vị trí gần như thấp nhất của cấp hàm, nhưng họ lại đầy tinh thần phụ trách, tâm hồn nhạy cảm và sẵn sàng hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào kể cả việc gọi pháo bắn vào trận địa diệt quân tăng viện của Mỹ cho dù mình có thể phải hy sinh (Trang trong “Phái viên Bộ tổng”).

Về một mặt nào đó, có thể thấy truyện của Tô Đức Chiêu thường có xu hướng lý tưởng hoá. Có những đoạn hồi ức đẹp như một bài thơ trữ tình (“Bài ca bất tử; “Lúa đang thì con gái; Lá bàng xanh ngoài cửa sổ”), đặc biệt hình tượng người phụ nữ đạt đến độ lung linh như một huyền thoại. Có đến 9 trên 12 truyện, các nhân vật nữ xuất hiện với mức độ đậm nhạt khác nhau nhưng đều được tác giả chăm chút đến mức điển hình. Phái yếu ở đây với đủ các lứa tuổi từ Marie Loan tức bà Thanh Việt kiều đã ngoại ngũ tuần đến cô bé Lan bán bánh khoai cổng tỉnh còn là trẻ vị thành niên. Hoàn cảnh xuất thân của họ rất khác nhau, không ít kẻ nghèo và bất hạnh nhưng đều có một nét chung là người nào cũng xinh đẹp, nhân hậu và nặng lòng với quê hương (bà Thanh, cô giáo Minh, người con gái Cẩm Duệ…). Lớp nhân vật này hiện diện như một đối trọng trong một không gian chiến tranh khốc liệt, đói nghèo và sự huỷ diệt tạo ra thứ niềm tin và tình yêu vĩnh hằng bằng nụ cười và cả những giọt nước mắt.

Về mặt cốt truyện, Tô Đức Chiêu không có chủ trương lạ hoá mà ngòi bút của anh luôn hướng về lối viết truyền thống. Mạch truyện luôn phát triển theo trình tự thời gian thông qua lời kể hoặc những dòng hồi ức đậm chất sử thi. Hai mảng hồi ức về làng quê và chiến tranh luôn song hành, tuỳ theo mức độ đậm nhạt của hoàn cảnh, tầm vóc sự kiện và những yếu tố xã hội chi phối mà các tuyến nhân vật hình thành tính cách cùng với mức độ điển hình.

Hồi ức về chiến tranh qua ngòi bút của người lính, nghĩa là anh khẩu đội trưởng trực tiếp khênh bàn đế, nòng hoặc bộ phận càng của pháo cối 120 ly, sự thật không chỉ là máu lửa và những tử thi xếp hàng đợi nước sông rút về bên bờ Bắc, là tiếng trực thăng phành phạch và những tờ truyền đơn tâm lý chiến, mà còn là những trang viết xúc động về tình bạn, tình yêu thương và thân phận con người. Mỗi câu chuyện đều có một bố cục hoàn chỉnh với những chi tiết, tình tiết rất điển hình về mối quan hệ đa dạng, phức tạp nhưng phần lớn là tốt đẹp giữa người với người ở cái thời điểm lịch sử mà mua mớ rau cũng phải xếp hàng và cô gái ngoại ô mặc tấm áo popéline trứng sáo cũng bị coi là lãng mạn tiểu tư sản. Ba truyện được xem là hay nhất trong tập, đồng thời cũng là những truyện hay nhất của nền truyện ngắn Việt Nam mấy chục năm qua là “Cổng tỉnh”; “Lá bàng xanh ngoài cửa sổ” và “Bài ca bất tử” viết rất sinh động về tình người, tình đời, là điểm nhấn của chủ nghĩa nhân văn nếu nhìn nhận dưới góc độ văn học chiến tranh cách mạng. Hình ảnh người cha - ông giáo già - và cây bàng ngoài cửa sổ tầng 2 ở thị xã H. gắn liền với những kỷ niệm của người chiến binh thời trai trẻ. Tâm trạng người cha già nhớ về đất tổ vùng biển Thuỵ Anh, Thái Bình và sự kiện người em trai ra đi mãi mãi được tác giả kể lại bằng một trường đoạn giống như khúc ca bi tráng đọc nghe đến nao lòng. Hình ảnh cây bàng mùa thu như một biểu tượng cứ ám ảnh mãi tâm trí người anh. Người cha là một công chức bình thường mà cao cả, bởi chính ông, chứ không ai khác, đã nhọc nhằn nuôi dạy những đứa con trưởng thành, đủ tư cách làm người. Cây bàng và ông giáo là hình tượng kép mang tầm vóc lịch sử, cho dù lịch sử có lúc bỏ quên họ. ở truyện “Bài ca bất tử”, dòng ký ức được đẩy lên đến tận cùng của cảm xúc, một trạng thái tình cảm phức tạp, đầy mâu thuẫn cùng với ý thức phản tỉnh về thái độ thờ ơ của người lính sau chiến tranh. Ông già cựu chiến binh làm một cuộc hành trình ngược thời gian sau một đêm đứng trên tầng gác nhà khách thị xã miền Trung. Một kỷ niệm đẹp dần dần hình thành trong bộ nhớ. Nó lớn dần, và cuối cùng, trở thành sự thôi thúc để người chiến binh xưa thuê xe ôm về nơi cách đây mấy chục năm chót hẹn với một người con gái. Cái phông của câu chuyện vẫn là màn sương khói chiến tranh ở một vùng quê nghèo nhưng giá trị nhận thức và ý nghĩa thẩm mỹ của nó có tính phổ quát. Xét đến cùng, chuyện không mới bởi nó nằm trong một mô típ khá phổ biến nhưng đọc rồi ta vẫn cứ bị ám ảnh bởi cách kể, cách xử lý tình huống, nhất là phần kết của thiên tình sử bi thương mà cao đẹp như một bài ca bất tử. Hình ảnh người con gái lặn lội ra Bắc tìm về làng Thị vùng nam sông Thủa mất đi một cánh tay sau trận bom làm những người đa cảm không cầm được nước mắt. Đó là thứ tình yêu cao cả, vượt lên trên sự sinh tử, mang đậm màu sắc anh hùng ca, mãi mãi được các thệ hệ tương lai tôn vinh.

Về bố cục, phần lớn truyện có kết cấu đơn tuyến, nhưng trong “Lá bàng xanh ngoài cửa sổ”, ta gặp không ít truyện mang tầm vóc tiểu thuyết với bộn bề chất liệu, với thời gian hai chiều vô tận, không gian trải khắp mọi vùng miền và những nhân vật đầy tâm trạng, cuồn cuộn chảy như dòng sông mùa lũ. “Đường về Khabêca” là một điển hình. Truyện ngắn này có những đoạn dồn nén cao độ tuy không hiếm trường hợp rẽ nhánh. Đến Mátxcơva, tình cờ gặp Nhung, một thiếu phụ Việt Nam trên đất Nga, Đức hồi tưởng lại hình ảnh cô bé Giang Pao bên thượng nguồn sông Bến Hải cùng với những trận bom B52 quét sạch cả vùng dân cư gây nỗi khủng khiếp cho những đứa trẻ mồ côi. Cuộc gặp lại ân nhân với Nhung là sự may mắn ngàn năm có một. Cuộc hành trình trên tàu hoả đi Khabêca cũng là một trường đoạn đầy kịch tính khi nhà cựu chiến binh “lậu vé” tiếp xúc với cô gái trực toa. Trước khi xảy ra sự cố “bốn mươi rúp”, tác giả đã rất thành công trong việc “vẽ” chân dung người trung đội trưởng pháo binh bằng một loạt hồi ức về quá trình tự học tiếng Nga. Anh đã bị công an cảnh cáo khi lần đầu nói chuyện với người Nga, thậm chí còn bị chính viên tiểu đoàn uốn nắn lập trường chỉ vì ở trong chiến trường dám hát bài “Đợi anh về”. Cuộc đối thoại bất đắc dĩ bằng tiếng Nga giữa Đức và Galina Kôdưrơnôva trên cupây và sự giải hoà bằng món quà Việt Nam tặng cô gái Nga là một chi tiết đắt, rất tiểu thuyết.

Sự thành công của tập truyện còn được ghi nhận ở phong cách ngôn ngữ. Tô Đức Chiêu có lối kể đầy tâm trạng. Trong lời kể đâu đâu cũng thấy sự ấm áp của tình người, sự nồng nàn của tình yêu bằng những rung động của trái tim. Tác giả thường sử dụng lớp từ giàu tính biểu cảm nên có khá nhiều đoạn mang âm hưởng những khúc tráng ca - một hình thức sử thi, ít nhiều lý tưởng hoá về một giai đoạn lịch sử hào sảng, nhưng cũng không ít bi thương.

Cùng với lời kể, xen giữa những sự kiện là những đoạn phân tích tâm lý điển hình hoặc tả cảnh rất đặc trưng của thi pháp truyện ngắn Tô Đức Chiêu. Đó là lớp từ chắt lọc được điển hình hoá cao, là những hình ảnh gắn liền với làng quê; Cây đa, con đường lát gạch nghiêng: “Thứ gạch chỉ ken nghiêng bắt mạch xi măng khiến sau mỗi trận mưa lại đỏ bóng lên lân vân như là vệt cầu vồng trên nền trời xanh thăm thẳm” (“Xóm Cò”).

Đi sâu vào miền ký ức, gợi ra những kỷ niệm của thuở ấu thơ hay thời chinh chiến, phân tích rất tinh tế trạng thái tâm lý nhân vật bằng thứ ngôn ngữ giàu chất thơ là đặc trưng thi pháp của tập “Lá bàng xanh ngoài cửa sổ”. Ngoài thế mạnh đó, Tô Đức Chiêu còn tỏ ra khá chủ động trong việc xử lý các tình huống truyện khi anh xen vào, với tư cách người kể, những đoạn bình luận trữ tình ngoại đề mang phong cách tráng ca như một chứng nhân lịch sử. Đọc truyện của anh, người ta thấy thấp thoáng giữa những trang sách là cuộc đời anh.



(1) “Lá bàng xanh ngoài cửa sổ”; Tập truyện ngắn; Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2003.

(2) (Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Thế giới tìm thấy trong Huyền thoại cửa Tùng

Hoàng Phủ Ngọc Tường

Kể từ tập thơ đầu tay (Phía nắng lên in năm 1985), Huyền thoại Cửa Tùng(*) là tập thơ thứ mười (và là tập sách thứ 17) của Ngô Minh đã ra mắt công chúng. Dù nghề làm báo có chi phối đôi chút thì giờ của anh, có thể nói chắc rằng Ngô Minh đã đi với thơ gần chẵn hai mươi năm, và thực sự đã trở thành người bạn cố tri của thơ, giữa lúc mà những đồng nghiệp khác của anh hoặc do quá nghèo đói, hoặc do đã giàu có lên, đều đã từ giã “nghề” làm thơ. Vậy thì Ngô Minh đâu còn là “một nhà thơ trẻ có triển vọng” để cần đến tôi viết đôi lời giới thiệu với độc giả? Thế nhưng xin thú nhận rằng, tôi đã thật sự xúc động và vui mừng xiết bao khi được bày tỏ đôi lời trước bạn bè quen biết về tập thơ thứ mười này của Ngô Minh. Vì một lẽ giản đơn nhưng hiếm có rằng đây là một tập thơ thuần tuý về đề tài Quảng Trị, mảnh đất chôn nhau cắt rốn của tôi và cũng là đất quê ngoại của Ngô Minh, hơn nữa là mảnh đất chiến trường nóng bỏng của cả hai chúng tôi.

Gần 30 năm chiến tranh đã trôi qua, nhưng không hiểu tại sao sự vật đối với tôi lại gần gũi thế, và những kỷ niệm đối với tôi lại nóng bỏng thế, tươi mới như không thuộc về quá khứ, và trĩu nặng tâm hồn như một cái gì thuộc về vĩnh cửu.

ở những người đã đi qua kháng chiến như chúng tôi hình như đã hình thành một con người cảm nghĩ riêng để xúc động dễ dàng trước những cái tưởng như phù phiếm đối với chuyện cơm gạo áo tiền của ngày hôm nay. Quảng Trị với hai chúng tôi là một “đất thánh” như vậy của đời người, hoặc nói quá đi một chút, là nguồn suối trường tồn của văn học.

Nhưng vào thời kỳ tôi có mặt ở đó, mặt đất Quảng Trị gần như trơ trụi không còn gì, chỉ còn những dáng người đi lênh khênh ở chân trời. Dưới tác động của một cuộc chiến quá dữ dằn, mảnh đất quê tôi đã chết theo kiểu một kẻ bị ám sát; đến nỗi ngay ngày đầu của cuộc chiến, tôi đã trở lại tìm làng tôi trong một đám cỏ dại mịt mù. Tôi cứ ngơ ngác nhìn bốn phía xem làng tôi đâu. Nào ngờ trong cỏ dưới bàn chân tôi là hai chữ “Hoàng tộc” của chiếc cổng gạch tôi vẫn ngồi chơi ngày thơ ấu. Thú thật là không có nơi nào trên trái đất đã khiến tôi thèm gọi tên một làng như ở Quảng Trị, vì ở đấy không còn tồn tại bất cứ dấu vết nào của những ngôi làng xanh biếc ngày xưa. Tất cả đã lặn chìm dưới mặt đất. Về Quảng Trị trong những ngày tháng bây giờ, người ta gặp nhiều những nắng gió, cát, sóng biển, cơn khát và những ngôi mộ gió với những nén nhang đỏ bập bùng trong đêm tối, dành để tưởng nhớ những người đi không về; cũng đầy những căn nhà không bao giờ đóng cửa, như đang chờ một ai đó đang bước vào ngõ. Ngô Minh đã bắt gặp những “vật ngoài hành tinh” ấy, bằng kinh nghiệm đau đớn của một người lính và bằng độ nhạy cảm của một nhà thơ. Anh không ngớt nhớ lại những đồng đội Quảng Trị đã nằm lại trong lòng đất miền Đông Nam Bộ, ngửi thấy hơi hướm quen thân của bạn bè trong mùi áo lính sau những đêm ngủ hầm nằm úp thìa vào nhau, trong vẻ “quê mùa” chất phác của giọng nói: “Ai ngờ dưới tro những câu chuyện trạng/ Lại lên xanh lấp lánh mắt cười”. Tính tình của Ngô Minh, tôi biết quá, rất là chân chất, khí khái, giống như đúc những điều anh kể trong “thế giới” Quảng Trị của anh.

Tôi còn nhớ một tuyển tập thi văn của Quảng Trị có tên là “Đất Kim Cương”. Tôi cho rằng đó là một cái tên khái quát rất giỏi; và nghĩ rằng, nếu đào lên, ta sẽ gặp trong lòng đất không phải là vàng mà là kim cương. Quả thật không nơi đâu mà những con người “chân quê” đã biết sống bản chất đến như vậy!

Vì lẽ đó, tập thơ này của Ngô Minh cuốn hút tôi không ngờ, thức dậy trong tôi những suy tưởng hầu như không mấy ai còn nghĩ tới nữa, giữa thế giới thị trường bây giờ. Xin chân thành cảm ơn nhà thơ, đã một lần thổ lộ với tôi những bí mật tận đáy lòng, trên những trang sách đầy ắp “chất Quảng Trị” này!

(*) “Huyền thoại Cửa Tùng”, Nxb Thuận Hoá - 2004

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 » »»