Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Toạ đàm về hai cuốn tiểu thuyết “Trùng tu” và “Khê ma ma” của nhà văn Thái Bá Lợi

0 trả lời, 28 lượt xem — Trang 1 / 1
Toạ đàm về hai cuốn tiểu thuyết “Trùng tu” và “Khê ma ma” của nhà văn Thái Bá Lợi

Làm ánh lên lẽ sống của dân tộc và phẩm giá con người trong chiến tranh

Đó là ý kiến của nhà thơ Hữu Thỉnh trong lời bế mạc Toạ đàm. Ông nói rằng ngày nay việc nhà văn viết về chiến tranh như lúc nó đang diễn ra không đáp ứng đủ đòi hỏi của người đọc, mà phải làm ánh lên lẽ sống của dân tộc và phẩm giá con người trong chiến tranh.

Đấy cũng chính là cái tâm điểm mang tính tranh luận giữa các ý kiến phát biểu trên diễn đàn cuộc Toạ đàm này. Rất đáng lưu ý khi tiểu thuyết Trùng tu, chỉ với 168 trang, xuất bản năm 2003 đã khơi lên nhiều luồng dư luận xung quanh việc cuốn sách này đưa ra một cái nhìn mới mẻ về đề tài chiến tranh kể từ sau 1975, lại chọn khung cảnh câu chuyện ở một trong những điểm “nóng” nhất: Chiến trường Thừa Thiên - Huế sau Tết Mậu Thân. Cuốn Khê Mama, không trực tiếp viết về chiến tranh, có lẽ gây chú ý trước hết vì sự lạ lẫm của nó đối với những nhà văn cựu binh, mà đa phần đều biết về cuộc sống không được suôn sẻ của nhà văn Thái Bá Lợi. Ngoài phương diện tìm tòi về đề tài và bút pháp, Khê Mama không được nhắc đến nhiều ở toạ đàm này.

Hiện diện tại hội trường số 9 Nguyễn Đình Chiểu vào buổi sáng 26-11-2004 là những tham dự viên có chọn lọc, theo lời giới thiệu của trưởng ban tổ chức toạ đàm - nhà văn Trung Trung Đỉnh. Tuy nhiên, số không đông người này - 15 người kể cả các nhà báo - lại gián tiếp có một ý nghĩa nhắc nhở về sự đòi hỏi của bạn đọc về các tác phẩm văn chương về đề tài chiến tranh.

Tham dự gồm có: Nhà thơ Hữu Thỉnh, Nhà văn Nguyễn Trí Huân, Nhà phê bình Ngô Thảo, Nhà văn Trung Trung Đỉnh, Nhà văn Thái Bá Lợi, Nhà thơ Lê Quang Trang, Nhà văn Bảo Ninh, Nhà văn Khuất Quang Thụy, Nhà thơ Ngô Thế Oanh, Nhà văn Nguyễn Quang Lập, Nhà văn Nguyễn Việt Hà, Nhà văn Phạm Ngọc Tiến và Nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn.

Trong lời phát biểu khai mạc toạ đàm, nhà thơ Hữu Thỉnh cho biết báo Văn nghệ vẫn thường tổ chức các buổi toạ đàm, hội thảo về các vấn đề văn học và tác phẩm cụ thể. Cuộc toạ đàm này nằm trong thông lệ đó. Trong bối cảnh chuẩn bị dịp kỷ niệm lớn 60 năm ngày thành lập QĐND Việt Nam, Báo Văn nghệ chọn việc tổ chức toạ đàm hai cuốn tiểu thuyết mới của nhà văn Thái Bá Lợi bởi trong thế kỷ XX vừa qua, Chiến tranh và Cách mạng là những sự kiện vĩ đại và quan trọng nhất của lịch sử dân tộc, và trong ánh sáng đó, việc thảo luận về tiểu thuyết của Thái Bá Lợi hôm nay là đụng chạm đến một vấn đề rất lớn thuộc về những giá trị của dân tộc. Trong khung cảnh xã hội đất nước đang đổi mới thì văn học cũng đang đổi mới và nhiều nhà văn đang tìm kiếm một cách dữ dội để tự vạch cho mình con đường riêng, nói như nhà văn Trung Trung Đỉnh, ấy là sự tự vượt lên mình.

Sau phần khai mạc, nhà văn Thái Bá Lợi được mời lên diễn đàn. Rõ ràng những người tham dự ở đây không có gì là xa lạ, nhưng ông xúc động. Rất kiệm lời, ông nói ngay vào chuyện nhiều người đã hỏi ông vì sao, trong Trùng tu, ông viết về Mậu Thân mà không có nhiều chết chóc. Cười điềm tĩnh ông nói, tôi trả lời rằng tôi không viết về cái đó, tôi viết cái mà tôi biết… Cũng vậy, như trong Khê Mama, tôi viết những gì tôi đã suy nghĩ chín chắn.

Đó là, ít ra, hai chủ đề quan trọng mà nhà văn Thái Bá Lợi cũng như những người ngồi đây hiển nhiên hiểu rằng dư luận quan tâm và họ ngồi lại ở đây để nói đến chuyện ấy. Nhà phê bình Ngô Thảo lên tiếng ngay sau đó. Ông trước tiên nhắc đến một thực trạng hữu quan bên phía các nhà phê bình. Trong một hội thảo về lý luận văn học mới đây bên Viện Văn học, nhiều nhà chuyên môn đã tỏ ra bức xúc - ông cho biết - họ kêu lý luận phê bình thụt lùi, mất phương hướng, phải đổi mới. Nhưng theo Ngô Thảo thì, ông đã xem lại vài cuốn sách cũ, cái nền căn bản vẫn đầy đủ còn đó, họ muốn đổi mới cái gì khi sáng tác chưa có tác phẩm hay… Việc của phê bình, ông nói, là tìm ra tác phẩm hay và chỉ cho người đọc biết cái hay ở chỗ nào. Ông bày tỏ một mối quan tâm hiện nay của ông là cần tăng cường cái nguồn sáng tạo - cụ thể ở đây là những người sáng tạo - cho văn học nghệ thuật, thu hút những con người tài năng vào việc mà ông nhấn mạnh là “sản xuất tác phẩm”. Nhấn mạnh một lần nữa và so sánh với mật độ dày đặc các chương trình truyền hình, ông nói cần phải tạo ra sản phẩm, phải có tác phẩm trước đã, nên coi việc đánh giá là chuyện của đời sau, còn bây giờ đây nếu cứ mười năm mới có được một tác phẩm thì… Rồi ông bày tỏ Thái Bá Lợi làm ông xúc động với Khê Mama, một chuyện “tình” mà không có “dục”, một chuyện thanh thoát như là kết quả những năm chiêm nghiệm Thiền đạo của chính tác giả. Đối với thời buổi ngày nay, cách sống của Thái Bá Lợi là một thách thức - ông nói - và tác phẩm Khê Mama đưa ra một mẫu hình trong sáng, thanh thản và thông qua đó tinh thần nhân bản của quá khứ trở nên những chuẩn mực của tương lai như cách ứng xử nhân ái, đời sống tinh thần cao đẹp v.v… Và nhà phê bình đưa câu chuyện đó về Trùng tu: Huế lúc ấy là một chiến trường đẫm máu, có nhiều việc người ta không thể xử sự khác đi được, nhưng không phải không có chút gì tình người hay tinh thần cao thượng. Theo ông, ở đây là bộ mặt thật của chiến tranh, trong đó có cái ác nhưng vẫn có cái Thiện. Ông nhận xét thêm: Con người trong chiến tranh ở đây không tỏ ra buông thả lối sống - đó là sự thực. Nhà phê bình nhận xét lạnh lùng, có những tác phẩm viết về chiến tranh, rốt cuộc “đã làm hỏng chiến tranh”.

Có lẽ tán đồng cách nhìn ấy, nhà thơ Lê Quang Trang cho rằng trong những năm qua luôn có hai cách nhìn, cách thể hiện: Tô hồng hiện thực và làm u ám hiện thực. Theo nhà thơ, cách nhìn của Thái Bá Lợi là một cách nhìn điềm tĩnh, thể hiện ở những cái nhân hậu giữa những tình huống quyết liệt. Trùng tu cung cấp những hiểu biết trung thực đáng quý về chiến tranh. Về tác phẩm Khê Mama, nhà thơ cho rằng Thái Bá Lợi nhậy cảm về cái mới thông qua hình ảnh nhân vật cô gái Khê Mama. Với một chút ngập ngừng, nhà thơ nói có lẽ cuộc sống hôm nay đã hình thành những kiểu người mới mẻ, đa dạng, phong phú. Nhà thơ tỏ ra chắc chắn hơn khi ghi nhận những nỗ lực đổi mới ngôn ngữ nghệ thuật tiểu thuyết của Thái Bá Lợi: Tuy không thật mới những rõ ràng là những tìm tòi gây ám ảnh cho người đọc, nói về cái hôm qua bằng cái hôm nay, đưa lại một cái nhìn sâu sắc về cuộc chiến tranh, làm nổi bật phẩm giá con người trong chiến tranh. Đây là điểm nhấn trong nhận xét của nhà thơ.

Một người dường như còn xúc động hơn cả nhà văn Thái Bá Lợi, đấy là nhà văn Nguyễn Trí Huân. Ông dành nhiều lời kể lại những kỷ niệm khi hai ông còn là chiến sĩ và bắt đầu viết lách giữa chiến trường. Đối với ông và một vài nhà văn nữa có mặt trong toạ đàm này - dường như văn chương về chiến tranh vĩnh viễn gắn tên Thái Bá Lợi với những Vùng chân Hòn Tàu, Thung lũng thử thách, Hai người trở lại trung đoàn, Họ cùng thời với những ai, Đội hành quyết... Nhà văn Nguyễn Trí Huân nhắc đến Khê Mama với một ấn tượng: “Sao lại mỏng thế?”. Ông nói, ông đòi hỏi Thái Bá Lợi như vậy - Nhưng, Nguyễn Trí Huân khẳng định cuốn sách mỏng đó đúng là có một thực chất tiểu thuyết, một tiểu thuyết hiện đại. Điều mà ông nhấn mạnh trong nhận xét về cả hai cuốn sách mới của Thái Bá Lợi chính là tính giản dị và chân thực. Chân thành, ông nói về sau này ông có học Thái Bá Lợi về tính giản dị và chân thực đó. Đây âu cũng là một cách khen chăng! Bởi vì, đối với những người đã từng cầm súng trực tiếp đối mặt với cuộc chiến, dường như nói nhiều về sự ác liệt, nghiệt ngã hay về cái thảm khốc thì không phải bất cứ ai trong họ cũng ưa, đặc biệt khi họ là nhà văn. Có lẽ nhà văn Nguyễn Trí Huân không thích nói chuyện giết chóc chỉ là giết chóc, cho nên ông nhắc nhiều đến kỷ niệm và tính giản dị, sự chân thực.

Người tham luận trực tiếp sau hẳn là được chú ý nhiều hơn bởi anh là một trong vài “tay” tiểu thuyết nổi bật trong mấy năm lại đây. Nhưng Nguyễn Việt Hà lại hơi lúng túng. Nhà văn này được biết là một tay đọc nhiều. Anh nói, tôi đã đọc vô số sách về đề tài chiến tranh và, với tư cách người đi sau, tôi rất tò mò về cách viết của các đàn anh. Từ góc độ đó, anh liên hệ Trùng tu với tiểu thuyết Lạc rừng của nhà văn Trung Trung Đỉnh, chắc chắn là một cuốn rất lạ trong rất nhiều văn chương về chiến tranh của Việt Nam. Theo nhà văn Nguyễn Việt Hà, trong hai cuốn sách này có đặc điểm là, nhân vật chìm vào trong cuộc chiến, mà theo anh, hiệu quả của nó khiến những người đọc trẻ thấy chiến tranh “gần” hơn, dễ tiếp cận hơn, mặc dù nó vẫn khốc liệt và nghiệt ngã. Anh nhận xét bằng một vài thí dụ: Nhân vật “chầu rìa” lặng lẽ trong bữa nhậu tự nhiên vẫn gợi ta hình dung ra “một cái gì đó” rất sâu về con người. Gặp nhân vật tha hoá trong đơn vị bộ đội thời chiến tranh,bây giờ nhơn nhơn sống trong thời bình, ngòi bút của nhà văn không phác hoạ một cách phẫn nộ… (Trùng tu) - Chính vì cách ứng xử cao thượng và nhân hậu đã tạo nên những suy ngẫm về những nhân vật như thế khiến chất tiểu thuyết trở nên đậm đặc và sâu sắc. Bởi lẽ, một chủ đề phá vây là đã rất quen thuộc trong văn chương về chiến tranh của chúng ta, nên cách xử lý của Thái Bá Lợi làm thay đổi một thứ “lối mòn”. Nguyễn Việt Hà nhấn mạnh: “Sách đẻ ra sách” - Có những cuốn sách khiến người ta muốn suy nghĩ, muốn viết ra một cái gì đó, Trùng tu là một cuốn như vậy.

Nhà văn Bảo Ninh, đến lượt anh, ban đầu tỏ ra anh chưa định nói gì. Nhưng thật bất ngờ, anh bộc lộ mạnh mẽ. Bảo Ninh cho rằng là một người đọc, anh chỉ đọc cái gì “vào” được mình. Khê Mama, anh nói, tôi chưa quen, chưa “vào” được. Còn Trùng tu thì tuyệt vời. Bảo Ninh cho rằng viết về chiến tranh Thái Bá Lợi nằm trong số các nhà văn hàng đầu, không thể so sánh. Anh lập tức liên tưởng đến những văn chương và phim ảnh đã làm tầm thường hoá cuộc chiến - theo anh - đó là cả một làn sóng của những cái giả tạo, những cái tạo thành một bức tường ngăn cách giới trẻ và những người viết trẻ với những nhân vật và con người quá khứ. Anh nói, sau thời “tô hồng”, có một thời người ta viết bi thảm hoá một cách giả tạo. Do đó, theo anh, Trùng tu thầm lặng nhưng lớn, có tác dụng chỉnh đốn đối với những cái giả tạo kia. Anh nói, cuốn sách làm cho tôi lặng người: Đấy là cuộc chiến. Đấy là bộ binh. Thật khủng khiếp. Buồn cười và kỳ quặc nữa … Quá giỏi! Ông nhấn mạnh. Làm sao nghĩ ra một chủ đề Trùng tu song song với hồi ức của một người lính trở lại chiến trường xưa!

Ngược với cái hùng hồn mạnh mẽ của Bảo Ninh, nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn nhẹ nhàng có vẻ đầy ý tứ. Anh nhận xét: Trùng tu là đáng trọng nhưng đáng tiếc vì sao nó không sâu hơn và dài hơn. Anh liên hệ đến văn chương về chiến tranh ở Mỹ và Nga và anh cho rằng chúng ta vẫn còn đang né tránh tính chất bi thảm của cuộc chiến. Anh kể lại ấn tượng khi nghe người chú của mình, một phi công chiến đấu, đã kể về chiến tranh những câu chuyện rất khác… Theo Nguyễn Thanh Sơn, nửa sau thế kỷ XX, như các nhà phê bình nước ngoài nhận xét, là thời của thể loại tiểu tự sự. Đối lập với kiểu đại tự sự đầu thế kỷ, tiểu tự sự - thí dụ như tiểu thuyết Tháng Tám năm Bốn Tư (của V.Bogomolov, Nga) - nói về những con người và câu chuyện nhỏ nhưng có sức khái quát, đưa ra nỗi vô vọng của các chiến binh ở cả hai phía chiến tuyến. Anh cho rằng Trùng tu đưa ra một cuộc phá vây chưa đủ độ cái bi thảm và cái vô vọng đó; ngoài ra, lối kết cấu đồng hiện ở đây chưa chặt chẽ, cần có nhiều mối liên hệ nữa. Nhà phê bình nhấn mạnh rằng tác phẩm này nên được phát triển cho bề thế hơn.

Nhưng có lẽ nhà văn Phạm Ngọc Tiến cảm nhận khác hẳn về cái bi thảm ở Trùng tu. Anh kể, tôi đọc một mạch xong, cảm thấy buồn và uất ức, đây là một tác phẩm rất ám ảnh, tôi buồn đến nỗi đọc xong bỏ đi uống rượu một mình… Theo anh, văn chương chỉ có hai loại: gây ám ảnh và không gây ám ảnh. Anh gần như kêu lên: Các nhà phê bình hãy xem đi! ở Trùng tu tôi thấy một kiểu nhân vật mới - nhân vật không tâm trạng. Người kể chuyện trong tiểu thuyết thì phân thân và không rõ, và cũng với những nhân vật không tâm trạng, tất cả cứ hun hút sâu, cuốn lôi người đọc vào!

Nhà thơ Ngô Thế Oanh điềm đạm đứng lên. Động tác sửa cặp kính trên mắt của anh có vẻ nhiều xúc động. Anh nói anh đồng tình với hầu hết các ý kiến. Anh bảo, tất cả đều chí lý, các nhà văn đã nói cả rồi. Anh nói, tôi cũng đồng ý với Nguyễn Thanh Sơn, giá như anh Thái Bá Lợi triển khai sâu rộng hơn nữa cuốn Trùng tu này. Đây dường như cái “đòn bẩy” của nhà thơ. Anh lập tức nhấn mạnh: Nhưng Thái Bá Lợi là người viết kỹ, từng câu chữ, từng hình tượng. Và theo anh, Thái Bá Lợi rất điềm tĩnh, rất hiện thực, không bao giờ ngoa ngôn, không bi thảm hoá, không nhìn một cách đen tối. Nhà thơ nhiệt liệt ca ngợi bút pháp giản dị tự nhiên của Thái Bá Lợi và theo nhà thơ, mọi thứ có thể qua đi nhưng các giá trị bộc lộ qua chiến tranh sẽ còn lại mãi trong bút pháp ấy. Bởi thế, thời đại và cuộc chiến qua Thái Bá Lợi là trung thực và tin cậy được, thậm chí có thể coi là thứ của quý, nhắc mai sau một nguồn tài liệu cho sử và ngôn ngữ.

Đặc biệt tán thành ý kiến này, nhà văn Trung Trung Đỉnh nói thêm: Ngụy Ngữ có lần bảo với tôi, văn Thái Bá Lợi lạnh lùng. Cái lạnh lùng quý hiếm của một tâm hồn giàu cảm xúc. Anh nói, tôi chơi với Thái Bá Lợi và thấy anh bao giờ cũng điềm tĩnh tối đa. Tôi đọc anh và học tập được ở anh về thái độ của nhà văn trước hiện thực.

Nhà văn Nguyễn Quang Lập vẫn thẳng thắn và độc đáo như vốn thế. Nhắc lại kỷ niệm ban đầu của mình như một học trò nhỏ của Thái Bá Lợi - anh nói, tôi tự nhận, chứ không được anh ấy công nhận - Nguyễn Quang Lập bảo anh cũng buồn như Phạm Ngọc Tiến khi đọc xong Trùng tu. Nhưng, anh buồn một phần khác vì, theo anh, nếu anh có một cuộc đời chiến binh như Thái Bá Lợi thì hẳn anh không như bây giờ. Nguyễn Quang Lập nhận xét: văn Thái Bá Lợi có sức ám ảnh, chậm rãi và điềm tĩnh, nhưng, anh nói, nếu suốt cả tác phẩm vẫn chậm như thế thì sẽ nặng nề gây chán. Mình có kỷ niệm, biết chiến tranh, mình cảm động, nhưng liệu những người không có kỷ niệm có cảm động hay không? Anh nói, thời rock rap, văn không chậm được. Tuy nhiên, anh quay sang nhà thơ Hữu Thỉnh và nói: Báo Văn nghệ và Hội Nhà văn, các vị phải làm ầm lên mỗi khi có tác phẩm hay, để bạn đọc chú ý, để thế hệ trẻ tìm đọc chứ! Anh bảo, mình còn điềm đạm quá, còn tự biên tập mình nhiều quá nên văn chậm. Anh cho rằng giá như Thái Bá Lợi có thêm những cái “giá như” để thu hút được bạn đọc trẻ thì thật tuyệt! Theo anh, Thái Bá Lợi đã có những đổi mới quan trọng, nhưng vẫn cũ.

Giờ đây, người phát biểu là Khuất Quang Thụy và nhà văn này trông đầy suy tư nghiêm ngắn. Trong diễn đàn này anh duy nhất trông vẫn như một chiến binh. Anh nói khá thận trọng và chắc chắn: Trong lớp chúng tôi, Thái Bá Lợi là người tìm tòi khám phá. Tôi nhớ sâu sắc về truyện Đội hành quyết của anh, đầy trăn trở, mãi không in được… Đó chính là cái tiểu tự sự đấy! Đọc Trùng tu cũng thế, thấy cả một đơn vị chấp hành mệnh lệnh, đi và đánh nhau mà hình như cũng chỉ để nghi binh… Đấy là một nghịch lý của chiến tranh. Giờ đây, đưa lên cái hồi ức đó là một cách làm được. Có lẽ nhà văn Khuất Quang Thụy vẫn đầy băn khoăn khi cần phải biện hộ cho Trùng tu trên phương diện này. Đơn giản đó là những điều không dễ nói, dù có thể là viết thì dễ hơn. Cho nên anh nhấn mạnh, cống hiến của Thái Bá Lợi cho tư duy tiểu thuyết qua những cách tìm tòi riêng trong Trùng tu là rất đáng nể. Tuy nhiên, anh cũng “nhắc nhở” Thái Bá Lợi cần phải sinh động hơn, dù rằng, anh công nhận, sách của Thái Bá Lợi luôn bị kêu là mỏng, nhưng trong đó chính là một tư duy tiểu thuyết mới.

Cuối cùng nhà thơ Hữu Thỉnh kết luận toạ đàm khi mà, có thể, nếu kéo dài thêm cuộc tranh luận sẽ là thực sự dài. Ông chỉ đưa thêm một nhận xét: Tôi chú ý trang cuối của Trùng tu - Đây là cuốn sách có tư tưởng, có triết lý, có nghĩ ngợi và có tính xã hội. Trong văn học, nhiều khi câu chuyện chỉ là cái cách, cái cớ để nhà văn đưa ra thông điệp của riêng anh, và tiểu thuyết Thái Bá Lợi có cái thông điệp. Đấy chính là điều ông kết luận từ diễn đàn toạ đàm này: Các nhà văn viết về chiến tranh cần phải làm ánh lên lẽ sống của dân tộc và phẩm giá con người trong chiến tranh.

Nguyễn Chí Hoan

(Báo Văn nghệ)















Thái Bá Lợi trùng tu ký ức

Thanh Thảo

Những nhân vật của Thái Bá Lợi thường bước ra từ ký ức của anh. Không ai có thể nhớ mọi thứ, kể cả nhà văn. Nhưng những khoảng “bất chợt nhớ” của nhà văn có vẻ nhiều hơn của người thường. Những câu văn của Thái Bá Lợi cũng có vẻ được gọi ra từ ký ức, những câu văn vừa hoàn chỉnh vừa lấp lửng. Thì ký ức vốn là vậy, nó cũng thường lấp lửng trong hoàn chỉnh, và ngược lại. Trùng tu những điều lấp lửng, những ánh vụt loé ấy còn gian khó hơn trùng tu Thế Miếu của Huế nhiều. Vậy mà TBL đã quyết TRÙNG TU. Đúng ra, anh cùng những nhân vật của mình trùng tu những “bức tường gạch đen sì một vệt dài trong đêm” của quá khứ, cái “ánh nắng đầu tiên” sau những ngày mưa lê thê ở Huế hồi Mậu Thân. Trong đội hình một trung đoàn đánh vào Huế Tết 68, nhân vật của TBL đã nhắc nhà văn nhớ lại căn hầm hai người đã nằm bên nhau trong Thành Nội, mà bây giờ “bức tường trước cửa hầm thì còn nguyên. Điều kỳ lạ hơn nữa là vệt máu của tao vẫn còn trên tường. Hình như còn cả dấu tay của mày ấn vào đó sau khi băng cho tao” (TRÙNG TU-trang 13). Nghe đến đây có lẽ người đọc sẽ mỉm cười. Nhưng tác giả đã mỉm cười trước cả người đọc: “Tôi mỉm cười. Nhờ có chút ít kiến thức về cơ chế máu nên tôi không tin hẳn vào lời nói của nó. Con người vẫn thường nhìn thấy những điều mà họ nghĩ.( tôi in nghiêng câu này-Th.Th.) Thực ra, không cần có thêm kiến thức về cơ chế máu người ta vẫn biết câu nói của nhân vật ẩn một ý khác. Cái anh ta nhìn thấy có thể không còn ở nơi mà anh ta nhìn. Nhưng nó vẫn còn đâu đó trong cái khoảng nhớ quên đầy day dứt, đôi khi đau đớn của anh. Và dĩ nhiên, của tác giả. Và Thái Bá Lợi quyết “trùng tu” những nỗi day dứt đó. Không theo kiểu người ta “chơi” bê tông hay xi măng lên những di tích,mà theo kiểu người đi trong đường hầm thỉnh thoảng quẹt lửa lên soi một khoảng tối nào đó của ký ức. Trong thoáng chốc ánh lửa loé lên, nhà văn cho chúng ta thấy một góc bất chợt một góc bị quên lãng bị xếp xó với biết bao số phận những người lính. Cả một trung đoàn đánh xuống Huế, trụ trong lòng thành Huế mấy chục ngày, rồi rút “lên xanh”, rồi lại hạ sơn, vòng phía sau Huế để thực hiện một mệnh lệnh nào đó của cấp trên nhằm “nghi binh” hay gì gì đó, để cuối cùng, gần như cả trung đoàn bị xoá sổ. Và có thể, không để lại dấu tích gì, bởi chiến tranh đi qua đã lâu, người ta lại chỉ lưu vào bộ nhớ những gì có lợi cho mình.Thấy lại những vệt máu trên thành Huế của những người lính trung đoàn đó ư? Chuyện hoang đường! Nhưng nghĩa vụ đau đớn của nhà văn là phải nhớ lại những chuyện hoang đường đó, phải cấp lại “sổ đỏ” cho những gì mà người ta đã “xoá sổ” qua tháng năm. Số phận của cả một trung đoàn. Và số phận của những người lính, của từng người lính trong “trung đoàn Igor” ấy. Hồi xưa là anh hùng ca. Tráng ca. Bi ca. Bây giờ là rap là rock là linh tinh ca, vu vơ ca,là gì cũng được miễn không phải là tụng ca dễ dãi cái chết của cả một trung đoàn. Tôi đọc TRÙNG TU mà nhiều lúc cứ nghèn nghẹn. Chính cái giọng văn không đa cảm, cái giọng văn cứ thường thường, cứ tưng tửng, không đao to búa lớn, không triết lý rùm beng của TBL đã khiến tôi nghèn nghẹn. Và chính câu chuyện không đầu không đũa, nhớ trước quên sau, đứt nối như những cơn mưa bất chợt đã không cho người đọc hời hợt là tôi một chỗ trú ẩn nào. Tôi cứ như bị phơi ra để đối mặt với từng trang sách không ra kể chuyện mà không ra tự thú kia,vừa bị một lực hút khó cản vừa chịu một lực đẩy hay rung lắc vừa phải để không phải đa cảm non hay sướt mướt hão. Tôi biết Thái Bá Lợi đã có thời đi tu. Nhưng tôi nghĩ, anh suốt đời không ra khỏi ngôi- chùa- ngôn- ngữ. Thực ra, nhà văn là kẻ tu hành trong ngôi chùa ngôn ngữ của chính mình, ngôi chùa do mình dựng bằng cách quyên góp số phận những nhân vật, đúng hơn, là những con người mà có thể mình đã sống chung, đã chia sẻ, hoặc mình tưởng đã từng có họ. Rồi có thể, cả một trung đoàn đã chết kia, đã bị “xoá sổ” kia chỉ còn lại trong một quyển sách dày có 166 trang. Còn lại giữa những câu nói tưng tửng, những ý nghĩ rời rạc, những tình cảm mới chớm và thiếu thời gian để chia sẻ. Không có một mối tình quân dân cá nước hay nước cá nào trong quyển tiểu thuyết ngắn như những ngày vào Huế Mậu Thân này. Nhưng người ta sẽ không quên được những hình ảnh thoáng qua của một ông lão và đứa cháu đã giúp đỡ những người lính trung đoàn, hình ảnh một cô gái tên Mai “có vẻ là đẹp” bởi chẳng thấy mặt người chỉ nghe tiếng nói. Còn những người lính, từ trung đoàn trưởng trở xuống cũng chỉ xuất hiện thấp thoáng, vội vã, ngước nhìn, nói vài câu, rồi đi khuất, như một câu văn bí ẩn của Suksin. Chiến tranh là thế, nhiều khi đến cái chết cũng như tình cờ, như thoáng qua. Tình cờ mà chết, thoáng qua mà chết. Nhưng phải làm sống lại những số phận như vụt thoáng ấy, và làm cách nào là điều mà Thái Bá Lợi đã thử qua hàng loạt truyện ngắn truyện vừa và tiểu thuyết ngắn về đề tài chiến tranh của anh. Với nhà văn, đề tài nào thì cũng thế: đề tài tuyệt vời mà cách viết dở thì cũng xong, cũng vứt. Nhiều khi cách kể một câu chuyện hay một cái gì đại loại như câu chuyện lại quan trọng hơn chính bản thân câu chuyện. Thái Bá Lợi hiểu điều ấy nên anh bắt đầu những tiểu thuyết của mình bằng những câu văn, bằng những câu đối thoại hay nửa đối thoại nửa độc thoại. Đó là cách hành văn của người tu tập thiền nhiều khi nửa nói nửa dừng, nói như không nói, và ngược lại khi chợt lặng là lúc nói được nhiều hơn. Tôi thích những câu văn của Thái Bá Lợi. Nó không thật rõ ràng,nhiều lúc nó có vẻ không văn xuôi lắm. Anh dường như là người viết chậm, cứ để những câu văn tự chín trong đầu rồi mới từ từ viết ra. Viết như thế không kinh tế thị trường, mà hơi giống cách của người làm vườn. Làm vườn bây giờ thì hầu như thu nhập thấp. Tôi nghĩ Thái Bá Lợi đã chấp nhận thu nhập thấp trong văn chương. Anh trùng tu ngôn ngữ theo cách của anh, không chịu bê tông hoá hay xi măng hoá cho nhanh, cho xong béng. Anh cứ từ từ, nhiều lúc nhẩn nha đến sốt cả ruột. Nhờ vậy, tôi và nhiều người mới có dịp đọc những tiểu thuyết mong mỏng như BÁN ĐẢO hay TRÙNG TU. Dù bây giờ nói thật, tôi cũng chưa rõ Thái Bá Lợi định trùng tu cái gì ? Ký ức chiến tranh hay ngôn ngữ của chính anh. Có lẽ cả hai, mà có khi lại là cái khác. Thái Bá Lợi thường không rõ ràng như vậy. Cả trong đời lẫn trong văn.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0