Cảm nhận bước đầu về văn phê bình của Trịnh Thanh Sơn
Trần Nhã Thuỵ
Phải thừa nhận Trịnh Thanh Sơn là người viết khoẻ. Miệt mài và đam mê trên cánh đồng thơ muôn hồng nghìn tía, Trịnh Thanh Sơn luôn tâm niệm: “Chỉ viết cái gì tôi ưa thích, tôi đồng cảm. Chỉ viết những gì tôi coi là hay”. Quả đúng như vậy. Cho nên, dù thẩm bình, nghiên cứu những nhà thơ có nhiều đóng góp cho nền văn học; hay tìm kiếm, giới thiệu những tác giả mới vào nghề; bao giờ Trịnh Thanh Sơn cũng thể hiện một thái độ trân trọng và đầy hào hứng, nghiêm túc và hết sức cẩn thận.
Văn phê bình của anh gây ấn tượng cho người ta ngay từ cái tiêu đề. Những tên bài không chỉ thâu tóm được ý đồ của người viết mà còn lẩy được cái hồn cốt của những tập thơ, tác giả thơ mà anh giới thiệu: “Những ám ảnh hoá thạch trong Bầy chim lá màu vàng” (1), “Đồng đội ơi! Hay là những chuyến chở về”(2), “Nguyễn Hòa Bình lẳng lặng Tìm về để Hỏi mình” (3)… Có thể thấy, Trịnh Thanh Sơn không hề dễ dãi với mình ngay từ việc đặt nhan đề cho những bài viết. Có phải nhà phê bình này muốn tạo ra phong cách riêng của mình bắt đầu từ đó hay ý thức về cá tính của người cầm bút luôn thường trực trong anh? Cũng có khi, những tiêu đề được lẩy từ những câu thơ của chính tác giả mà anh giới thiệu. Và đó bao giờ cũng là những câu hay, gây được ấn tượng, gợi được hứng thú của người đọc: “Thơ trữ tình Nguyễn Trọng Tạo - Bức tranh không năm tháng”(4), “Bùi Hữu Thiềm - người cời than giữ lửa” (5), “Xứ Đoài mây trắng… có em tôi”(6)…
Cách nói của Trịnh Thanh Sơn cũng có sức hấp dẫn đến lạ. Nhiều từ, nhiều chữ, nhiều câu, thoạt nghe có vẻ buông tuồng, cợt nhả, như lời nói thường mà kỳ thực rất đúng đối tượng, nó thể hiện một nhu cầu rất mãnh liệt của anh muốn được nói cho đủ, cho sâu, cho thoả những gì anh cảm nhận, chiêm nghiệm. Về Nguyễn Hoà Bình, anh viết thế này:
“Nghiệm ra ở đời, những người cả nghĩ và thuỷ chung là những người khổ, những người “chập cheng”, những người “khư khư mình buộc lấy mình vào trong”, những kẻ thân làm tội đời!”.
Hoặc về Trương Vĩnh Tuấn: “Thế mới biết, làm một nhà thơ đâu có dễ, lại càng không dễ nếu như anh ao ước được làm việc ở “Ngôi nhà kia”, ngôi nhà “thâm nghiêm kín cổng cao tường, cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh?!”.
Suy cho cùng ở đời nhiều khi nói được cho hết ý mình cũng đâu phải dễ. Tư duy phải sắc sảo, thông minh đã đành mà khả năng vận dụng từ ngữ sao cho đúng, cho sát trong cái bể vô cùng của ngôn từ cũng rất quan trọng. Trịnh Thanh Sơn may mắn có cả hai.
Cái vẻ duyên, hấp dẫn của văn phê bình Trịnh Thanh Sơn còn thể hiện ở chỗ: anh không gò mình vào một cái khuôn đúc sẵn nào. Có thể mượn cách nói của Phạm Tiến Duật về nhà thơ Xuân Diệu mà nói về anh: Câu văn phê bình của Trịnh Thanh Sơn vừa có tim, vừa có óc. Là người làm thơ, sành thơ, anh không thể không am tường về thể thơ, luật thơ, nhạc thơ, điệu thơ, ngôn ngữ thơ… Song, không phải lúc nào anh cũng dùng những lý luận bài bản đó để hiểu thơ, cảm thơ người khác. Có cảm giác anh không chỉ đọc bằng mắt. Anh đã từng buồn hết cả một buổi chiều vì mấy câu thơ của Bùi Hữu Thiềm, anh đã bồi hồi xúc động nhiều đêm trước những bài thơ viết về đồng đội của Trương Vĩnh Tuấn, anh cũng đã “suy nghĩ rất lung” để có thể phát hiện ra “nỗi ám ảnh hoá thạch” của Nguyễn Đức Mậu trong tập thơ “Bầy chim lá màu vàng”… Anh huy động cả con người mình” trái tim, khối óc, những hiểu biết sâu rộng về văn học cổ kim… để gọi ra được những điều người làm thơ muốn nói. Và anh đã đến với mỗi người thơ ấy bằng một tấc lòng tri âm. Bởi vậy, những bài phê bình, giới thiệu thơ của anh không chỉ giúp định hướng cho người đọc, mà còn góp phần không nhỏ trong việc tôn vinh những giá trị của các nhà thơ mà anh ưu ái, nhất là những cây bút đang chập chững vào nghề.
Trường liên tưởng phong phú, nhanh và thoáng cũng là một lợi thế của Trịnh Thanh Sơn khi viết văn phê bình. Khả năng này giúp cho người viết có thể chuyển từ ý này sang ý khác một cách tự nhiên mà không dài dòng, khiến cho các luận điểm, luận cứ liền mạch và có mối liên hệ chặt chẽ.
Nhưng thú vị nhất khi đọc những bài viết của Trịnh Thanh Sơn, với tôi, lại là những đoạn anh viết về người thơ. Chí lý mà cũng chí tình, những lời nhận xét của anh về người thơ Bùi Hữu Thiềm:
… “một hồn thơ đa cảm, đa tình, hài hước mà hóm hỉnh. Người thơ này cười cợt mà đạo mạo, lúng liếng mà nghiêm trang, bông đùa mà sâu sắc, tỉnh rụi mà đau đời”.
Về nhà thơ xứ Đoài - Quốc Toản:
… “có cá tính và cốt cách, phóng túng mà đắm say, trẻ trung mà điềm tĩnh, hài hước mà nghĩ suy… Người ấy biết mình đang ở đâu trong những nấc thang thời gian, ở chốn nào trong một miền không gian và ở vị trí nào trong cái chiếu hẹp của đời sống văn chương”.
Nghe cứ như thầy bói, cứ như đứng từ trong mà nói ra, khiến người ta “giật nảy mình”. Cảm được như thế, viết được như thế phải là người từng trải lắm, hiểu đời, hiểu người lắm. Hơn nữa, còn phải là người không chỉ biết sống cho mình, mà còn sống cuộc sống của nhiều người khác. Thú thực, tôi chưa hiểu nhiều về Trịnh Thanh Sơn, nhất là cũng chưa đọc hết cuốn “Đi dọc cánh đồng thơ” của anh, nhưng qua một số bài phê bình và giới thiệu của anh trên các báo, trong các tập thơ công bố gần đây, tôi thực sự quý trọng tài năng anh, con người anh.
Trong rất nhiều danh hiệu người ta có thể tặng cho anh: Nhà thơ, nhà văn, nhà đạo diễn điện ảnh, nhà báo, nhà phê bình văn học, Trịnh Thanh Sơn thích nhất được gọi là nhà thơ: Nhà thơ Trịnh Thanh Sơn. Điều đó hoàn toàn dễ hiểu, bởi thơ Trịnh Thanh Sơn đã có chỗ đứng, đã tạo được phong cách riêng, bởi anh ý thức rất rõ nhiều phẩm chất đáng quý ở người làm thơ chân chính. Song, cũng không thể phủ nhận anh là một nhà phê bình đã có nhiều đóng góp cho nền thơ Việt Nam hiện đại giai đoạn nửa sau thế kỷ XX.
(1) Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 608, Tháng 10-2004, Tr.97-99.
(1) Lời giới thiệu tập “Đồng đội ơi”, Trương Vĩnh Tuấn, Nxb Hội Nhà văn, 2004.
(3) Thay lời tựa tập “Hỏi mình”, Nguyễn Hoà Bình, Nxb Hội Nhà văn, 2004.
(4) Báo Văn nghệ số 39 (ngày 25-9-2004), Tr.6.
(5) Báo Văn nghệ Trẻ số 43 (ngày 24-10-2004), Tr.5.
(6) Báo Văn nghệ Trẻ số 44 (ngày 31-10-2004),
Trần Nhã Thuỵ
Phải thừa nhận Trịnh Thanh Sơn là người viết khoẻ. Miệt mài và đam mê trên cánh đồng thơ muôn hồng nghìn tía, Trịnh Thanh Sơn luôn tâm niệm: “Chỉ viết cái gì tôi ưa thích, tôi đồng cảm. Chỉ viết những gì tôi coi là hay”. Quả đúng như vậy. Cho nên, dù thẩm bình, nghiên cứu những nhà thơ có nhiều đóng góp cho nền văn học; hay tìm kiếm, giới thiệu những tác giả mới vào nghề; bao giờ Trịnh Thanh Sơn cũng thể hiện một thái độ trân trọng và đầy hào hứng, nghiêm túc và hết sức cẩn thận.
Văn phê bình của anh gây ấn tượng cho người ta ngay từ cái tiêu đề. Những tên bài không chỉ thâu tóm được ý đồ của người viết mà còn lẩy được cái hồn cốt của những tập thơ, tác giả thơ mà anh giới thiệu: “Những ám ảnh hoá thạch trong Bầy chim lá màu vàng” (1), “Đồng đội ơi! Hay là những chuyến chở về”(2), “Nguyễn Hòa Bình lẳng lặng Tìm về để Hỏi mình” (3)… Có thể thấy, Trịnh Thanh Sơn không hề dễ dãi với mình ngay từ việc đặt nhan đề cho những bài viết. Có phải nhà phê bình này muốn tạo ra phong cách riêng của mình bắt đầu từ đó hay ý thức về cá tính của người cầm bút luôn thường trực trong anh? Cũng có khi, những tiêu đề được lẩy từ những câu thơ của chính tác giả mà anh giới thiệu. Và đó bao giờ cũng là những câu hay, gây được ấn tượng, gợi được hứng thú của người đọc: “Thơ trữ tình Nguyễn Trọng Tạo - Bức tranh không năm tháng”(4), “Bùi Hữu Thiềm - người cời than giữ lửa” (5), “Xứ Đoài mây trắng… có em tôi”(6)…
Cách nói của Trịnh Thanh Sơn cũng có sức hấp dẫn đến lạ. Nhiều từ, nhiều chữ, nhiều câu, thoạt nghe có vẻ buông tuồng, cợt nhả, như lời nói thường mà kỳ thực rất đúng đối tượng, nó thể hiện một nhu cầu rất mãnh liệt của anh muốn được nói cho đủ, cho sâu, cho thoả những gì anh cảm nhận, chiêm nghiệm. Về Nguyễn Hoà Bình, anh viết thế này:
“Nghiệm ra ở đời, những người cả nghĩ và thuỷ chung là những người khổ, những người “chập cheng”, những người “khư khư mình buộc lấy mình vào trong”, những kẻ thân làm tội đời!”.
Hoặc về Trương Vĩnh Tuấn: “Thế mới biết, làm một nhà thơ đâu có dễ, lại càng không dễ nếu như anh ao ước được làm việc ở “Ngôi nhà kia”, ngôi nhà “thâm nghiêm kín cổng cao tường, cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh?!”.
Suy cho cùng ở đời nhiều khi nói được cho hết ý mình cũng đâu phải dễ. Tư duy phải sắc sảo, thông minh đã đành mà khả năng vận dụng từ ngữ sao cho đúng, cho sát trong cái bể vô cùng của ngôn từ cũng rất quan trọng. Trịnh Thanh Sơn may mắn có cả hai.
Cái vẻ duyên, hấp dẫn của văn phê bình Trịnh Thanh Sơn còn thể hiện ở chỗ: anh không gò mình vào một cái khuôn đúc sẵn nào. Có thể mượn cách nói của Phạm Tiến Duật về nhà thơ Xuân Diệu mà nói về anh: Câu văn phê bình của Trịnh Thanh Sơn vừa có tim, vừa có óc. Là người làm thơ, sành thơ, anh không thể không am tường về thể thơ, luật thơ, nhạc thơ, điệu thơ, ngôn ngữ thơ… Song, không phải lúc nào anh cũng dùng những lý luận bài bản đó để hiểu thơ, cảm thơ người khác. Có cảm giác anh không chỉ đọc bằng mắt. Anh đã từng buồn hết cả một buổi chiều vì mấy câu thơ của Bùi Hữu Thiềm, anh đã bồi hồi xúc động nhiều đêm trước những bài thơ viết về đồng đội của Trương Vĩnh Tuấn, anh cũng đã “suy nghĩ rất lung” để có thể phát hiện ra “nỗi ám ảnh hoá thạch” của Nguyễn Đức Mậu trong tập thơ “Bầy chim lá màu vàng”… Anh huy động cả con người mình” trái tim, khối óc, những hiểu biết sâu rộng về văn học cổ kim… để gọi ra được những điều người làm thơ muốn nói. Và anh đã đến với mỗi người thơ ấy bằng một tấc lòng tri âm. Bởi vậy, những bài phê bình, giới thiệu thơ của anh không chỉ giúp định hướng cho người đọc, mà còn góp phần không nhỏ trong việc tôn vinh những giá trị của các nhà thơ mà anh ưu ái, nhất là những cây bút đang chập chững vào nghề.
Trường liên tưởng phong phú, nhanh và thoáng cũng là một lợi thế của Trịnh Thanh Sơn khi viết văn phê bình. Khả năng này giúp cho người viết có thể chuyển từ ý này sang ý khác một cách tự nhiên mà không dài dòng, khiến cho các luận điểm, luận cứ liền mạch và có mối liên hệ chặt chẽ.
Nhưng thú vị nhất khi đọc những bài viết của Trịnh Thanh Sơn, với tôi, lại là những đoạn anh viết về người thơ. Chí lý mà cũng chí tình, những lời nhận xét của anh về người thơ Bùi Hữu Thiềm:
… “một hồn thơ đa cảm, đa tình, hài hước mà hóm hỉnh. Người thơ này cười cợt mà đạo mạo, lúng liếng mà nghiêm trang, bông đùa mà sâu sắc, tỉnh rụi mà đau đời”.
Về nhà thơ xứ Đoài - Quốc Toản:
… “có cá tính và cốt cách, phóng túng mà đắm say, trẻ trung mà điềm tĩnh, hài hước mà nghĩ suy… Người ấy biết mình đang ở đâu trong những nấc thang thời gian, ở chốn nào trong một miền không gian và ở vị trí nào trong cái chiếu hẹp của đời sống văn chương”.
Nghe cứ như thầy bói, cứ như đứng từ trong mà nói ra, khiến người ta “giật nảy mình”. Cảm được như thế, viết được như thế phải là người từng trải lắm, hiểu đời, hiểu người lắm. Hơn nữa, còn phải là người không chỉ biết sống cho mình, mà còn sống cuộc sống của nhiều người khác. Thú thực, tôi chưa hiểu nhiều về Trịnh Thanh Sơn, nhất là cũng chưa đọc hết cuốn “Đi dọc cánh đồng thơ” của anh, nhưng qua một số bài phê bình và giới thiệu của anh trên các báo, trong các tập thơ công bố gần đây, tôi thực sự quý trọng tài năng anh, con người anh.
Trong rất nhiều danh hiệu người ta có thể tặng cho anh: Nhà thơ, nhà văn, nhà đạo diễn điện ảnh, nhà báo, nhà phê bình văn học, Trịnh Thanh Sơn thích nhất được gọi là nhà thơ: Nhà thơ Trịnh Thanh Sơn. Điều đó hoàn toàn dễ hiểu, bởi thơ Trịnh Thanh Sơn đã có chỗ đứng, đã tạo được phong cách riêng, bởi anh ý thức rất rõ nhiều phẩm chất đáng quý ở người làm thơ chân chính. Song, cũng không thể phủ nhận anh là một nhà phê bình đã có nhiều đóng góp cho nền thơ Việt Nam hiện đại giai đoạn nửa sau thế kỷ XX.
(1) Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 608, Tháng 10-2004, Tr.97-99.
(1) Lời giới thiệu tập “Đồng đội ơi”, Trương Vĩnh Tuấn, Nxb Hội Nhà văn, 2004.
(3) Thay lời tựa tập “Hỏi mình”, Nguyễn Hoà Bình, Nxb Hội Nhà văn, 2004.
(4) Báo Văn nghệ số 39 (ngày 25-9-2004), Tr.6.
(5) Báo Văn nghệ Trẻ số 43 (ngày 24-10-2004), Tr.5.
(6) Báo Văn nghệ Trẻ số 44 (ngày 31-10-2004),
Love mickey,