Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Những suy tưởng có tính chiến lược về văn hoá và phát triển, hiện đại hoá và tiến bộ xã hội

0 trả lời, 29 lượt xem — Trang 1 / 1
Những suy tưởng có tính chiến lược về văn hoá và phát triển, hiện đại hoá và tiến bộ xã hội

Hoàng Ngọc Hiến

(Đọc Tác phẩm 3 tập Các công trình nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn của Nguyễn Hồng Phong)1

Trong tập I, tập II ngoài những bài có giá trị sử học, văn học riêng, có nhiều bài có thể xem là sự chuẩn bị cho sự triển khai đề tài văn hoá và phát triển, hiện đại hoá và tiến bộ xã hội, đề tài trung tâm của tập III. Đề tài này được triển khai trên cơ sở những khảo sát và khảo cứu của tác giả về xã hội Việt Nam trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, dĩ nhiên mối quan tâm hàng đầu của tác giả là những vấn đề văn hoá - xã hội mà sự phát triển của xã hội Việt Nam đương đại đặt ra.

Kết thúc Phần bàn về Văn hoá chính trị trong xã hội Việt Nam Truyền thống phương Đông Khổng giáo (tập III, Văn hoá chính trị Việt Nam), tác giả chỉ đích danh Khổng giáo “là một tác nhân văn hoá đã gây trở ngại, kìm hãm làm chậm sự phát triển”2 nhưng mở đầu phần này là những trang viết rất hay về những truyền thống tốt đẹp của Khổng giáo nguyên thuỷ, những truyền thống này hẳn là đã thấm vào tâm thức người Việt những thế kỉ trước và trong tâm thức người Việt hiện đại không thể nói là đã mai một hoàn toàn. Trước nghịch lí này, một câu hỏi được đặt ra: Phải chăng cái Khổng giáo mà tác giả lên án là Tân Khổng giáo (Hàn Nho, Tống Nho) rất khác với Khổng giáo nguyên thuỷ đã từng được Phan Chu Trinh ca ngợi và bẵng đi một thời gian rất dài, những năm gần đây mới được một số học giả quan tâm. Phân tích ảnh hưởng lớn và lâu dài của Khổng giáo nguyên thuỷ tới văn hoá chính trị truyền thống ở Việt Nam, tác giả nhấn mạnh những truyền thống nhân văn, dân chủ mà những tư tưởng tiêu biểu là: Nhân nghĩa; lòng dân là ý trời; dân là quý; dân là gốc nước; vua là thuyền, dân là nước, nước chở thuyền, nhưng nước cũng làm đắm thuyền… Một khi không phải vua quan mà dân mới là quyền lực tuyệt đối, có thể nói đến một tư tưởng “sợ dân như một nét đặc thù của tư tưởng Nho giáo” mà ở châu Âu hoặc ở các nền văn hoá khác ngoài Nho giáo không thấy có tư tưởng này”.3

Từ ngàn xưa xã hội Việt Nam là một xã hội phương Đông. “… chìa khoá của chế độ phương Đông, đó là việc không có chế độ tư hữu ruộng đất” (Lênin)

(4) Không phải ngẫu nhiên tác giả đã dành cả một chương để nghiên cứu sự biến đổi của tương quan giữa quốc gia - công hữu (tức là sở hữu |Nhà nước và sở hữu công xã) và tư hữu về ruộng đất trong xã hội Việt Nam suốt thời Trung đại. Những thế kỉ đầu thời kì độc lập, sở hữu Nhà nước và sở hữu công xã (gộp lại và gọi tắt là quốc gia - công hữu) về ruộng đất chiếm ưu thế. Do những kẽ hở của chế độ sở hữu này, tư hữu (tức là sở hữu tư nhân) về ruộng đất hình thành và phát triển.

Những quá trình tư hữu hoá ruộng đất một mặt có tác động giải thể sở hữu công xã, mặt khác góp phần phát triển sở hữu tiểu nông và kinh tế tiểu nông.

Tác giả đưa ra một nhận định quan trọng về khuynh hướng tư hữu ruộng đất ở Việt Nam thời Trung đại:

“Thực ra, khuynh hướng tư hữu ruộng đất nói chung cũng như khuynh hướng phát triển sở hữu lớn về ruộng đất đã không phát triển theo hướng đi lên, tập trung ruộng đất tuyệt đối như thời kì phong kiến hoá ruộng đất ở châu Âu… ở đây sự tập trung ruộng đất lại theo quy luật: Tập trung - phân tán - rồi lại tập trung - phân tán” 5.

Trong lịch sử Trung đại Việt Nam, chế độ tư hữu ruộng đất tuy có phát triển nhưng phát triển một cách ì ạch, tậm tịt và kèm theo ý thức tư hữu về ruộng đất có thức tỉnh nhưng thức tỉnh một cách nửa vời. Sự thức tỉnh nửa vời này phản ánh một thực trạng hệ tư tưởng và pháp lí - cũng là một thực trạng văn hoá - của xã hội Việt Nam truyền thống: “Trên nguyên lí và theo truyền thống quyền sở hữu tối cao về ruộng đất toàn quốc thuộc về Nhà nước, đứng đầu là nhà vua, quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất là thiêng liêng, bất khả xâm phạm chưa bao giờ được xác nhận trên pháp luật Việt Nam”6.

Phải chăng tình trạng phát triển ì ạch, tậm tịt của chế độ tư hữu ruộng đất và thức tỉnh nửa vời của ý thức tư hữu ruộng đất là chìa khoá để hiểu xã hội phương Đông truyền thống và “phương thức sản xuất châu á”? Phải chăng tình trạng này là nguyên nhân sâu xa của sự trì trệ của xã hội Việt Nam truyền thống những thế kỉ cuối thời Trung đại, đặc biệt sang thế kỉ XIX khi đứng trước âm mưu xâm lược của đế quốc phương Tây? Tôi đặt ra những câu hỏi này nhân đọc bài báo Sự thức tỉnh vĩ đại (7) của Latous, một học giả Pháp, trong đó sự xuất hiện của ý thức về tư hữu được xem xét như một “sự thức tỉnh vĩ đại”, nó đã “trở thành tác nhân kích thích mang tính xã hội lớn lao đối với sự phát triển”. Tư hữu là một trong những nghịch lí lớn của nhân loại. Tác giả bài báo đã triển khai xuất sắc một ý tưởng của Mác: Mặt trái của tư hữu bộc lộ ngày càng trầm trọng, đó là khủng hoảng, lãng phí, thất nghiệp… thế nhưng không thể phủ nhận công lao to lớn của nó trong lịch sử tiến hoá nhân loại.

Lịch sử những quá trình hiện đại hoá ở Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến nay là một chủ đề quan trọng của công trình. Tư tưởng canh tân ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX được so sánh với tư tưởng canh tân ở Nhật Bản, Trung Quốc cùng thời kì. ở Nhật Bản, công cuộc duy tân bắt đầu bằng sự việc từ năm 1859 có một giáo sĩ người Mỹ gốc Hà Lan Verbeck đến cảng Nagasaki truyền đạo và mở lớp dạy học (chính trị, kinh tế, luật pháp… phương Tây). Đông đảo học trò của Verbeck đã được đưa vào ban lãnh đạo tối cao của chính quyền Minh Trị. Verbeck đề nghị chính quyền thành lập một phái đoàn đi thị sát. Muốn đánh giá và áp dụng văn minh phương Tây cần phải sống với nó, tiếp xúc với nó. Phái đoàn được thành lập, tuổi rất trẻ (tuổi trung bình chưa đến 30 tuổi), lãnh đạo đoàn gồm những nhân vật chủ chốt đầu não trong chính quyền Minh Trị. Phái đoàn đã đi qua 12 nước, thời gian đi gần hai năm, đã qua các nước sau đây: Mỹ 265 ngày, Anh 122 ngày, Pháp 70 ngày, Bỉ 8 ngày, Hà Lan 12 ngày, Đức 33 ngày, Nga 18 ngày… Vào cuối thế kỉ XIX, Trung Quốc cũng tiến hành hiện đại hoá và công cuộc đổi mới văn hoá ở Trung Quốc đã ảnh hưởng tích cực đến Việt Nam. Công cuộc học tập phương Tây cách mạng văn hoá của Trung Quốc đã không dẫn tới một cuộc duy tân tự cường như Nhật Bản. Ngoài lí do không ổn định về chính trị và tình trạng bị sức ép các cường quốc xâm lược, sự thất bại còn do chỗ Trung Quốc chưa tìm thấy một phương thức thống nhất được truyền thống với hiện đại hoá như Nhật Bản đã làm được (cuộc thí nghiệm về sự thống nhất này sẽ được thực hiện lần nữa bởi Mao Trạch Đông dưới khẩu hiệu: Chủ nghĩa Mác - Lênin mang màu sắc Trung Quốc; và hiện nay là cuộc thí nghiệm lần thứ ba). ở Việt Nam vào cuối thế kỉ XIX, tư tưởng cải cách để tự cường đã được đề xuất bởi chính những sĩ phu yêu nước: Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ… Nguyễn Trường Tộ đã đề xuất một cách tương đối toàn diện cuộc cải cách để tự cường theo văn minh phương Tây. Nguyễn Lộ Trạch kiến nghị cải cách về giáo dục: để đẩy mạnh việc học tập khoa học và công nghiệp phương Tây phải khắc phục tư tưởng coi khinh “công kĩ” của Nho giáo.

Bước sang thế kỉ XX, tình hình Việt Nam thay đổi: Phong trào “Cần Vương” đã thất bại, Pháp đã thiết lập một chế độ trực trị và bảo hộ, một lớp doanh nhân mới xuất hiện. Trong khi đó, những “Tân thư”, “Tân văn” truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản và văn minh phương Tây của các trí thức Trung Quốc đến Việt Nam như “một tiếng sét nổ đùng có một sức kích thích mạnh nhất thấu vào tâm não người Việt Nam ta”. Những trí thức tiêu biểu cho giai đoạn này là Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và Đông kinh nghĩa thục. Tư tưởng chủ đạo của họ là kết hợp chủ nghĩa yêu nước với tinh thần canh tân.

Từ tư tưởng quân chủ sang cộng hoà dân chủ, rồi cuối đời lại hướng về chủ nghĩa xã hội, Phan Bội Châu là một dấu nối giữa Nguyễn Trường Tộ thế hệ cuối thế kỉ XIX và Phan Chu Trinh, thế hệ đầu thế kỉ XX.

“Chấn dân khí, khai dân trí và và hậu dân sinh” là một tuyên ngôn yêu nước duy tân của Phan Chu Trinh. Ông khẳng định những truyền thống đoàn kết dân chủ của nhân dân Việt Nam có từ thời Trần. Ông khẳng định tinh thần dân chủ, các truyền thống nhân văn của Khổng giáo nguyên thuỷ, rất khác với Tân Khổng giáo sau này. Ông muốn đi tìm một sự kết hợp giữa truyền thống phương Đông và hiện đại phương Tây: “Đem cái văn minh thật của Âu châu mà hoà hợp với cái Nho giáo thật của á Đông”.

Nguyễn An Ninh là một nhân vật quá độ từ phong trào yêu nước duy tân từ những sĩ phu Nho giáo chuyển sang lớp trí thức mới. Khác với các sĩ phu lớp trước, ông phê phán Khổng giáo với một thái độ khước từ. Sự tiếp nối ở ông là lòng tự hào về những giá trị của văn hoá và con người Việt Nam, về sức sống của dân tộc Việt Nam.

Nguyễn ái Quốc là đại biểu cho sự chuyển hướng của phong trào yêu nước duy tân theo khuynh hướng dân chủ tư sản chuyển sang phong trào yêu nước kết hợp với chủ nghĩa xã hội. Về tư tưởng, sự chuyển hướng này là sự phê phán mô hình dân chủ tư sản phương Tây đồng thời hướng về chủ nghĩa Mác - Lênin và Cách mạng tháng Mười Nga.

Sự lựa chọn chủ nghĩa Mác và đưa chủ nghĩa Mác vào một nước thuộc địa, lạc hậu đòi hỏi phải có tinh thần sáng tạo rất lớn, làm cho nó thích nghi với những điều kiện xã hội khác với xã hội từ đó nó xuất phát.

Chủ nghĩa Mác sẽ đem lại nguồn sinh lực mới cho phong trào dân tộc và công cuộc duy tân.

Và muốn như vậy phải Việt Nam hoá chủ nghĩa Mác.

Nguyễn ái Quốc là người tiêu biểu đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử này và ông đã hoàn thành được nhiệm vụ kết hợp này, nhờ đó mà có được một cuộc Cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến thần thánh.(8)

Bản “Báo cáo về Bắc kì, Trung kì, Nam kì” viết ở Mátxcơva năm 1924 có thể coi là một văn kiện lịch sử định hướng cho việc nghiên cứu sáng tạo chủ nghĩa Mác. Một số luận điểm được nhấn mạnh trong văn kiện:

“Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lí nhất định của lịch sử. Nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thế giới nhân loại”.

“Mác cho ta biết rằng sự tiến triển của các xã hội phải trải qua 3 giai đoạn: Chế độ nô lệ, chế độ nông nô và chế độ tư bản; và trong mỗi giai đoạn ấy đấu tranh giai cấp có khác nhau. Chúng ta phải coi chừng! Các dân tộc Viễn Đông có trải qua hai giai đoạn đầu không” (9)

“Chủ nghĩa Mác sẽ còn đứng cả ở đó (ở Việt Nam, ấn Độ, Trung Quốc. N.H.P) dù sao thì không cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào những tư liệu mà Mác ở thời của mình không có được”.(10)

Mác không biết đến vấn đề dân tộc. Lênin là người quan tâm đến tiềm năng cách mạng của phong trào quốc gia.

Khi đưa tư tưởng chủ nghĩa Lênin về vấn đề dân tộc vào Việt Nam, Nguyễn ái Quốc và những người cộng sản Việt Nam đã tạo một quan niệm riêng để giải quyết vấn đề dân tộc. Một số quan điểm được tác giả khẳng định khi trả lời câu hỏi: “Sự sáng tạo của Việt Nam là ở đâu?”:

- Dân tộc là một phạm trù văn hoá…

- Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bao giờ cũng biểu hiện như là những phong trào tìm tòi bản sắc dân tộc, bảo tồn bản sắc dân tộc…(11)

- Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước…(12)

*

Để bảo đảm một sự phát triển lâu bền về mặt xã hội và môi sinh, sự cân bằng xã hội và sinh thái, tác giả đưa ra hai yêu cầu: Hiện đại hoá và tiến bộ xã hội. Từ hai yêu cầu này tác giả có một nhận định quan trọng:

“Chúng ta đã trải qua thời kì của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thời kì Tiến bộ xã hội được đặt lên hàng đầu. Nhưng kinh tế lại trì trệ, kém phát triển, do đó cũng không thực hiện được sự tiến bộ xã hội.

Và ngày nay chúng ta cũng đang chứng kiến có một số nước trong khu vực công cuộc hiện đại hoá đất nước đang được đẩy nhanh, nhưng những trả giá xã hội thì ngày càng lớn”.(13)

Vậy làm thế nào vừa Hiện đại hoá vừa có Tiến bộ xã hội? UNESCO đề ra tư tưởng “chỉ có thể đạt được sự thống nhất giữa hiện đại hoá và tiến bộ xã hội bằng cách đưa văn hoá vào bên trong sự phát triển, coi văn hoá là động lực, là mục tiêu, là hệ điều tiết cho sự phát triển”(13). Tán thành công thức chung nói trên Nguyễn Hồng Phong đề ra một ý tưởng riêng: Mỗi nước, mỗi dân tộc có triết lí phát triển riêng, cần xác lập một triết lí phát triển của Việt Nam. Dây là một ý tưởng độc đáo, quan trọng. Tiếc thay, ông chưa kịp triển khai ý tưởng này thì bị bạo bệnh, ngày 2-1-1998, bút rơi khỏi tay ông để không bao giờ cầm lên được nữa.



(1). Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản, 2004.

2. 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, 12, 13: được trích dẫn hoặc chuyển dẫn từ tập III công trình của Nguyễn Hồng Phong.

7. lotous. Sự thức tỉnh vĩ đại. Bản dịch của Ngô Tự Lập. Tạp chí Tia sáng, số 10-1998.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0