Huệ Khanh- Bây giờ như có bùa mê…
Trịnh Thanh Sơn
Tôi biết Huệ Khanh làm thơ đã lâu, tập Trăng phố cổ (Nxb Hội Nhà văn) vừa ấn hành là tập thơ thứ sáu của anh. Một người làm thơ chuyên nghiệp, cả đời có được sáu tập thơ đã là chuyện khó, huống hồ, với Huệ Khanh, thơ chỉ là tay trái, là việc làm thêm cho vui, cho yêu đời, yêu người hơn ! Nói thế để thấy rằng, sức lao động nghệ thuật của Huệ Khanh thực đáng nể trọng. Thơ, đối với anh bây giờ quả như có bùa mê !
Tôi chưa được đọc hết thơ Huệ Khanh, bởi trong tay tôi chỉ có hai tập thơ mới nhất là Mùa trăng (Nxb Hội Nhà văn - 202) và tập Trăng phố cổ đã nói ở trên. Nhưng chỉ với hai tập thơ này, tôi cũng có thể hình dung được vóc dáng cùng điệu tâm hồn của người thơ. Thơ Huệ Khanh nhiều nghĩ suy mà tươi tắn, thầm thì mà đam mê, hồn nhiên mà say đắm, mực thước, nghiêm cẩn mà có duyên ngầm. Thật thú vị khi được cùng nhà thơ về làng ăn một bữa cơm quê :
Về làng ăn bữa cơm quê
Canh cua, ốc chuối, cá trê kho riềng
Cà pháo muối, mắm tép chiên
Hương thơm gạo mới, hơi men nồng nàn
Rồi nhà thơ thổ lộ thêm rằng : Dẫu quen nếp sống thị thành / Dẫu vui yến tiệc linh đình cao sang / Vẫn không quên được xóm làng / Bữa cơm quê với họ hàng, người thân!
Tình cảm sâu nặng với quê hương, ai mà chả có, bởi vậy, đọc nhưng câu thơ trên chúng ta cảm thấy như Huệ Khanh viết hộ cho mình, và cho một ai đấy nữa.
Cổ nhân nói : Khi trong lòng có thơ thì nhìn đâu bạn cũng thấy thơ! Trường hợp Huệ Khanh là một ví dụ. Dường như không có đề tài nào là vùng "cấm kỵ" với riêng anh, dường như anh nhìn đâu cũng thấy thơ, từ những chiếc xích lô kiểu dàng mới đi trong phố cổ, từ hàng cây chò chỉ trên đường Hùng Vương, từ chiếc xe đạp thồ đến một làn dân ca xoan ghẹo… cứ lũ lượt tràn vào những trang thơ Huệ Khanh :
Ta về Phú Thọ đi tìm
Những câu xoan ghẹo nổi chìm đâu đây
Hoặc :
Hai hàng cây chò chỉ
Đứng bên đường Hùng Vương
…Về đây từ đất Tổ
Nơi dãy núi Hy Cương
Với ngã ba Bạch Hạc
Kinh đô các vua Hùng…
( Hàng cây chò chỉ)
Thật cảm động khi đọc những câu thơ đầy thương xót mà Huệ Khanh viết ở Khê Thượng trong một lần anh viếng mộ Tản Đà :
Khói hương trầm mặc linh thiêng
Dáng hình thi sỹ ngả nghiêng xứ Đoài
Những vần thơ đượm tình người
Khi Nam , khi Bắc một thời long đong…
( Viếng mộ Tản Đà )
Rồi khi được tin nhà thơ Thu Bồn ốm nặng, Huệ Khanh lặn lội vào tận suối Lồ Ô để thăm và làm thơ tặng Thu Bồn và nghệ sĩ Lý Bạch Huệ. Cái tình sâu nặng giữa các nhà thơ, giữa những người anh em, người bạn vong niên thật cao cả và thấm thía. Hôm nay, dẫu nhà thơ Thu Bồn đã vắng xa, đọc những câu thơ ngậm ngùi của Huệ Khanh, tôi cứ ngỡ như nhà thơ đang còn trước mặt :
Đôi mắt nhà thơ lệ ứa rưng rưng
Miệng muốn nói không thể nào nói được
Bao kỷ niệm hiện về trong kí ức
Cả cuộc đời gắn kết với thơ ca…
(Khi nhà thơ ốm)
Thơ Huệ Khanh chan chứa ân tình là thế, có phải vậy không mà anh viết rất nhiều thơ lục bát, một thể thơ thuần Việt, thơ của những lời hát ru, từng thấm vào máu thịt từ thuở còn nằm trong nôi, trên võng. Tôi rất thích bài thơ Cây khế trước nhà cụ Nguyên Hồng , một bài lục bát giản dị, ấm áp và sâu sắc :
Cây khế cao. Tán uốn cong
Quả sai, mọng nước mới trông đã thèm
Mọc lên ở ấp Cầu Đen
Sống trong sỏi đá, vượt lên cỗi cằn
…Trước cửa nhà cụ Nguyên Hồng
Ung dung cây khế sống cùng thời gian…
Quản chi chớp bể mưa ngàn
Nhà văn gắn kết xóm làng. Khế ơi !
Huệ Khanh là nhà thơ thuộc thế hệ trưởng thành trong chống Mỹ, thơ anh ổn định, ít cách tân hay tung phá, thường sử dụng những thể thơ truyền thống, có vần, dễ thuộc dễ nhớ. Tuy nhiên, ở những bài thơ thành công nhất của anh, đôi khi đột ngột xuất hiện một tứ lạ, nhiều nghĩ ngợi. Chẳng hạn :
Chậu Lan tây đặt ở ban công tầng năm
Không biết vì sao hoa chẳng nở
Bỗng mùa hè năm nay nắng nóng như đổ lửa
Chậu Lan bật nở một nhành hoa tươi.
Không biết điềm lành hay điềm dữ
Chỉ thây hoa một màu trắng tinh khôi.
Và thầm kín chút hương thơm dìu dịu
Đủ toả lan dan díu với đời !
( Chậu Lan tây )
Chuyện một chậu lan nơ hoa hay không nở hoa, vốn là chuyện bình thường trong đời sống, những người vô tâm chẳng thấy quan trọng gì. Vậy mà, với nhà thơ, nó gợi được những suy nghĩ và liên tưởng rất xa xôi, rất thiêng liêng nữa, đến nỗi, nhìn bông lan nở, nhà thơ phân vân không biết là "điềm lành" hay là " điềm dữ", tuy nhiên, dù bất cứ là điềm gì thì "hương thơm dìu dịu" của bông lan cũng đủ để " dan díu với đời". Thiết tưởng, không có một tình yêu người, yêu đời thật nồng ấm và sâu sắc, không viết được những câu thơ thắm thiết như vậy !
Tôi biết Huệ Khanh không phải là người gốc Hà Nội, nhưng vì công tác lâu năm ở Thủ đô nên anh gắn bó với Hà Nội, thuộc Hà Nội đến từng góc nhỏ phố cổ, đến từng viên gạch lát vỉa hè. Ngay cả tên tập thơ, anh cũng đạt là Trăng phố cổ. Đọc thơ Huệ Khanh, bỗng dưng tôi lại nhơ đến những câu thơ thật thắm thiết của Tô Hà khi anh viết về Hà Nội : "Tôi vẫn là máu thịt của đất này xưa cũ / Phố phường ơi, người có nhận ra không?" ánh trăng trên phố cổ Hà Nội trong thơ Huệ Khanh dường như nhẹ nhàng hơn trong một cái nhìn thanh thản hơn :
Đêm trăng…
Phố cổ mượt mà
Tán bàng cành sấu la đà nghiên che
Tường rêu ấp ủ vỉa hè
Cong cong mái phố vỗ về ánh trăng…
(Trăng phố cổ)
Có thể thấy, đến tập thơ thứ sáu này, thơ Huệ Khanh đã vào độ chín, anh viết như dễ dàng hơn, nghĩ ngợi cũng thâm trầm hơn về lẽ đời, lẽ người, về tình yêu quê hương, đất nước.
Thơ Huệ Khanh là thơ của một tấm lòng đôn hậu, thuỷ chung. ấy là thơ của một người tử tế !
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Trịnh Thanh Sơn
Tôi biết Huệ Khanh làm thơ đã lâu, tập Trăng phố cổ (Nxb Hội Nhà văn) vừa ấn hành là tập thơ thứ sáu của anh. Một người làm thơ chuyên nghiệp, cả đời có được sáu tập thơ đã là chuyện khó, huống hồ, với Huệ Khanh, thơ chỉ là tay trái, là việc làm thêm cho vui, cho yêu đời, yêu người hơn ! Nói thế để thấy rằng, sức lao động nghệ thuật của Huệ Khanh thực đáng nể trọng. Thơ, đối với anh bây giờ quả như có bùa mê !
Tôi chưa được đọc hết thơ Huệ Khanh, bởi trong tay tôi chỉ có hai tập thơ mới nhất là Mùa trăng (Nxb Hội Nhà văn - 202) và tập Trăng phố cổ đã nói ở trên. Nhưng chỉ với hai tập thơ này, tôi cũng có thể hình dung được vóc dáng cùng điệu tâm hồn của người thơ. Thơ Huệ Khanh nhiều nghĩ suy mà tươi tắn, thầm thì mà đam mê, hồn nhiên mà say đắm, mực thước, nghiêm cẩn mà có duyên ngầm. Thật thú vị khi được cùng nhà thơ về làng ăn một bữa cơm quê :
Về làng ăn bữa cơm quê
Canh cua, ốc chuối, cá trê kho riềng
Cà pháo muối, mắm tép chiên
Hương thơm gạo mới, hơi men nồng nàn
Rồi nhà thơ thổ lộ thêm rằng : Dẫu quen nếp sống thị thành / Dẫu vui yến tiệc linh đình cao sang / Vẫn không quên được xóm làng / Bữa cơm quê với họ hàng, người thân!
Tình cảm sâu nặng với quê hương, ai mà chả có, bởi vậy, đọc nhưng câu thơ trên chúng ta cảm thấy như Huệ Khanh viết hộ cho mình, và cho một ai đấy nữa.
Cổ nhân nói : Khi trong lòng có thơ thì nhìn đâu bạn cũng thấy thơ! Trường hợp Huệ Khanh là một ví dụ. Dường như không có đề tài nào là vùng "cấm kỵ" với riêng anh, dường như anh nhìn đâu cũng thấy thơ, từ những chiếc xích lô kiểu dàng mới đi trong phố cổ, từ hàng cây chò chỉ trên đường Hùng Vương, từ chiếc xe đạp thồ đến một làn dân ca xoan ghẹo… cứ lũ lượt tràn vào những trang thơ Huệ Khanh :
Ta về Phú Thọ đi tìm
Những câu xoan ghẹo nổi chìm đâu đây
Hoặc :
Hai hàng cây chò chỉ
Đứng bên đường Hùng Vương
…Về đây từ đất Tổ
Nơi dãy núi Hy Cương
Với ngã ba Bạch Hạc
Kinh đô các vua Hùng…
( Hàng cây chò chỉ)
Thật cảm động khi đọc những câu thơ đầy thương xót mà Huệ Khanh viết ở Khê Thượng trong một lần anh viếng mộ Tản Đà :
Khói hương trầm mặc linh thiêng
Dáng hình thi sỹ ngả nghiêng xứ Đoài
Những vần thơ đượm tình người
Khi Nam , khi Bắc một thời long đong…
( Viếng mộ Tản Đà )
Rồi khi được tin nhà thơ Thu Bồn ốm nặng, Huệ Khanh lặn lội vào tận suối Lồ Ô để thăm và làm thơ tặng Thu Bồn và nghệ sĩ Lý Bạch Huệ. Cái tình sâu nặng giữa các nhà thơ, giữa những người anh em, người bạn vong niên thật cao cả và thấm thía. Hôm nay, dẫu nhà thơ Thu Bồn đã vắng xa, đọc những câu thơ ngậm ngùi của Huệ Khanh, tôi cứ ngỡ như nhà thơ đang còn trước mặt :
Đôi mắt nhà thơ lệ ứa rưng rưng
Miệng muốn nói không thể nào nói được
Bao kỷ niệm hiện về trong kí ức
Cả cuộc đời gắn kết với thơ ca…
(Khi nhà thơ ốm)
Thơ Huệ Khanh chan chứa ân tình là thế, có phải vậy không mà anh viết rất nhiều thơ lục bát, một thể thơ thuần Việt, thơ của những lời hát ru, từng thấm vào máu thịt từ thuở còn nằm trong nôi, trên võng. Tôi rất thích bài thơ Cây khế trước nhà cụ Nguyên Hồng , một bài lục bát giản dị, ấm áp và sâu sắc :
Cây khế cao. Tán uốn cong
Quả sai, mọng nước mới trông đã thèm
Mọc lên ở ấp Cầu Đen
Sống trong sỏi đá, vượt lên cỗi cằn
…Trước cửa nhà cụ Nguyên Hồng
Ung dung cây khế sống cùng thời gian…
Quản chi chớp bể mưa ngàn
Nhà văn gắn kết xóm làng. Khế ơi !
Huệ Khanh là nhà thơ thuộc thế hệ trưởng thành trong chống Mỹ, thơ anh ổn định, ít cách tân hay tung phá, thường sử dụng những thể thơ truyền thống, có vần, dễ thuộc dễ nhớ. Tuy nhiên, ở những bài thơ thành công nhất của anh, đôi khi đột ngột xuất hiện một tứ lạ, nhiều nghĩ ngợi. Chẳng hạn :
Chậu Lan tây đặt ở ban công tầng năm
Không biết vì sao hoa chẳng nở
Bỗng mùa hè năm nay nắng nóng như đổ lửa
Chậu Lan bật nở một nhành hoa tươi.
Không biết điềm lành hay điềm dữ
Chỉ thây hoa một màu trắng tinh khôi.
Và thầm kín chút hương thơm dìu dịu
Đủ toả lan dan díu với đời !
( Chậu Lan tây )
Chuyện một chậu lan nơ hoa hay không nở hoa, vốn là chuyện bình thường trong đời sống, những người vô tâm chẳng thấy quan trọng gì. Vậy mà, với nhà thơ, nó gợi được những suy nghĩ và liên tưởng rất xa xôi, rất thiêng liêng nữa, đến nỗi, nhìn bông lan nở, nhà thơ phân vân không biết là "điềm lành" hay là " điềm dữ", tuy nhiên, dù bất cứ là điềm gì thì "hương thơm dìu dịu" của bông lan cũng đủ để " dan díu với đời". Thiết tưởng, không có một tình yêu người, yêu đời thật nồng ấm và sâu sắc, không viết được những câu thơ thắm thiết như vậy !
Tôi biết Huệ Khanh không phải là người gốc Hà Nội, nhưng vì công tác lâu năm ở Thủ đô nên anh gắn bó với Hà Nội, thuộc Hà Nội đến từng góc nhỏ phố cổ, đến từng viên gạch lát vỉa hè. Ngay cả tên tập thơ, anh cũng đạt là Trăng phố cổ. Đọc thơ Huệ Khanh, bỗng dưng tôi lại nhơ đến những câu thơ thật thắm thiết của Tô Hà khi anh viết về Hà Nội : "Tôi vẫn là máu thịt của đất này xưa cũ / Phố phường ơi, người có nhận ra không?" ánh trăng trên phố cổ Hà Nội trong thơ Huệ Khanh dường như nhẹ nhàng hơn trong một cái nhìn thanh thản hơn :
Đêm trăng…
Phố cổ mượt mà
Tán bàng cành sấu la đà nghiên che
Tường rêu ấp ủ vỉa hè
Cong cong mái phố vỗ về ánh trăng…
(Trăng phố cổ)
Có thể thấy, đến tập thơ thứ sáu này, thơ Huệ Khanh đã vào độ chín, anh viết như dễ dàng hơn, nghĩ ngợi cũng thâm trầm hơn về lẽ đời, lẽ người, về tình yêu quê hương, đất nước.
Thơ Huệ Khanh là thơ của một tấm lòng đôn hậu, thuỷ chung. ấy là thơ của một người tử tế !
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,