Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Đọc "Người đàn bà đếm cát" của Thường Đoan

0 trả lời, 34 lượt xem — Trang 1 / 1
Đọc "Người đàn bà đếm cát" của Thường Đoan

Lê Quang Sinh

(Đọc "Người đàn bà đếm cát" của P.N Thường Đoan - Nhà xuất bản Văn học)

Tôi không nghĩ lại có một P.N Thường Đoan tự “cầm tù” trước biển! Để rồi, khép mình cô độc ngồi chi li đếm - cát. Đến nỗi, cứ mỗi bận nhìn vào mắt chị, tôi như lạc về một miền đâu đó rất xa xăm!… Có gì ẩn chứa trong từng hạt cát mang thân phận người, cứ nặng nặng trong tay chị, tay tôi. Chao ôi, sóng vẫn trắng xóa, ào ạt thế kia! Biển nào đã mất đi chút ít nồng nàn mà rạch ròi, mà “phận trời” đến thế! Chị cố nắm chặt lấy cái gì đó? Níu giữ một cái gì đóù?... Để rồi, vốc cát cứ ròng ròng qua kẽ tay– Cái “hư thực một đời nhảy múa…” tuột dần, tuột dần... bỏ lại khuôn mặt đêm hốt hoảng:

Người đàn bà ngồi vọc sóng đêm

Bóng chồng vào tĩnh lặng

Đêm chồng vào đen thẳm

Từng ngụm cát đầy vơi run rẩy

Cô đơn vỗ đá dưới chân

(Đếm cát)

Cái cô lạnh thấm đẫm nỗi niềm trắc ẩn từ trong hồn người cứ “nhiễm” sang từng câu, từng chữ (Bóng chồng vào tĩnh lặng/ Đêm chồng vào đen thẳm), đè nặng trái tim vốn “dễ vỡ” mà quá nợ nần, đa đoan. Thân thể, hồn vía chị như bị dồn ép tứ bề, như chỉ còn là chiếc bóng, chỉ còn là miếng “bã người” cạn kiệt những đa mê. Tôi rất thích câu: Cô đơn vỗ đá dưới chân – Cái cô đơn trăm năm đời người vỗ vào cái cô đơn nghìn năm đời đá còn đó trên đỉnh núi buồn kia một dáng vọng phu chăng!

Đếm cát – Là tập thơ thứ ba của chị. Cũng như bao lần khác, chị vẫn dành một khoảng lặng cho cái cù lao nơi một thời lẫm chẫm bước chân, “lẫm chẫm chút tình mực tím” để rung động, để nhớ thương, để có cớ mà hỏi han, mà day dứt lòng mình:

Hoa cau rơi đầy trắng lối

Ao người bông súng tím chưa?

(Mơ về cồn xưa)

Dấu ấn về một người mẹ cũng khắc khoải, nồng nàn, cũng ám ảnh không kém như những gì mỗi khi chị nghĩ về quê hương, chòm xóm:

Người đi để một đời thừa

Bó cau làm chổi quét chưa hết sầu

(Lục bát cho mẹ)

Quả thật, đọc đến “Bó cau làm chổi quét chưa hết sầu” tôi giật mình, chợt nhận ra cái sắc lạnh “ chết người” của chữ nghĩa mỗi khi nó đã “nhập đồng” vào hồn thi sĩ. Phải nói rằng khi viết về mẹ, P.N Thường Đoan có những câu thơ thật “gan ruột”. Có thể vì chị cũng là phụ nữ, cũng đã từng làm mẹ, từng hạnh phúc, từng cay đắng… nhưng nếu không có được rung động thật của con tim, không có những sáng tạo, những trải nghiệm ở đời chưa hẳn những câu chữ kia lại “nhọc nhằn”, lại “hồn vía” như thế:

Bên kia dòng sông cuộn chảy

Mẹ phơi áo cũ bên rào

(Về quê)

Đoan là một người đa cảm, không phải chỉ riêng với thơ mà cả với đời. Chẳng thế, ở phần còn lại của tập thơ, chị dồn hết sức lực, tâm linh để khai quật, để cố giải mã những bức bách các vùng năng lượng đã tích tụ, dồn nén, dày xé tâm can phần đời mà chị đang sống:

Bồng bềnh đắng bồng bềnh trong mật ngọt

Chuốc rượu mình thấy nửa bóng kia say

(Giao thừa say)

Phía sau bồng bềnh của rượu, là bồng bềnh của số phận. Sự cô đơn đến độ phải mượn bóng mình làm bạn đểø mua vui, để “Chuốc rượu mình thấy nửa bóng kia say” thì quả thật cay đắng lắm. Câu thơ tuôn lệ, như vắt ra từ máu. Không biết Thường Đoan tửu lượng thế nào, nhưng tôi tin chị say, chị say thật sự, say đến độ muốn lên men “vầng trăng khuyết” kia thành rượu để nhấm nháp cái cô đơn đời mình :

Ly rượu này ai rót cho ta

Mà uống mãi không hết vầng trăng khuyết

(Uống rượu)

Mùa xuân và hoa; mùa hạ và em; mùa thu và trăng; mùa đông và mưa... tất cả cùng tồn tại, hoà quyện trong con người thơ của chị. Cùng run rẩy, vật vã để rồi phát tiết ra những sắc màu :

Em đậm đặc

Với nắng thu mưa hạ

Tan cùng tàn đông

Lòng bàng hoàng luyến tiếc níu vạt áo xuân

Đã chậm mất nửa mùa cuối cùng

(Buổi sáng)

Gần một trăm bảy mươi trang sách, tập hợp những bài thơ từ năm 1996 đến năm 2003, P.N Thường Đoan dẫn người đọc đi vào thế giới cảm xúc đã đến độ “đủ chín” làm rung động lòng người. Một P.N Thường Đoan hiện về trong vật vã đời thường mà không mất đi vẻ nồng nàn! Ở cái tuổi hồi xuân hình như trời đất cho chị tất cả - Một sự đầy đặn, hoàn chỉnh cả về thể xác lẫn tâm hồn. Phía sau sự cô độc, buồn bã, nhớ thương những tàn thu là khát vọng bật chồi, khát vọng của trái chín để được ngọt ngào. Con đường đi đến người thơ thật cám dỗ mà nhọc nhằn, gian khó. Tôi chia sẻ những thảng thốt (Người ơi mưa cợt gió đùa/ Đường xa ướt một mùa xưa mất rồi), với người đàn bà “đếm cát” mà không quên viết đôi dòng về chị với bạn đọc gần xa.

Thanh ®a, mùa mưa 2004



(Báo Văn nghệ)











vang vọng triều thần và lam sơn tụ nghĩa

(Hai tập tiểu thuyết bằng thơ của Lâm Hảo, Nhà xuất bản Văn học và Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin)

Nông viết tâm

Trong dòng lịch sử dài 1000 năm, qua 4 triều vua, Nhà Lý 8 đời vua với 214 năm, nhà Trần 14 đời vua với 314 năm và Nhà Lê 16 đời vua với 365 năm, rồi nhà Nguyễn cũng có số đời Chúa và vua với số năm đại loại như vậy, thì việc viết về bất cứ triều nào, bất cứ cuộc đời của một ông vua triều nào, nếu tác giả tỏ sự công phu tột bậc vào tìm hiểu cái ngọn nguồn lịch sử và vô vàn các sự kiện của đời ấy, thời bao giờ cũng có vô vàn tích chuyện để mà viết, mà thả vào, mà thổi vào cái hồn vốn đã hết sức sinh động của thuở bấy giờ. Và rồi sẽ sinh thành nên một tác phẩm hấp dẫn, thì đấy là điều chắc chắn.

Trong một lần giảng dạy cho sinh viên trường Viết văn Nguyễn Du, về tiểu thuyết lịch sử, có nhà văn đã nói như sau: Lịch sử bao giờ cũng được các sử gia ý thức chép cho đúng nguyên trạng, cái hiện thực mà nó vốn như thế. Nhưng đến khi có một nhà văn nào đó, muốn bóc lấy một đời của một triều vua nào đấy, Lý hoặc Trần để dựng lại lịch sử bằng ngòi bút của mình với cảm quan và sự hiểu biết của mình, thì nhà văn đó phải đau đáu một tư tưởng, một chủ đề hoặc một vấn đề nào đó, và chỉ có nhà văn đó tựu thành được, rồi từ đấy thổi vào, gửi hẳn vào tác phẩm, khi viết về lịch sử; thì tiểu thuyết lịch sử nhà văn đó in ra, mới thật sự có giá trị, mới đứng vững vàng theo thời gian. Còn không có như vậy, thì cuốn tiểu thuyết lịch sử này sẽ khó hay, khó được lâu trong trí nhớ người đọc.

Đây là một đòi hỏi có tính chuẩn mực. Tuy nhiên, tính hấp dẫn đối với một cuốn tiểu thuyết về lịch sử lại không chỉ có như vậy, mà cũng nhiều khi, nhà văn khi viết về lịch sử, thì tác giả tự dưng có một cái giọng kể, giọng tường thuật khéo léo mà lại thật là giản dị, trong một lối miêu tả “nâu xồng” chân thật trong sáng về nhà vua đó, về triều đình của nhà vua đó, về hàng ngũ các quan đại thần của triều đình đó, thông qua những sự việc rất đáng nhớ, mà nhờ vào sự tận tuỵ, công sức đã bỏ ra không tiếc của nhà văn ấy; thì cũng sẽ có một tiểu thuyết lịch sử đáng trân trọng lắm.

Người ta thường nói rằng muốn viết được một cuốn tiểu thuyết lịch sử, tác giả phải đạt được các tiêu chuẩn sau đây: Phải tạo được cái không khí của thời mà mình miêu tả. Phải tạo được các nhân vật mà mẫu hình chỉ có của thời đó. Phải được cái tâm trạng và nếp nghĩ của con người chỉ của thời đó và phải có một hệ thống các ngôn ngữ của thời ấy. Chúng ta đều biết thời cổ, các nhân vật nhất là các quan đại thần, người ta đều tư duy theo cấu trúc của chữ Hán và tư duy này khác một trời một vực với cấu trúc chữ quốc ngữ. Nếu không đạt được các tiêu chuẩn trên đây thời sẽ không có tiểu thuyết lịch sử đâu.

Miêu tả về lịch sử phần nhiều các tác giả dùng văn xuôi, điều này cũng dễ hiểu. Vì văn xuôi với số từ ngữ và cú pháp cực phong phú đã cho phép tác giả tạo tác được trên các trang viết của mình một hoàn cảnh gần giống với hoàn cảnh của hiện thực lịch sử.

Thế còn ngoài văn xuôi, có thể loại nào được dùng để miêu tả lịch sử?

Thơ là một thể loại được dùng rồi, nhất là các nhà thơ trước Cách mạng tháng Tám, như Thế Lữ v.v.

Bởi thơ mà đặc thù của nó là ở vần điệu, âm giai của thể loại và sức lan toả, sự gây ấn tượng mà có nó, nên khi miêu tả lịch sử thường được người đọc dễ chấp nhận nhất. Nhất là người Việt ta vốn thẩm thơ như bản năng của tự nhiên, nên khi đọc một truyện thơ (tiểu thuyết thơ) về lịch sử thường là sau đó rất dễ thuộc. Truyện thơ, hay tiểu thuyết bằng thơ về cô Kiều, gọi là Truyện Kiều hay tiểu thuyết bằng thơ về Kiều, đều được cả. Tuy vậy, thể loại truyện thơ, hiện chưa được các nhà thơ lưu tâm nhiều. Vì sao vậy? Có lẽ để có một tiểu thuyết bằng thơ về đề tài lịch sử nào đó thường rất tốn sức, công phu thật nhiều, dẫu chỉ mong muốn kể lại về một thời nào đó, một ông vua nào đó mà tác giả tâm niệm.

Vậy mà, tác giả Lâm Hảo đã thầm lặng bỏ ra nhiều công phu, trí lực để tìm hiểu thật kĩ càng và sâu sắc về hai triều vua, nhà Trần và nhà Lê, do vậy chị đã có những phát hiện tuy không to tát gì, nhưng lại rất đáng quí về một góc ẩn khuất nào đó khá hấp dẫn của hai triều vua này, với những vị vua nối nhau kế tiếp làm nên bộ mặt lịch sử đặc sắc cho triều đại của mình. Và, chị Lâm Hảo đã viết được hai tập tiểu thuyết bằng thơ, hay còn gọi là truyện thơ cũng được, về Vương triều Trần hiển hách với ba lần kháng chiến Nguyên Mông nhưng lại rất đa tạp khi vào hậu Trần, và về vương triều Lê với chiến công đại thắng quân Minh và khi vào hậu Lê cũng lại đa tạp vô cùng, để dẫn tới 50 năm nội chiến sông Gianh Lê - Nguyễn.

Có lẽ trong 4 triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn, thì cái “khúc” triều Trần và triều Lê là hai triều đại mà thời đó, đã diễn ra trong một cảnh trạng tột cùng của hỉ, nộ, ái, ố và cái đa tạp xảy ra trong hậu kì của hai triều cũng thật sự đã ở vào cấp độ cao nhất trong suốt chiều lịch đại của nước ta. Lịch sử là như vậy thôi.

Với một giọng thơ hết sức giản dị và vô cùng nhuần thấm sự chân chất, Lâm Hảo đã miêu tả lại một cách tỉ mỉ, một cách thông tỏ và thấu đáo về hai triều đại Triều Trần và Triều Lê trong hai tập sách theo thể thơ lục bát: Vang vọng triều Trần và Lam Sơn tụ nghĩa (bắt đầu từ khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi trở đi cho đến triều Lê cuối cùng là Lê Chiêu Thống).

Trong khi các nhà thơ, cả những cây bút thơ mới lẫm chẫm lẫn các nhà thơ đã thời danh, đang đau đáu tìm đến hoặc đắc ý mà tạo ra các thi pháp uyển xúc, mới mẻ; thì sự xuất hiện của Lâm Hảo với một giọng thơ, một hơi thơ và một mạch thơ được nhuần nhuyễn đến thuần thục thể Thơ Nôm khuyết danh của thời xưa, mà ở thời ấy đã hết sức phổ cập trong dân gian, từ ông hương sư đứng lớp học gõ đầu mấy cái trái đào trẻ nhỏ, đọc làu làu những vần điệu nôm na dung dị của Thơ Nôm khuyết danh; đến các cô hàng xén răng đen sáng quẩy gánh tạp hoá ra chợ, tối ru con bằng thơ Nôm; Lâm Hảo đã nhuần thấm các truyện thơ khá phong phú đó, và chị vẫn thấy rõ cái ảnh hưởng vẫn còn bền chắc và vẫn hết sức sâu rộng trong đời sống văn hoá của làng quê của chúng ta hiện nay. Tuy rằng, bây giờ đời sống tinh thần của làng quê đang rạn ra nhiều tì vết, bởi sự xâm thực của lối đô thị hoá. Nhưng dẫu là thế, thì những vần thơ nôm na, những vần thơ mộc mạc, chân phương như hạt lúa củ khoai của hệ Thơ Nôm khuyết danh vẫn được người dân ngân nga truyền tụng. Giống như hội hoạ, trong khi nhiều bức tranh theo thể hiện đại bằng chất liệu sơn dầu v.v…, được mua với giá 6, 7 trăm đô; thì những bức tranh quê in tren giấy điệp, giấy dó như tranh Hứng dừa, như Đám cưới chuột v.v. đâu có vì thế mà lép vế. Ngược lại kia! Tranh quê vẫn mãnh liệt với sức sống bền chắc theo lịch đại của nó trong hôm nay và cả trong mai sau.

Cả 14 đời vua Trần, mấy vị vua đầu đời Trần ba lần đánh Nguyên Mông, rồi cảnh nước sôi lửa bỏng của giặc ngoại xâm, đã được Lâm Hảo thuật lại tỉ mỉ rành rọt, rõ ràng nhưng lại không kém khúc triết, với cái hơi thở của thời ấy. Hoá ra lối Thơ Nôm, cảnh sắc của thơ Nôm, âm điệu của Thơ Nôm khuyết danh vẫn nguyên vẹn cái tác dụng cái ảnh hưởng khó phai nhạt của nó, đó là sự chấn động và lưu giữ trong lòng người, những đại đa số người đọc của làng quê, thị trấn, thị tứ, vùng xa vùng sâu của đất nước ta. Bây giờ có cần quá một giọng thơ mộc mạc của Thơ Nôm khuyết danh để rồi sẽ thuộc làu làu trong tâm khảm về cả một triều đại như triều Trần trong đại đa số người đọc ở mọi tầng lớp không? Cần lắm! Cần lắm chứ. Trong tập truyện thơ có tên Vang vọng triều Trần dài 2898 câu thơ, đoạn mở đầu kể về một sự tích khá hay và lạ (vì ít người biết) bằng một giọng thơ thế này: Cụ Trần Kinh ở Đông Triều/ Làm nghề chài lưới sớm chiều bên sông/ Truyện rằng: Xưa ở Châu Mân/ Có vị họ Trần tìm đất thăng quan/ Bao đời tích đức cầu an… Nhân vật Trần Kinh là tổ của nhà Trần. Một cụ thể hoá nữa, mới mẻ về cổ tích Trần. Rồi truyện thơ Lam Sơn tụ nghĩa dài 3350 câu thơ cũng vậy. Một thiên truyện thơ về lịch sử đầy đủ các đời vua, các sự kiện tỉ mỉ, xảy ra trong lịch sử thời bấy giờ, đã được tường thuật trôi chảy, đầy âm điệu và thật là giản dị, chất phác. Cùng với việc sáng tác hai tập truyện thơ trên đây năm 2002 và 2004; năm 2002 tác giả Lâm Hảo còn viết một trường ca về đền Đô có tên Hoài cảm Đền Đô thời nhà Lý, và tập trường ca có tên Huyền thoại Điện Biên, năm 2001. Và tập thơ gồm 50 bài, có tên: Em gái rừng Ban, cũng in năm 2004.

Mỗi một tác giả, văn xuôi hoặc thơ ca, đều có cách tốt nhất của mình để đến với độc giả, khiến độc giả đón nhận và trân trọng. Cách đến với độc giả, với phong vị đậm đà hào sảng của Thơ Nôm khuyết danh, của tác giả Lâm Hảo như những gì người viết bài này đã nói ở trên đây, cũng vậy, rất đáng được trân trọng, và sinh cảnh của nó khoát đạt lắm, và sự khuyến khích cho thể thơ này là chắc chắn, tin cậy; cũng một thể ấy, chúng ta hoan nghênh đón nhận một lối đi riêng như thế của Lâm Hảo.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0