Nhớ Bắc Thi tướng họ Huỳnh
Nguyễn Tý
Xem bài: “Cần đọc đúng câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ “Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” của Nguyễn Huy Thông (Văn nghệ Trẻ số 13/2005)”, chúng tôi xin cùng cung cấp thêm nguyên bản bài Nhớ Bắc.
Xưa nay việc tam sao thất bổn trong văn chương là chuyện xảy ra… thường tình. Từ trong kho tàng văn học dân gian những “dị bản” do truyền miệng mà ra. Đó là trong lúc chưa có chữ viết hoặc do hoàn cảnh chiến tranh phương Bắc kéo dài. Còn trong giai đoạn chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ những bài thơ ra đời do các nhà văn, nhà thơ… bị địch bắt nhốt trong nhà lao, tù… do thiếu giấy, mực và để qua mắt bọn chúng họ chỉ còn cách lưu trong trí nhớ nên khi viết lại ít nhiều thay đổi.
Vài nét về tiểu sử nhà thơ - chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ là một nhà thơ, chiến sĩ, được quân dân miền Đông Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp gọi bằng cái tên thân thương - anh Tám Nghệ. Ông sinh tại làng Tân Tịch, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hoà (nay là xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) vào ngày 2 tháng 2 năm 1914. Sau khi học xong sơ học ở trường Pétrus Ký và bắt đầu tìm đến với cách mạng. Khi khởi nghĩa Nam Kỳ bị thất bại, thực dân Pháp đàn áp dã man người yêu nước, ông qua Thái Lan và tham gia phong trào cách mạng của Việt Kiều. Giữa thập kỷ 1940, ông trở lại Sài Gòn và tham gia giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám. Khi Nam Bộ kháng chiến nổ ra, ông tập hợp lực lượng, lập chiến khu, chỉ huy Chi đội 10 Vệ quốc đoàn, rồi làm Tư lệnh khu VII, Tỉnh đội trưởng Thủ Dầu Một - Biên Hoà. Sau hiệp định Genève 1954, ông tập kết ra Bắc đảm nhiệm chức vụ Phó thủ trưởng Cục Quân huấn, sau đó chuyển ngành qua Bộ Lâm nghiệp. Đầu năm 1975, ông tham gia trong đoàn quân chiến thắng trở lại Sài Gòn - Gia Định, thành phố đã hằn dấu chân tuổi trẻ của ông trong những ngày sóng gió. Ông mất tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1977, thọ 64 tuổi và được an táng tại quê nhà.
Về hoàn cảnh ra đời bài thơ Nhớ Bắc
Hai câu thơ được nhiều người nhắc đến của nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ:
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.
Lâu nay đã nằm trong trí nhớ của mỗi người nhưng mới đây nhà văn Triệu Xuân đã cung cấp cho chúng tôi một bài viết của ông Triệu Minh Đức về bài thơ Nhớ Bắc như sau:
“Ai đi về Bắc ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.
Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn
Hoàng! Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu buồn xa xứ
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương
Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ
Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng.
Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền
Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm
Muốn trở về quê, mơ cảnh tiên.
(Chiến khu D, 1946)
Huỳnh Văn Nghệ
Chú thích: Bản này in theo nguyên văn bút tích của ông Huỳnh Văn Nghệ trong sổ tay.
Thế nhưng, theo một người bạn văn của tôi, một người chuyên nghiên cứu về Huỳnh Văn Nghệ và Lý Văn Sâm thì, trong một cuốn sổ tay khác, ông Huỳnh Văn Nghệ lại ghi là sáng tác năm 1940 tại ga xe lửa Sài Gòn nhân tiễn một người bạn thân về Bắc, đi trên chuyến tàu khai thông đường sắt xuyên Việt. Bài thơ trong cuốn sổ tay này mang tên: “Tiễn bạn về Bắc”, có 5 khổ thơ. Ngoài 4 khổ thơ trên còn một khổ thơ cuối cùng là:
“Ai đi về Bắc xin thăm hỏi
Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa
Hoàn Kiếm hồ xưa linh quy hỡi
Bao giờ mang trả kiếm dân ta”.
Năm 1940 là năm người Pháp chính thức khai thông tuyến đường sắt xuyên Việt. Nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ sáng tác bài này với 5 khổ thơ và lấy tên là Tiễn bạn về Bắc, cảm hứng trào dâng ông viết ra tức thì. Có lẽ vì thế mà đến năm 1946, giữa chiến khu D, ông mang bài thơ này ra xem xét lại và quyết định cắt bỏ khổ thơ thứ 5”.
Cái khác nhau ở bài thơ này là “Từ thuở” và “Từ độ”; “Trời Nam” thành “Nghìn năm”.
Những áng thơ hay, những bài thơ, câu thơ vượt thời gian do bị hiểu “nhầm” mà gây nên những cuộc tranh luận không cần thiết. Đáng tiếc, khi tác giả còn tại thế (sống) không ai bàn tán, tranh luận. Để khi tác giả mất đi lại đem ra mổ xẻ… làm hỏng từng chữ, từng câu, làm “hại” ý nghĩa, vần điệu của bài thơ. Và, nhất là được trích dẫn trong sách giáo khoa (SGK) để giảng dạy là sự sai sót kéo dài nhiều thế hệ (như bài Qua Đèo Ngang)… vì chỉ “sai một li đi một dặm”. Vì một nền văn học trong sáng của nước nhà, rất mong các nhà nghiên cứu văn học nhất là các chuyên gia ở Viện Văn học, Hội Nhà văn, Viện Ngôn ngữ… nhất là những nhà nghiên cứu văn học sử hãy trả lại sự trong sáng cho một câu thơ, đoạn thơ, bài thơ dù đó chỉ là một chữ/từ… và cần nhất là trao đúng tên cho tác giả đã “sinh” ra nó, đừng có kiểu “râu ông này cắm cằm bà nọ”… thì đáng tiếc lắm thay!
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Nguyễn Tý
Xem bài: “Cần đọc đúng câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ “Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” của Nguyễn Huy Thông (Văn nghệ Trẻ số 13/2005)”, chúng tôi xin cùng cung cấp thêm nguyên bản bài Nhớ Bắc.
Xưa nay việc tam sao thất bổn trong văn chương là chuyện xảy ra… thường tình. Từ trong kho tàng văn học dân gian những “dị bản” do truyền miệng mà ra. Đó là trong lúc chưa có chữ viết hoặc do hoàn cảnh chiến tranh phương Bắc kéo dài. Còn trong giai đoạn chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ những bài thơ ra đời do các nhà văn, nhà thơ… bị địch bắt nhốt trong nhà lao, tù… do thiếu giấy, mực và để qua mắt bọn chúng họ chỉ còn cách lưu trong trí nhớ nên khi viết lại ít nhiều thay đổi.
Vài nét về tiểu sử nhà thơ - chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ là một nhà thơ, chiến sĩ, được quân dân miền Đông Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp gọi bằng cái tên thân thương - anh Tám Nghệ. Ông sinh tại làng Tân Tịch, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hoà (nay là xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) vào ngày 2 tháng 2 năm 1914. Sau khi học xong sơ học ở trường Pétrus Ký và bắt đầu tìm đến với cách mạng. Khi khởi nghĩa Nam Kỳ bị thất bại, thực dân Pháp đàn áp dã man người yêu nước, ông qua Thái Lan và tham gia phong trào cách mạng của Việt Kiều. Giữa thập kỷ 1940, ông trở lại Sài Gòn và tham gia giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám. Khi Nam Bộ kháng chiến nổ ra, ông tập hợp lực lượng, lập chiến khu, chỉ huy Chi đội 10 Vệ quốc đoàn, rồi làm Tư lệnh khu VII, Tỉnh đội trưởng Thủ Dầu Một - Biên Hoà. Sau hiệp định Genève 1954, ông tập kết ra Bắc đảm nhiệm chức vụ Phó thủ trưởng Cục Quân huấn, sau đó chuyển ngành qua Bộ Lâm nghiệp. Đầu năm 1975, ông tham gia trong đoàn quân chiến thắng trở lại Sài Gòn - Gia Định, thành phố đã hằn dấu chân tuổi trẻ của ông trong những ngày sóng gió. Ông mất tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1977, thọ 64 tuổi và được an táng tại quê nhà.
Về hoàn cảnh ra đời bài thơ Nhớ Bắc
Hai câu thơ được nhiều người nhắc đến của nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ:
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.
Lâu nay đã nằm trong trí nhớ của mỗi người nhưng mới đây nhà văn Triệu Xuân đã cung cấp cho chúng tôi một bài viết của ông Triệu Minh Đức về bài thơ Nhớ Bắc như sau:
“Ai đi về Bắc ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.
Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn
Hoàng! Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu buồn xa xứ
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương
Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ
Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng.
Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền
Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm
Muốn trở về quê, mơ cảnh tiên.
(Chiến khu D, 1946)
Huỳnh Văn Nghệ
Chú thích: Bản này in theo nguyên văn bút tích của ông Huỳnh Văn Nghệ trong sổ tay.
Thế nhưng, theo một người bạn văn của tôi, một người chuyên nghiên cứu về Huỳnh Văn Nghệ và Lý Văn Sâm thì, trong một cuốn sổ tay khác, ông Huỳnh Văn Nghệ lại ghi là sáng tác năm 1940 tại ga xe lửa Sài Gòn nhân tiễn một người bạn thân về Bắc, đi trên chuyến tàu khai thông đường sắt xuyên Việt. Bài thơ trong cuốn sổ tay này mang tên: “Tiễn bạn về Bắc”, có 5 khổ thơ. Ngoài 4 khổ thơ trên còn một khổ thơ cuối cùng là:
“Ai đi về Bắc xin thăm hỏi
Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa
Hoàn Kiếm hồ xưa linh quy hỡi
Bao giờ mang trả kiếm dân ta”.
Năm 1940 là năm người Pháp chính thức khai thông tuyến đường sắt xuyên Việt. Nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ sáng tác bài này với 5 khổ thơ và lấy tên là Tiễn bạn về Bắc, cảm hứng trào dâng ông viết ra tức thì. Có lẽ vì thế mà đến năm 1946, giữa chiến khu D, ông mang bài thơ này ra xem xét lại và quyết định cắt bỏ khổ thơ thứ 5”.
Cái khác nhau ở bài thơ này là “Từ thuở” và “Từ độ”; “Trời Nam” thành “Nghìn năm”.
Những áng thơ hay, những bài thơ, câu thơ vượt thời gian do bị hiểu “nhầm” mà gây nên những cuộc tranh luận không cần thiết. Đáng tiếc, khi tác giả còn tại thế (sống) không ai bàn tán, tranh luận. Để khi tác giả mất đi lại đem ra mổ xẻ… làm hỏng từng chữ, từng câu, làm “hại” ý nghĩa, vần điệu của bài thơ. Và, nhất là được trích dẫn trong sách giáo khoa (SGK) để giảng dạy là sự sai sót kéo dài nhiều thế hệ (như bài Qua Đèo Ngang)… vì chỉ “sai một li đi một dặm”. Vì một nền văn học trong sáng của nước nhà, rất mong các nhà nghiên cứu văn học nhất là các chuyên gia ở Viện Văn học, Hội Nhà văn, Viện Ngôn ngữ… nhất là những nhà nghiên cứu văn học sử hãy trả lại sự trong sáng cho một câu thơ, đoạn thơ, bài thơ dù đó chỉ là một chữ/từ… và cần nhất là trao đúng tên cho tác giả đã “sinh” ra nó, đừng có kiểu “râu ông này cắm cằm bà nọ”… thì đáng tiếc lắm thay!
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,