Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Tản mạn về thư pháp

0 trả lời, 444 lượt xem — Trang 1 / 1
Tản mạn về thư pháp

Anh Chi

Nghệ thuật thư pháp là một thành tựu văn hóa của Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Hán, như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. đây là nghệ thuật dùng bút lông viết chữ Hán (hoặc chữ Nôm như ở nước ta) theo phép tắc nhất định, với các thể chủ yếu là triện, lệ, chính, hành và thảo. Chữ viết ra phải đảm bảo được sức biểu cảm sâu xa. Nội dung và hình thức của một bức thư pháp kết hợp hài hòa trong những chữ viết, mạnh mẽ và uyển chuyển, rắn rỏi và bay bổng. Những bức chữ của các thư pháp gia lớn quả thực có sức biến hóa sinh động, gợi mĩ cảm, có phong vị sâu sắc và có cá tính độc đáo.

Đối với các nhà thư pháp, điều quan trọng nhất là phép cầm bút, điều khiển ngọn bút, điểm hoạch, bố cục các hàng chữ và nhấn mạnh những chữ có thần thái đặc biệt. Qua một bức thư pháp, người ta cảm nhận được trình độ thẩm mĩ, tài năng nghệ thuật và học vấn của nhà thư pháp.

Trong lịch sử văn hóa Trung Quốc có nhiều tên tuổi lớn đóng góp cho thời đại của mình bằng tài năng thư pháp. Đó là Vương Hy Chi và con trai ông là Vương Hiến Chi, đời Tấn. Thời Tùy- Đường có Âu Dương Tuân, Trương Húc. Thời Tống có Tô Thức (tức Tô Đông Pha) và Hoàng Đình Kiên. Đời nhà Thanh có Trịnh Bản Kiều (tức Trịnh Nhiếp), Lưu Dung và cả ông vua Khang Hy. Chính ông vua Khang Hy (1662-1722) đã tự tay viết tặng sứ thần ta bốn chữ Vạn thế sư biểu trong Văn miếu Quốc tử Giám Hà Nội. Mỗi nhà thư pháp lớn thường có sở trường riêng. Như Trịnh Bản Kiều được coi là bậc “quái kiệt”, có tài viết cả các thể tự triện, lệ, hành, thảo. Thư pháp gia Hoàng Đình Kiên thì xuất sắc trong hành thư và Cuồng thảo Âu Dương Tuân thì tuyệt mĩ trong Khải thư. Trương Húc thì vô cùng tung hoành và táo bạo trong cuồng thảo. Những bức thảo thư do Trương Húc phóng bút có một thế ngữ khác thường, tự dạng kì lạ, nét nọ bắt sang nét kia vô cùng phóng túng. Theo sách Tân Đường thư thì ông vua Đường Văn Tống đã ban chiếu chỉ lấy thơ của Lí Bạch, nghệ thuật múa kiếm của Bùi Mân và thảo thư của Trương Húc làm ba kĩ năng trác việt, gọi là Tam tuyệt của nhà Đường. Trương Húc viết chữ đẹp nhất vào lúc ông say. Trong hơi men túy lúy, ông chạy nhảy và la hét, và điên loạn như có quỷ nhập vào, và thư pháp của ông là sự thăng hoa của một tài năng độc đáo...

Tuy nhiên, nhà thư pháp được tất cả các thời tôn sùng, có thế chữ hùng mạnh và biến hóa muôn vẻ là Vương Hy Chi (321-379). Ông là người học rộng tài cao được cử làm quan đến chức Nội sử kiêm hữu quân tướng quân, nên đương thời hay gọi ông là Vương Hữu Quân. Hồi nhỏ Vương Hy Chi trực tiếp được bố truyền dạy thư pháp. Sau, học chú ruột Vương Triền, một họa gia kiêm thư pháp gia. Càng học Vương Hy Chi càng chăm chỉ luyện chữ, công phu tìm hiểu bút tích của Lý Tư (đời Tần), của Tào Hỷ (thời Đông Hán) của Lục Cơ (đời Tây Tấn) của vệ phu nhân( nữ thư pháp gia lừng danh đời Đông Tấn)...nhờ vậy Vương Hy Chi nhanh chóng thành tài, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật thư pháp. Ông không sống bó mình trong kinh thành, ngay cả khi đã làm quan vẫn đây đó ngoạn thủy du sơn, gặp gỡ bạn bè cùng chí hướng, truy hoan thư họa. Nhiều câu truyện hay về ông đến nay vẫn còn truyền tụng. Như chuyện dạo chơi ở quê, giúp đỡ bà cụ bán quạt. Quạt của bà cụ làm quá thô sơ, chạy rao khắp chợ mà không ai mua. Nhìn bà cụ tất tả tội nghiệp, Vương Hy Chi gọi bà mang quạt tới, bảo “để tôi vẽ chữ lên quạt cho, sẽ có người mua ngay”. Cụ bà bán quạt bày hết quạt ra cho Vương Hy Chi dùng bút viết chữ lên quạt. Không biết chữ càng không hiểu những chữ loằng ngoằng kia làm đẹp quạt lên hay làm xấu quạt đi, bà cụ có vẻ e ngại, ngán ngẩm. Vương Hy Chi từ tốn: “Cụ cứ đem bán đi, bảo với người ta là chữ của Vương Hữu Quân viết lên quạt đấy!” Quả nhiên, người trong chợ đến xem. Họ thấy đúng là bút tích của Vương Hy Chi, nên tranh nhau mua hết cả gánh quạt. Có kẻ còn mua nhiều cái, sau đem bán lại với giá cao nhiều lần...

Lại có chuyện vị đạo sĩ ở Sơn Âm xin chữ Vương Hy Chi. Đạo sĩ từ lâu khao khát được Vương Hy Chi chép cho cuốn Đạo đức kinh, nhưng lại luôn lo ngại rằng không dễ gì mà có được bút tích của ông. Vị đạo sĩ tìm hiểu kĩ, biết Vương Hữu Quân không bán chữ lấy tiền, lại không say mê, cây hoa, chim, cá... nhưng có một thứ mà ông rất yêu mê, là ngỗng trắng. Hễ nghe ở đâu có ngỗng trắng đẹp là Vương Hy Chi tìm đến xem hoạc tìm cách mua về. Vị đạo sĩ đã cất công lùng tìm mua về được một bầy ngỗng trắng tuyệt đẹp về thả ở ao nhà. Nghe tin có đàn ngỗng trắng hảo hạng ở Sơn Âm, Vương Hy Chi liền tìm đến nhà đạo sĩ. đàn ngỗng trắng khoan thai bơi lội, ông càng nhìn càng mê say. Ông tỏ ý muốn mua cho được đàn ngỗng. Khi đó vị đạo sĩ chủ động nói rằng: “Vương Hữu Quân yêu thích thì xin dâng tặng cả, duy chỉ muốn được thỏa ao ước cuốn Đạo đức kinh đích thị là bút tích của ngài...” Vương Hy Chi không chút do dự, bảo đem giấy bút, nhanh chóng viết xong cuốn Đạo đức kinh rồi hả hê mang đàn ngỗng về...

Vương Hy Chi có công lớn cải biến nâng cao vẻ đẹp của Hành thư và thảo thư sáng tạo nên Thảo thư tân thể tự đạt tới độ ưu kì tinh mĩ, được suy tôn là bậc thánh thư. Kì tài của ông từ sinh thời đã được tôn vinh sau khi qua đời không ngớt được phẩm bình, tôn sùng. đặc biệt 300 năm sau đến thời nhà Đường, vua Đường Thái Tông đã lệnh chỉ cho triều thần sưu tập bản quản tại hoàng cung hơn 3000 tác phẩm thư pháp của Vương Hy Chi, trong đó có kiệt tác Lan đình tự, tức Lan đình yến tập tự mà ngày nay chúng ta thường gọi là Thiếp lan đình. Lan Đình là tên một ngôi đình cổ ở Sơn Âm (nay thuộc Triệu Hưng, Triết Giang) do Vương Hy Chi và anh em danh sĩ Tạ An xây dựng. Vào năm Vĩnh Hòa thứ 9, đời Tấn, năm 353 cùng Tạ An và 40 danh sĩ khác tụ họp tại Lan đình vui chơi, Vương Hy Chi viết bài tựa cho tập Lưu đình thi tập theo thể hành, tương truyền gồm 28 dòng, 324 chữ, bằng bút râu chuột trên giấy kén tằm, các chữ đều biến hóa thần kì. Người ta gọi Lan đình tự là mặc bảo và cho rằng đó là Thiên hạ đệ nhất hành thư. Thêm 200 năm nữa, đến đời đường Văn Tông (827-835) ông vua này lệnh cho các cận thần theo mẫu tự của bức Lan đình tự tạo ra một số bản để ban cho các thân vương, đại thần. Quá yêu mê thư pháp, nhất là thư pháp của Vương Hy Chi, khi Văn Tông chết, bức Lan đình tự chính bản đã được chôn theo ông. Ngày nay những bức Lan đình tự còn lại đều là bức phỏng tả...

ở nước ta từ xưa, dường như không có những nhà thư pháp đặc sắc để lại cho hậu thế những tác phẩm bất hủ như ở Trung Quốc, hoặc như ở Triều Tiên, Nhật Bản. Song trong lịch sử, những người chữ đẹp danh tiếng không phải là ít. Thời Trần có danh sĩ Phạm Sư Mạnh. Thời Lê - Nguyễn thì có vua Lê Thánh Tông, vua Lê Cảnh Hưng, chúa Trịnh Sâm, và các danh sĩ Cao Bá Quát, Bùi Dị...Trong đời sống văn hóa nước ta, chữ đẹp là một giá trị sánh cùng văn học, thể hiện qua câu Văn hay chữ tốt. Nghệ thuật thư pháp được coi là một giá trị văn hóa thực sự và đã có một sức cuốn hút thật mạnh mẽ. Thư pháp trên quạt là một hình thức giao lưu nghệ thuật đặc sắc đã truyền qua nhiều đời. Tặng quạt đề thơ là một biểu hiện văn hóa thẩm mĩ cao. Giới chơi cổ ngoại nước ta, từ lâu đã có câu nhất chữ, nhì tranh. Như vậy đủ thấy các tác phẩm thư pháp ở ta chính là những bảo vật truyền đời, có giá trị như những tranh cổ (trong câu nói trên thì còn hơn tranh).

Di sản thư pháp Việt Nam ta từ nhiều đời trước truyền lại và còn lưu giữ được đến nay, có thể nói là khá nhiều. Đó là những bia ký, sắc phong, lệnh chỉ, câu đối hoành phi v.v... Khắc trên đá, trên gỗ, viết trên gấm, lụa, giấy xuyến chỉ, biết bao nhiêu bức chữ cổ nhân để lại. Khá nhiều bức thật tài hoa, độc đáo mang phong vị riêng khá đậm đà. Qua bia chùa Báo Ân khắc năm 1126 và bia chùa Ngưỡng sơn linh xứng khắc năm 1126 (Thời Lý), qua bút tích của Phạm Sư Mạnh ở động Kính chủ, Hải Dương (thời Trần)...ta thấy lối chữ thời Lý- Trần thật mềm mại, khoáng đạt. Sang thời Lê, thể chữ vững chãi tề chỉnh, thuần hậu. Vị vua hiền tài Lê Thánh Tông quả là một nhà thư pháp với lối chữ đẹp tiêu biểu cho thời đại ông. Trên một bia đá ở Nam Định khắc năm 1467, còn lưu được nét chữ của ông, và những chữ ông lưu đề ở động Long Quang năm 1478. Đó thực sự là những tác phẩm thư pháp, bởi thể hiện trên chất liệu đá, nên trơ gan cùng tuế nguyệt. Rồi những văn tự trên bia ở Bình Khẩu, Hải Dương, khắc vào năm 1579 và những bút tích của vua Lê Cảnh Hưng trên bia khắc năm 1740 tại Gia Bình, Bắc Ninh. Đặc biệt trên núi Dục Thúy ở Ninh Bình, có rất nhiều bài thơ khắc trên đá với những nét chữ tài hoa mà nhiều danh sĩ của đất nước lưu đề. Thời gian, mưa nắng biết bao đời, những bức thư pháp trên đá này vẫn giữ sâu đậm tâm tình, chí khí người muôn năm cũ. Những thư pháp đời Nguyễn nhìn chung vẫn theo lối chữ khuôn phép, vững vàng thuần hậu. Nhưng đến Cao Bá Quát đã thấy một lối viết tung hoành hơn. Còn ở Bùi Dị thì đã có lối đưa bút mềm mại...Tuy nhiên nhìn tổng thể, nghệ thuật viết chữ của người Việt Nam ta thấy cổ nhân luôn có sự chừng mực khi đưa đẩy ngọn bút. Cũng có một số tài hoa ưa thích lối chữ thảo, nhưng không thấy ai múa ngọn bút phóng túng tới mức cuồng thảo.

Người sành chơi thư pháp thì thấy cả cái đẹp của hội họa trong những bức chữ. Sự thành công của các thư pháp gia thể hiện ở bố cục cho đến khả năng tạo những từ, ngữ nhiều mỹ cảm, và cả đến kĩ năng điểm hoạch tài khiến có cả đậm nhạt, cứng mềm, nặng nhẹ, buồn vui, và như vậy, một tác phẩm thư pháp được người ưa chuộng gọi là một bức tranh chữ, kể cũng không sai. Ta có thể hiểu được tâm tính của những người chơi chữ.

Mươi năm trở lại đây càng ngày càng thêm nhiều người mê chơi chữ, thích sưu tầm thư pháp. Tên tuổi các nhà thư pháp đương đại chúng ta như Lê Xuân Hoà, Nguyễn Văn Bách luôn được nhắc đến và yêu mến. Và rất lạ lùng là trong đó có khá nhiều người không biết chữ Hán, phải chăng vì tự dạng của nó phản ánh một cách ngây thơ trong trẻo hình hài tất cả những gì có trong thế giới tự nhiên cũng như trong thế giới con người? Và phải chăng, chữ viết là hình vẻ của tinh thần?! Và như thế để thưởng thức nghệ thuật thư pháp, trước hết cần có một “biệt nhỡn” mới có thể cảm nhận được cái “thần” của chữ. Chính cái “thần” trong những nét bút như rồng bay phượng múa đã tạo nên sức hấp dẫn kì lạ đối với con người yêu cái đẹp, biết nhìn ra cái đẹp. Đọc được cái “thần” đó còn quý hơn việc đọc hết được mặt chữ, câu văn mà vẫn không nhận thức được gì, không cảm được gì.

Chúng tôi chợt nhớ ông đồ bán chữ những ngày tết đến xuân về trong bài thơ bất hủ của nhà thơ Vũ Đình Liên. Những câu thơ chan chứa ân tình với một quá khứ sâu dầy, khiến người đọc như không chỉ là đọc nữa, mà ngoái gọi về cõi xưa: Những người muôn năm cũ- Hồn ở đâu bây giờ?! Hồn xưa còn ở đâu đó, ở mái đình, cây đa, ở trong những đền chùa, lăng miếu sâu đậm trầm hương, ở trong muôn vàn giá trị văn hóa còn lại sau rất nhiều biến thiên của lịch sử...và những hồn muôn năm cũ cũng ẩn khuất sau những bức thư pháp tuyệt vời trường tồn với thời gian.



(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0