Nhân việc phát hiện bản truyện Kiều Liễu Văn Đường 1866
Đào Thái Tôn
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã chứng minh ba văn bản Truyện Kiều tưởng như quan trọng nhất chỉ là ba văn bản... trong giai thoại - mà giai thoại “bản Kinh do vua Tự Đức đưa in” vẫn làm cho có người lúng túng (Xin xem: Văn bản Truyện Kiều - Nghiên cứu và thảo luận. Nxb Hội Nhà văn, 2001). Từ ba năm qua, người ta lại giới thiệu ba bản Kiều in và chép trong các năm 1866, 1870, 1871 là những bản “bản cổ nhất”, “chép từ bản tác giả’’..., khiến cho nhiều người tưởng được hứa hẹn đọc một bản gần nguyên tác nhất. Nhưng có bản nào “cổ nhất” đâu mà hy vọng? Chỉ cần ba lần sao chép là mất gốc (tam sao thất bản) rồi, thế thì sau khi Nguyễn Du mất (1820) trên dưới 50 năm, qua bao lần sao đi chép lại mới in thì phỏng còn gốc ở đâu?! Bản chép tay năm 1870 do Nguyễn Bá Triệu công bố (*) cũng là bản đã biên tập (san), sửa chữa (cải) quá nhiều. Vì thế dù cho mai đây có tìm được bản in trước 1866 dăm bảy năm chăng nữa, cũng chỉ nên gọi đó là bản sớm nhất hiện đã biết mà thôi. Bản Liễu Văn Đường 1866, 1871 cũng vậy: Nhiều chữ khắc sai, không biết đọc là gì. Nhiều câu mất vần, vô nghĩa, cho nên chúng chỉ là những tư liệu để nghiên cứu văn bản mà thôi. Nó là tư liệu thô. Tư liệu thô thì khi phiên âm, cần trung thành giữ nguyên trạng cái “thô” của tư liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu. Việc hiệu đính cũng chưa đặt ra ở đây. Bởi khi gặp những chữ khắc rõ, nhưng là những chữ có dị bản mà nghe ra chữ nào cũng “chạy nghĩa” (Thiệt lòng mình/ Dột lòng mình) hoặc một chữ chưa biết đọc âm nào cho phải (THắM THIếT/ THấM THíA...), nhiều khi chúng ta phải lúng túng không biết nên “hiệu đính” thế nào... Có chữ tưởng đơn giản mà bao nhiêu người phiên sai (như chữ TREO trong câu 176) mà bây giờ vẫn “hiệu đính’’, bảo người ta đọc TREO thành GIEO thì “hiệu đính” hay là “chữa lợn lành thành lợn què”? Vả chăng nếu cần một bản Kiều để thưởng thức thì bạn đọc đã có bản Quốc ngữ, hà tất phải in kèm bản chụp chữ Nôm lem nhem những sai cùng sót làm gì.
Chính vì thế, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn không coi bản in Duy Minh Thị 1872 là bản Truyện Kiều của Nguyễn Du mà chỉ xem là tư liệu để nghiên cứu văn bản. Đặt tên công trình là Tư liệu Truyện Kiều - bản Duy Minh Thị 1872 (Đại học Quốc gia, H, 2002), nghĩa là ông chỉ dùng bản Duy Minh Thị như một tư liệu để nghiên cứu văn bản Truyện Kiều, chứ không đưa ra một bản Nôm có nhiều chữ còn chưa biết đọc là gì để bảo rằng: Truyện Kiều của Nguyễn Du là thế đấy! Chúng tôi nghiên cứu bản 1866, 1871 trên tinh thần đó. Bản 1866 hiện bị mất 864 câu. Nhưng vẫn là rất đáng quý vì chẳng những nó bổ khuyết nhiều điều cho bản 1871 mà còn cho chúng ta đặt được nét bút đầu tiên trong sơ đồ truyền bản của Truyện Kiều.
Khoảng năm 1961, 62, Viện Văn học đã đề ra việc đi tìm nguyên tác Truyện Kiều. Nhưng đó là việc làm không tưởng, nên phải lại quay về “hiệu đính” để có bản tạm dùng trong năm kỷ niệm (1965). Từ đó về sau, các bản “hiệu đính’’ khác đều là bản sửa chữa Truyện Kiều như vậy cả.
Biết không thể tìm được nguyên tác, từ khoảng năm 1940, cụ Hoàng Xuân Hãn đã đề ra phương pháp tái lập bản Kiều “nguyên lời Nguyễn Du”, bằng cách gạt bỏ bản Kiều Oánh Mậu (1902) và các bản in thế kỷ XX, để tìm về các bản in đời Tự Đức. Nhưng Tự Đức (1848-1883) vẫn là muộn, cụ còn tìm đến những bản mang dấu vết đời Gia Long (1802-1819) để hy vọng có được bản gần nguyên tác hơn. Năm 1942, 1943, cụ đã tìm được một bản như thế! Chủ trương của cụ được các nhà nghiên cứu rất quan tâm. Cuộc tranh luận từ 1997- còn kéo dài đến nay đã chứng tỏ điều đó.
*
Với sự giải mã bản Duy Minh Thị 1872 nhằm làm rõ những điều mà sinh thời cụ Hoàng Xuân Hãn rất tâm đắc, sự nhập cuộc của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã làm cho việc nghiên cứu văn bản thực sự đi vào chiều sâu. Những gợi ý mà học giả Hoàng Xuân Hãn chỉ nói thoảng qua, đều được giáo sư làm sáng tỏ qua việc phân tích bản Duy Minh Thị. Chẳng hạn, cụ Hoàng nói có một bản “chỉ có huý Gia Long”, thì giáo sư đã lập biểu bảng, chỉ rõ câu nào tại bản này chữ LAN phải đổi thành HƯƠNG, chữ GIốNG phải đổi thành THóI, thành HệT... nên đã giúp bạn đọc hiểu rõ hơn phương pháp nghiên cứu của học giả Hoàng Xuân Hãn. Những vấn đề ông nghiên cứu bản Duy Minh Thị 1872 đã trở thành những vấn đề mà khi nghiên cứu bất kỳ một văn bản Truyện Kiều nào, người ta cũng không thể bỏ qua.
Nhưng, công trình của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã khiến chúng tôi thật sự ngỡ ngàng, bởi dường như, theo sự phân tích của ông thì có thể dựa vào bản Duy Minh Thị mà dò tìm được nguyên tác! Vậy thì bản Liễu Văn Đường 1866, 1871 còn có giá trị, vai trò gì trong lịch sử văn bản Truyện Kiều nữa không? Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi đã nghiên cứu kỹ từng đặc điểm nổi trội mà nhờ đó đã làm nên nét cực cổ của bản Duy Minh Thị 1872, từ đó soi vào bản Liễu Văn Đường. Hai năm qua chúng tôi đã trình bày một số vấn đề trên báo chí nhằm tranh thủ ý kiến đồng nghiệp và đến nay thì đã thấy rõ rằng:
a) Bản Truyện Kiều có thể dựa vào đó mà dò tìm nguyên tác là bản chép tay mà cụ Hoàng Xuân Hãn đã thấy từ năm 1942, 43 chứ không phải bản in Duy Minh Thị.
b) Bản Duy Minh Thị kiêng một cách rất nghiêm ngặt những chữ húy đời Gia Long, nhưng các bản 1866, 1871 cũng không thua kém gì về đặc điểm nổi trội đó. Thành thử, chữ huý trên các văn bản chỉ thể hiện thời điểm biên tập bản gốc xa xưa của bản in, chứ không thể hiện tuổi văn bản. Nghĩa là: Bản gốc xa xưa của bản Duy Minh Thị cũng như các bản1866, 1871... vốn là một bản chép tay cực cổ, có thể được sao chép trong đời Gia Long (1802 - 1819), nhưng qua hàng nửa thế kỷ sao đi chép lại, chữ húy thì còn mà phẩm chất cổ đã rất mờ phai. Vì thế, tuổi của văn bản được tính từ năm in 1872 chứ không phải khoảng 1802-1819 nữa. Kết hợp nhiều yếu tố khác, chúng tôi đã chứng minh rằng không thể dựa vào bản Duy Minh Thị để dò tìm nguyên tác Truyện Kiều.
c) Bản gốc xa xưa của các bản 1866, 1871, 1872 đều bắt nguồn từ các bản chép tay có xuất xứ Thăng Long. Nhưng khi đưa vào Huế, đã tách thành hai nhánh:
+ Bản 1866, 1871 thuộc hệ văn bản cổ được định bản sớm từ sinh thời Nguyễn Du. Những người tiếp nhận hệ văn bản đầu tiên này là những danh sĩ Bắc Hà thuộc thế hệ Phạm Quý Thích (1759 - 1825) và các học trò ông. Khi việc thưởng thức Truyện Kiều trở nên rộng khắp, các nhà khắc ván tư nhân ở Thăng Long không khó khăn gì in được những bản thuộc hệ truyền bản đầu tiên đó. Xin được thế nào thì họ cứ sao chép như vậy in ra để kinh doanh, không cần nhờ người sửa chữa, vả lại do sự sao chép xảy ra trong một phạm vi hẹp, nên độ sai dị của các bản in thuộc hệ văn bản này không lớn.
+ Trong khi đó, do đưa vào Huế, bản gốc hệ Thăng Long đã bị sửa chữa khá nhiều, vì khi Truyện Kiều trở nên quá nổi tiếng thì người ta đã truyền nhau sao chép. Các ông quan trong triều đình Huế đều là những người hay chữ nên có thói quen vừa sao chép vừa sửa chữa “hộ” Nguyễn Du cho “hay thêm” theo thẩm mỹ của họ. Đến khi in ra chữ Quốc ngữ thì từ Trương Vĩnh Ký (1875), A.Des Michels (1884), đến E. Nordemann (1897)... đều vừa tham khảo những bản sửa chữa trước, vừa tham gia sửa chữa thêm. Nguyễn Hữu Lập (1870), Kiều Oánh Mậu (1902) là hai nhân vật sửa chữa Truyện Kiều công khai mà đến nay ta biết chắc. Bản Kiều Oánh Mậu là “tập đại thành” của việc sửa chữa Truyện Kiều. Mà bản này lại ảnh hưởng đến tất cả các bản Kiều Quốc ngữ trong thế kỷ XX.
Vì vậy, nếu thế kỷ XX là thế kỷ chấp nhận việc sửa chữa Truyện Kiều thì thế kỷ XXI là thế kỷ nghiên cứu văn bản để “đính ngoa”, nhằm tìm lại “nguyên lời Nguyễn Du”. Đó là chủ trương của cụ Hoàng Xuân Hãn mà giáo sư Nguyễn Tài Cẩn là người mở đường. Qua việc nghiên cứu bản Duy Minh Thị 1872, chẳng những ông đã làm rõ phương pháp Hoàng Xuân Hãn mà còn đưa ra những mô hình để khi nghiên cứu bất kỳ bản Kiều nào, người ta cũng có thể nhận biết ngay bản đó thuộc hệ văn bản nào, “cổ” hay “giả cổ”. Đây là đóng góp lớn của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn từ 2002 đến nay.
Chúng tôi cho rằng nếu chỉ phiên âm bản Liễu Văn Đường 1871 kèm bản chụp chữ Nôm thì sẽ không đóng góp được là bao, nên đi theo con đường nghiên cứu, gắng tìm ra giá trị của các bản 1866, 1871, 1872 là đại diện sớm nhất của hai hệ bản truyện Kiều. Nếu chỉ đặt mục đích trưng bản chụp như món đồ cổ không lời thuyết minh thì chúng tôi đã làm một việc vô duyên, vì người ta làm rồi. Hơn nữa, từ đầu năm 2003, chúng tôi đã nhận được hai luận án tốt nghiệp đại học do cử nhân Nguyễn Tuấn Cường và Hà Thị Tuệ Thành tặng (một người nghiên cứu bản 1871, một người nghiên cứu bản VNb.60). Chúng tôi vô cùng cảm ơn và vui mừng nhận ra rằng: Thì ra công trình của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã tác động lập tức tới các trường đại học, làm cho phương pháp Hoàng Xuân Hãn bắt đầu vận hành tới cả những luận văn tốt nghiệp của sinh viên. Việc phiên âm vẻn vẹn 3254 câu thơ sẽ không làm thành luận văn được, nên tại hai luận văn này, chúng tôi thấy các thầy đã hướng dẫn mỗi người nghiên cứu khá nghiêm túc một vấn đề văn bản lý thú.
Với đội ngũ cử nhân chuyên ngành Hán Nôm giỏi hiện nay, nếu có kế hoạch đặt hàng và tìm được nơi in, có lẽ chỉ trong vài năm họ có thể “quét”, phiên hết các bản Nôm Truyện Kiều vốn không nhiều nhặn gì trong các thư viện trong, ngoài nước. Nhưng điều mà chúng ta trông đợi ở họ là mỗi sinh viên nhận đề tài sẽ được các thầy hướng dẫn cho nghiên cứu sâu hơn về một khía cạnh văn bản như luận văn của hai cử nhân trên đây. Có như thế mới mong cung cấp đuợc nhiều nguyên liệu, củi lửa... nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu văn bản Truyện Kiều tiến những bước xa hơn.
Chúng ta tin. Vì họ có tuổi trẻ, lại đã có phương pháp, hướng đi đúng.
(Báo Văn nghệ)
Đào Thái Tôn
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã chứng minh ba văn bản Truyện Kiều tưởng như quan trọng nhất chỉ là ba văn bản... trong giai thoại - mà giai thoại “bản Kinh do vua Tự Đức đưa in” vẫn làm cho có người lúng túng (Xin xem: Văn bản Truyện Kiều - Nghiên cứu và thảo luận. Nxb Hội Nhà văn, 2001). Từ ba năm qua, người ta lại giới thiệu ba bản Kiều in và chép trong các năm 1866, 1870, 1871 là những bản “bản cổ nhất”, “chép từ bản tác giả’’..., khiến cho nhiều người tưởng được hứa hẹn đọc một bản gần nguyên tác nhất. Nhưng có bản nào “cổ nhất” đâu mà hy vọng? Chỉ cần ba lần sao chép là mất gốc (tam sao thất bản) rồi, thế thì sau khi Nguyễn Du mất (1820) trên dưới 50 năm, qua bao lần sao đi chép lại mới in thì phỏng còn gốc ở đâu?! Bản chép tay năm 1870 do Nguyễn Bá Triệu công bố (*) cũng là bản đã biên tập (san), sửa chữa (cải) quá nhiều. Vì thế dù cho mai đây có tìm được bản in trước 1866 dăm bảy năm chăng nữa, cũng chỉ nên gọi đó là bản sớm nhất hiện đã biết mà thôi. Bản Liễu Văn Đường 1866, 1871 cũng vậy: Nhiều chữ khắc sai, không biết đọc là gì. Nhiều câu mất vần, vô nghĩa, cho nên chúng chỉ là những tư liệu để nghiên cứu văn bản mà thôi. Nó là tư liệu thô. Tư liệu thô thì khi phiên âm, cần trung thành giữ nguyên trạng cái “thô” của tư liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu. Việc hiệu đính cũng chưa đặt ra ở đây. Bởi khi gặp những chữ khắc rõ, nhưng là những chữ có dị bản mà nghe ra chữ nào cũng “chạy nghĩa” (Thiệt lòng mình/ Dột lòng mình) hoặc một chữ chưa biết đọc âm nào cho phải (THắM THIếT/ THấM THíA...), nhiều khi chúng ta phải lúng túng không biết nên “hiệu đính” thế nào... Có chữ tưởng đơn giản mà bao nhiêu người phiên sai (như chữ TREO trong câu 176) mà bây giờ vẫn “hiệu đính’’, bảo người ta đọc TREO thành GIEO thì “hiệu đính” hay là “chữa lợn lành thành lợn què”? Vả chăng nếu cần một bản Kiều để thưởng thức thì bạn đọc đã có bản Quốc ngữ, hà tất phải in kèm bản chụp chữ Nôm lem nhem những sai cùng sót làm gì.
Chính vì thế, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn không coi bản in Duy Minh Thị 1872 là bản Truyện Kiều của Nguyễn Du mà chỉ xem là tư liệu để nghiên cứu văn bản. Đặt tên công trình là Tư liệu Truyện Kiều - bản Duy Minh Thị 1872 (Đại học Quốc gia, H, 2002), nghĩa là ông chỉ dùng bản Duy Minh Thị như một tư liệu để nghiên cứu văn bản Truyện Kiều, chứ không đưa ra một bản Nôm có nhiều chữ còn chưa biết đọc là gì để bảo rằng: Truyện Kiều của Nguyễn Du là thế đấy! Chúng tôi nghiên cứu bản 1866, 1871 trên tinh thần đó. Bản 1866 hiện bị mất 864 câu. Nhưng vẫn là rất đáng quý vì chẳng những nó bổ khuyết nhiều điều cho bản 1871 mà còn cho chúng ta đặt được nét bút đầu tiên trong sơ đồ truyền bản của Truyện Kiều.
Khoảng năm 1961, 62, Viện Văn học đã đề ra việc đi tìm nguyên tác Truyện Kiều. Nhưng đó là việc làm không tưởng, nên phải lại quay về “hiệu đính” để có bản tạm dùng trong năm kỷ niệm (1965). Từ đó về sau, các bản “hiệu đính’’ khác đều là bản sửa chữa Truyện Kiều như vậy cả.
Biết không thể tìm được nguyên tác, từ khoảng năm 1940, cụ Hoàng Xuân Hãn đã đề ra phương pháp tái lập bản Kiều “nguyên lời Nguyễn Du”, bằng cách gạt bỏ bản Kiều Oánh Mậu (1902) và các bản in thế kỷ XX, để tìm về các bản in đời Tự Đức. Nhưng Tự Đức (1848-1883) vẫn là muộn, cụ còn tìm đến những bản mang dấu vết đời Gia Long (1802-1819) để hy vọng có được bản gần nguyên tác hơn. Năm 1942, 1943, cụ đã tìm được một bản như thế! Chủ trương của cụ được các nhà nghiên cứu rất quan tâm. Cuộc tranh luận từ 1997- còn kéo dài đến nay đã chứng tỏ điều đó.
*
Với sự giải mã bản Duy Minh Thị 1872 nhằm làm rõ những điều mà sinh thời cụ Hoàng Xuân Hãn rất tâm đắc, sự nhập cuộc của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã làm cho việc nghiên cứu văn bản thực sự đi vào chiều sâu. Những gợi ý mà học giả Hoàng Xuân Hãn chỉ nói thoảng qua, đều được giáo sư làm sáng tỏ qua việc phân tích bản Duy Minh Thị. Chẳng hạn, cụ Hoàng nói có một bản “chỉ có huý Gia Long”, thì giáo sư đã lập biểu bảng, chỉ rõ câu nào tại bản này chữ LAN phải đổi thành HƯƠNG, chữ GIốNG phải đổi thành THóI, thành HệT... nên đã giúp bạn đọc hiểu rõ hơn phương pháp nghiên cứu của học giả Hoàng Xuân Hãn. Những vấn đề ông nghiên cứu bản Duy Minh Thị 1872 đã trở thành những vấn đề mà khi nghiên cứu bất kỳ một văn bản Truyện Kiều nào, người ta cũng không thể bỏ qua.
Nhưng, công trình của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã khiến chúng tôi thật sự ngỡ ngàng, bởi dường như, theo sự phân tích của ông thì có thể dựa vào bản Duy Minh Thị mà dò tìm được nguyên tác! Vậy thì bản Liễu Văn Đường 1866, 1871 còn có giá trị, vai trò gì trong lịch sử văn bản Truyện Kiều nữa không? Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi đã nghiên cứu kỹ từng đặc điểm nổi trội mà nhờ đó đã làm nên nét cực cổ của bản Duy Minh Thị 1872, từ đó soi vào bản Liễu Văn Đường. Hai năm qua chúng tôi đã trình bày một số vấn đề trên báo chí nhằm tranh thủ ý kiến đồng nghiệp và đến nay thì đã thấy rõ rằng:
a) Bản Truyện Kiều có thể dựa vào đó mà dò tìm nguyên tác là bản chép tay mà cụ Hoàng Xuân Hãn đã thấy từ năm 1942, 43 chứ không phải bản in Duy Minh Thị.
b) Bản Duy Minh Thị kiêng một cách rất nghiêm ngặt những chữ húy đời Gia Long, nhưng các bản 1866, 1871 cũng không thua kém gì về đặc điểm nổi trội đó. Thành thử, chữ huý trên các văn bản chỉ thể hiện thời điểm biên tập bản gốc xa xưa của bản in, chứ không thể hiện tuổi văn bản. Nghĩa là: Bản gốc xa xưa của bản Duy Minh Thị cũng như các bản1866, 1871... vốn là một bản chép tay cực cổ, có thể được sao chép trong đời Gia Long (1802 - 1819), nhưng qua hàng nửa thế kỷ sao đi chép lại, chữ húy thì còn mà phẩm chất cổ đã rất mờ phai. Vì thế, tuổi của văn bản được tính từ năm in 1872 chứ không phải khoảng 1802-1819 nữa. Kết hợp nhiều yếu tố khác, chúng tôi đã chứng minh rằng không thể dựa vào bản Duy Minh Thị để dò tìm nguyên tác Truyện Kiều.
c) Bản gốc xa xưa của các bản 1866, 1871, 1872 đều bắt nguồn từ các bản chép tay có xuất xứ Thăng Long. Nhưng khi đưa vào Huế, đã tách thành hai nhánh:
+ Bản 1866, 1871 thuộc hệ văn bản cổ được định bản sớm từ sinh thời Nguyễn Du. Những người tiếp nhận hệ văn bản đầu tiên này là những danh sĩ Bắc Hà thuộc thế hệ Phạm Quý Thích (1759 - 1825) và các học trò ông. Khi việc thưởng thức Truyện Kiều trở nên rộng khắp, các nhà khắc ván tư nhân ở Thăng Long không khó khăn gì in được những bản thuộc hệ truyền bản đầu tiên đó. Xin được thế nào thì họ cứ sao chép như vậy in ra để kinh doanh, không cần nhờ người sửa chữa, vả lại do sự sao chép xảy ra trong một phạm vi hẹp, nên độ sai dị của các bản in thuộc hệ văn bản này không lớn.
+ Trong khi đó, do đưa vào Huế, bản gốc hệ Thăng Long đã bị sửa chữa khá nhiều, vì khi Truyện Kiều trở nên quá nổi tiếng thì người ta đã truyền nhau sao chép. Các ông quan trong triều đình Huế đều là những người hay chữ nên có thói quen vừa sao chép vừa sửa chữa “hộ” Nguyễn Du cho “hay thêm” theo thẩm mỹ của họ. Đến khi in ra chữ Quốc ngữ thì từ Trương Vĩnh Ký (1875), A.Des Michels (1884), đến E. Nordemann (1897)... đều vừa tham khảo những bản sửa chữa trước, vừa tham gia sửa chữa thêm. Nguyễn Hữu Lập (1870), Kiều Oánh Mậu (1902) là hai nhân vật sửa chữa Truyện Kiều công khai mà đến nay ta biết chắc. Bản Kiều Oánh Mậu là “tập đại thành” của việc sửa chữa Truyện Kiều. Mà bản này lại ảnh hưởng đến tất cả các bản Kiều Quốc ngữ trong thế kỷ XX.
Vì vậy, nếu thế kỷ XX là thế kỷ chấp nhận việc sửa chữa Truyện Kiều thì thế kỷ XXI là thế kỷ nghiên cứu văn bản để “đính ngoa”, nhằm tìm lại “nguyên lời Nguyễn Du”. Đó là chủ trương của cụ Hoàng Xuân Hãn mà giáo sư Nguyễn Tài Cẩn là người mở đường. Qua việc nghiên cứu bản Duy Minh Thị 1872, chẳng những ông đã làm rõ phương pháp Hoàng Xuân Hãn mà còn đưa ra những mô hình để khi nghiên cứu bất kỳ bản Kiều nào, người ta cũng có thể nhận biết ngay bản đó thuộc hệ văn bản nào, “cổ” hay “giả cổ”. Đây là đóng góp lớn của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn từ 2002 đến nay.
Chúng tôi cho rằng nếu chỉ phiên âm bản Liễu Văn Đường 1871 kèm bản chụp chữ Nôm thì sẽ không đóng góp được là bao, nên đi theo con đường nghiên cứu, gắng tìm ra giá trị của các bản 1866, 1871, 1872 là đại diện sớm nhất của hai hệ bản truyện Kiều. Nếu chỉ đặt mục đích trưng bản chụp như món đồ cổ không lời thuyết minh thì chúng tôi đã làm một việc vô duyên, vì người ta làm rồi. Hơn nữa, từ đầu năm 2003, chúng tôi đã nhận được hai luận án tốt nghiệp đại học do cử nhân Nguyễn Tuấn Cường và Hà Thị Tuệ Thành tặng (một người nghiên cứu bản 1871, một người nghiên cứu bản VNb.60). Chúng tôi vô cùng cảm ơn và vui mừng nhận ra rằng: Thì ra công trình của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã tác động lập tức tới các trường đại học, làm cho phương pháp Hoàng Xuân Hãn bắt đầu vận hành tới cả những luận văn tốt nghiệp của sinh viên. Việc phiên âm vẻn vẹn 3254 câu thơ sẽ không làm thành luận văn được, nên tại hai luận văn này, chúng tôi thấy các thầy đã hướng dẫn mỗi người nghiên cứu khá nghiêm túc một vấn đề văn bản lý thú.
Với đội ngũ cử nhân chuyên ngành Hán Nôm giỏi hiện nay, nếu có kế hoạch đặt hàng và tìm được nơi in, có lẽ chỉ trong vài năm họ có thể “quét”, phiên hết các bản Nôm Truyện Kiều vốn không nhiều nhặn gì trong các thư viện trong, ngoài nước. Nhưng điều mà chúng ta trông đợi ở họ là mỗi sinh viên nhận đề tài sẽ được các thầy hướng dẫn cho nghiên cứu sâu hơn về một khía cạnh văn bản như luận văn của hai cử nhân trên đây. Có như thế mới mong cung cấp đuợc nhiều nguyên liệu, củi lửa... nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu văn bản Truyện Kiều tiến những bước xa hơn.
Chúng ta tin. Vì họ có tuổi trẻ, lại đã có phương pháp, hướng đi đúng.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,