Hơn 50 năm đọc Tô Hoài
Phong Lê
(Nhân 85 năm ngày sinh Tô Hoài 1920-2005)
85 năm tuổi. 65 năm viết. Đó là Tô Hoài năm 2005.
Một kỉ lục viết rất hiếm, thậm chí chưa có ai trong giới người viết thế kỉ XX đạt được.
Trước 1945, chỉ trong khoảng thời gian trên dưới 30 năm, đời sống văn chương là sự tiếp nối của nhiều thế hệ viết, nhiều kiểu người viết khác nhau; kể từ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đến Tản Đà, Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn, Hoàng Ngọc Phách... để sau Hoàng Ngọc Phách mà đến Tự lực văn đoàn. Tự lực văn đoàn rực rỡ đến thế cũng chỉ ở ngôi trong dăm năm, rồi nhường chỗ cho các kiện tướng của trào lưu hiện thực: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng... Lại dăm năm nữa, sau lừng lẫy của những tên tuổi trên mà xuất hiện Nam Cao, Tô Hoài... Tô Hoài, đứng bên Nam Cao với một diện mạo riêng, đủ sức làm một cuộc chạy tiếp sức cho đến 1945... Nếu ngừng viết ở 1945, Tô Hoài cũng đã là một cái tên đáng nhớ bên cạnh Nam Cao. Nhưng rồi, cũng vẫn Tô Hoài, thật sự dẻo dai trong 60 năm tiếp theo, tính từ 1945 cho đến 2005 của thế kỉ mới. Cuộc đi này mới thật là dài, dài gấp những 12 lần trước 1945. Nó không còn là cuộc chạy thi, mà là cuộc đi đường trường, có lúc gấp gáp, có lúc nhẩn nha qua rất nhiều chặng, cùng với ba bốn thế hệ người viết, và với thế giới nhân vật khó nói hết sự đông đúc của nó trong không gian và thời gian. 65 năm viết, tính cả trước và sau 1945, - một cuộc hành trình quá dài trong tương ứng với “nhân sinh thất thập cổ lai hi” - cho đến tuổi 85, khi tôi viết bài này, với trước mặt cuốn hồi kí Chiều chiều (1999) và cuốn tạp văn - truyện ngắn Chiếc áo tế (2004) như một biểu tượng tròn đầy và sáng giá của một đời văn, tôi thấy Tô Hoài vẫn đang sức lực. Ông chưa bao giờ là người bỏ cuộc, càng không lúc nào thua cuộc. Ông vẫn là người cùng thời với bao thế hệ người viết và người đọc suốt thế kỉ qua, cho đến hôm nay.
65 năm về trước ở tuổi 20, Tô Hoài đã cho trước bạ vào đời sống văn học một chú Dế mèn...
2004, ở tuổi 84, Tô Hoài cho bạn đọc hiểu thế nào là một Cái áo tế (1) với ngổn ngang bao là chuyện cũ và mới, ngộ nghĩnh và chua xót, nghiêm trang và tức cười của Hà Nội.
Sáng tạo một “nhân vật” Dế mèn trong thế giới các sinh vật nhỏ bé giữa thiên nhiên, ở tuổi ngoài 20, Tô Hoài bỗng bộc lộ một tài năng đột xuất về nhiều mặt. Đó là khả năng hóa thân vào sự sống của vật và đồng thời đưa lại cho thế giới vật sự sống của người. Sự chung sống, sự hòa trộn, sự chuyển hóa của hai thế giới đã giúp cho bạn đọc cái cảm giác mở rộng, nhân lên các giới hạn sống, trong một xã hội tù túng, ngột ngạt. Quả biết bao là vui thích, là sống động của cả một thế giới nhân vật, gồm cả nhân và vật, đã được mở rộng đến tối ưu các biên độ sống, dẫu tất cả chỉ diễn ra trong một khu vườn nhà hoặc một cánh đồng làng. Cái khu vườn vẫn chỉ nhỏ bé và thân thuộc thế, nhưng lại xiết bao to rộng và khoáng đãng có thể chứa biết bao là cuộc rong chơi, du lịch cho dế, nó cũng chính là ước mơ của người, của thế giới người.
ở tuổi 20, ngòi bút Tô Hoài thật quả xiết bao linh hoạt. Quan sát kĩ lưỡng và tinh tế. Ngôn ngữ tự nhiên mà giàu có. Thiên nhiên khoáng đãng mà thơ mộng. Nhân vật có dáng riêng, giọng riêng và đều sắc nét.
Cái nhìn tinh nghịch, hóm hỉnh, lắm lúc như bông đùa nghịch ngợm đã rất sớm bộc lộ nơi Tô Hoài trong những cái truyện viết về thế giới người và vật, và nửa người nửa vật này. Sau ngót nửa thế kỉ cách mạng và chiến tranh, trở lại thời bình với những lo toan cho sự sống làm lụng, sinh nhai mới thấy hết giá trị của cách nhìn và miêu tả này ở Tô Hoài. Không lên giọng. Không nhấn mạnh. Thậm chí không muốn có bất cứ sự can thiệp nào của một ý chí chủ quan, nhằm xác định một “chủ đề tư tưởng”, truyện của Tô Hoài cứ tự nhiên mà thủ thỉ cái tiếng nói hồn nhiên của bản thân sự sống.
*
Khó mà nói trong các nguồn mạch làm nên dòng sông chữ nghĩa của Tô Hoài mạch nào là chìm, mạch nào là nổi: Cách mạng và đời thường, hòa bình và chiến tranh, miền núi và miền xuôi, nông thôn và thành thị, đời sống rộng lớn của các loại cư dân và những hồi ức riêng tư mà vẫn đậm đà dư vị xã hội... Chưa hết. Còn truyện cho thiếu nhi. Còn lịch sử và dã sử... 65 năm viết, với trên 160 đầu sách được ấn hành - đó là một khối lượng lao động đồ sộ, không ai trong các nhà văn Việt Nam hiện đại so sánh được.
Có chìm và nổi. Nhưng nổi hoặc chìm vẫn đều dồi dào trữ lượng và mang sự sống riêng - sự sống Tô Hoài. Có sự sống dường như ông đã phải nỗ lực để nắm bắt nó, trên biết bao là hành trình ngược xuôi, ngang dọc Tây Bắc và Việt Bắc, kể từ 1948 là năm ra đời tập truyện Núi Cứu quốc đến 1988, năm ông đặt vào vùng xa miền núi Mai Châu một nỗi nhớ xao xác: Nhớ Mai Châu. Có sự sống dường như tự nhiên mà đến, tự nhiên mà có, mà không cần đến một nỗ lực nào. Tôi muốn nói đến một mảng đề tài Hà Nội, nối dài từ O chuột, Cỏ dại, Nhà nghèo... đến Người ven thành, Chuyện cũ Hà Nội, và Chiếc áo tế, trong khoảng cách hơn 60 năm.
ở đề tài Hà Nội - ven đô rồi nội đô, Hà Nội mà ông vừa trải rộng vừa đào sâu vào thế giới bên ngoài và bên trong của nó - Hà Nội ấy luôn luôn gắn với ông, ở cạnh ông, dẫu ông đi bất cứ đâu, để trở thành một hành trang dày nặng của ông, để mỗi lúc soi nhìn nó, ông lại thấy thêm bao điều vừa quen thuộc, vừa mới lạ, trong nếp sâu của phong tục và lối sống, và trong phân hóa của cộng đồng dân cư, đang trải một chuyển động lớn trên khắp các ngõ ngách, phố xá, tầng trệt và tầng cao, hẻm sâu và mặt tiền...
*
Hồi ức và tự truyện - đó là một mảng viết đặc sắc, nếu không nói là đặc sắc nhất của Tô Hoài nơi một bộ nhớ tuyệt vời và một tuổi thọ khỏe mạnh và minh mẫn.
Đọc Nam Cao thấy tiểu thuyết cứ như tự truyện. Đọc Tô Hoài lại thấy tự truyện cứ như tiểu thuyết. Kể từ Cỏ dại (l944) đến Tự truyện (1978) tôi bỗng ngạc nhiên không hiểu sao người ta có thể viết hay đến thế về mình, để qua mình mà hiểu người, hiểu đời, hơn thế, hiểu cả một thời - nó là bầu khí quyển chung cho biết bao thế hệ cùng chung sống, cùng hít thở...
Không phải đến Tự truyện nhưng cũng phải chờ đến Tự truyện mới bộc lộ rõ rệt tiềm năng giàu có này ở Tô Hoài. Viết về tuổi thơ ở tuổi ngoài 20 trong Cỏ dại, rồi cũng lại viết về chính tuổi thơ ấy ở tuổi ngoài 50 trong Tự truyện... Rồi ở tuổi ngoài 60 và 70 là sự mở rộng kho hồi ức để đến với biết bao lớp người cùng thời, cùng chung sống, cùng nghề nghiệp, trong Cát bụi chân ai và Chiều chiều. Tác phẩm thì cứ đều đặn ra đời, vẫn trên cùng một nguồn mạch, mà người đọc chẳng thấy Tô Hoài vơi đi chút nào những trữ lượng bên trong nơi ông. Không chỉ cái nhìn sắc nét mà cái tình vẫn đủ mọi cung bậc như thuở nào. Một quá khứ luôn luôn được ông cho dồn về hiện tại, được hiện tại hóa; nhưng vẫn trong trang phục của quá khứ - đó là Tô Hoài.
Đọc Tự truyện, Cát bụi chân ai, rồi Chiều chiều, Chiếc áo tế, người đọc luôn bị cuốn hút bởi những gì mới mẻ, không trùng lặp, không nhạt mờ, kém sút trong cái kho kỉ niệm lúc nào cũng dư đầy nơi Tô Hoài. Chẳng lên giọng, không quan trọng hóa, cũng chẳng cần phải ra bộ khiêm nhường, Tô Hoài cứ tự nhiên mà kể về những gì mình đã biết, đã trải trên giòng đời xuyên suốt thế kỷ. Một thế kỉ mà mỗi giai đoạn đều để lại những dấu ấn riêng của nó, để cho ta sống không chỉ với những thăng trầm, kịch biến của thời cuộc, mà còn là những chuyện nhỏ nhặt, tỉ mẩn, riêng tư của đời thường mà thiếu nó, quả khó mà hình dung được, với sự rõ nét và thú vị đến thế, về những ngày sống của ta và những người chung quanh ta trong cái thế kỷ XX gấp gáp và chất đầy những sự kiện sôi động này.
Hồi nhớ, việc đó ai mà chẳng có thể làm, nhưng lại không dễ và hiếm người chuyển được nó lên trang viết. Bởi sống và khả năng ghi nhận sự sống là hai chuyện khác nhau. Ghi nhận, đó là nghề, là thiên phú, và tài năng. Nhiều người có nghề hẳn hoi, nhưng viết lại xoàng hoặc dở. Nghề phải đi kèm với tài năng để sao cho sự thật cuộc đời trở thành sự thật nghệ thuật. Sự thật ấy có thể lạ hoặc quen; nếu là lạ thì phải biến thành quen; hoặc đã quen thì phải lạ hóa nó.
Đọc hồi kí Tô Hoài tôi còn thấy thêm một điều: Dường như ở đây ông nói được nhiều hơn những gì ông từng kì vọng ở tiểu thuyết, ở những tác phẩm mà ông đã phải cất công đi tìm, và phải rất khổ công trong lao động chữ nghĩa. Cố nhiên ông đã được trả công xứng đáng cho lao động cực nhọc của mình trên nhiều chương đoạn của Truyện Tây Bắc, Miền Tây, của Mười năm, Quê nhà, của Đảo hoang, Nhà Chử... Nhưng dường như riêng ở khu vực hồi kí, chân dung, tự truyện thì bao khổ công và vất vả của lao động chữ nghĩa ông đã cho lặn hết vào trong, tựa như là nước chảy ra từ nguồn ngước. Dường như ở đây, sự sống cứ như là một thẩm thấu tự nhiên mà trong veo biến thành chất liệu nghệ thuật.
Hà Nội trong đối sánh giữa hai đầu thế kỉ là điều Tô Hoài giúp ta cảm nhận được khá rõ trong 38 bài tạp văn và 10 truyện ngắn của Cái áo tế. Hà Nội và còn lùi sâu hơn vào quá khứ, để làm thành một đường dây gắn nối Quê người với Quê nhà, Người ven thành với Câu chuyện bên bờ Đầm Sen, Mười năm và Kẻ cướp Bến Bỏi... Lịch sử - đó cũng là cảm hứng nổi đậm trong văn Tô Hoài, song song với cảm hứng về những miền sâu của kí ức riêng tư. Dường như cùng với ngót nửa thế kỉ quảng canh trên các địa danh vùng cao, Tô Hoài vẫn đồng thời chuẩn bị cho mình sự thâm canh theo chiều sâu lịch sử, nhằm gắn nối quá khứ với hiện tại, nơi địa bàn Hà Nội. Khỏi phải nói đến sự dụng công của Tô Hoài trong nghiên cứu các thư tịch để cho cuộc sống đạt được khuôn mặt lịch sử, mà không tùy tiện, bịa đặt. Khỏi phải nói niềm ham say tìm kiếm mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng để đạt được một hòa sắc độc đáo về cái chất “người ven thành” là cái cộng đồng dân cư, trong đó có chính tác giả. Đọc Tô Hoài thấy rõ sự huy động tổng lực tri thức lịch sử, văn hóa, địa lí, phong tục... Đọc Tô Hoài thấy con người luôn luôn là một sự cộng hưởng với thiên nhiên và lịch sử. Với biết bao khổ công, Tô Hoài viết thật dễ dàng nhưng không chút dễ dãi về tất cả những gì thuộc trong tầm quan sát và chú ý của ông. Và như thế, đến với Tô Hoài, là đến với một người lao động thật ráo riết, thật kì khu và kiên nhẫn trên công cụ chữ nghĩa. Thế nhưng người luôn luôn hiện diện, để không bị quên lãng trong lòng bạn đọc, lại không phải là người lúc nào cũng vượt được những rào cản hữu hình hoặc vô hình nằm trong công luận và dư luận. Một trải nghiệm “viết như chạy thi” trong 5 năm trước 1945; một uy tín luôn được bồi đắp; một cái tên quen, thuộc thế hệ “tiền chiến” luôn đứng ở hàng đầu các bảng xếp hạng... cũng đâu phải là đủ để cho Tô Hoài lúc nào cũng có thể thoát hiểm trước các bề trên, hoặc bơi lội dễ dàng trong nền kinh tế thị trường... Là người viết chuyên tâm với nghề, dẫu có làm nhiều nghề cũng chỉ vì nghề viết, Tô Hoài phải có một bản lĩnh khôn khéo và cứng cỏi để tránh né hoặc chịu đựng; và ông cũng đã từng phải chịu đựng không ít các sức ép kể từ tuổi ngoài 20, tháng tháng đến ông chủ Tân dân Vũ Đình Long nhận khoán viết từng kì; cho đến tuổi 80, với những bản thảo đã được chuẩn bị rất kĩ mà vẫn cứ phải cất vào kho, hoặc chờ đợi. Hiểu cặn kẽ mọi vui buồn, vinh nhục của nghề, để nếu có niềm vui khi được chờ đón, xưng tụng thì cũng phải biết chấp nhận cái buồn của sự thờ ơ, ế ẩm. Không kể có khi còn là tai tiếng, hoặc những nặng nề của phán xét.
Tô Hoài là thế. Đó là điều khiến ông tồn tại, lúc nào cũng tồn tại được, trong khi biết bao cây bút thuộc thế hệ ông và sau ông đã phải tàn cuộc hoặc bỏ cuộc. Trong khi, có người chỉ còn sống với cái danh quá khứ; mất cái đó họ chỉ còn là con số không trong hiện tại.
Tôi yêu mến và kính trọng nhiều nhà văn hiện đại, nhưng ở một số người, niềm yêu mến và sự kính trọng đó có lúc đứt nối, có lúc nhuốm chút phân vân. Nhưng riêng Tô Hoài, ông thuộc số ít người mà sự yêu mến và kính trọng nhìn chung là liền mạch hơn nửa thế kỉ qua; kể từ khi tôi còn là đứa trẻ lên mười.
Hơn 50 năm đọc Tô Hoài, tôi thấy lúc nào, ở lứa tuổi nào, cũng có ông ở bên mình. Tôi thành ra bị cuốn theo ông. Thành ra một người đọc ở quá nhiều tâm thế và vị thế. Trong cảm nhận của tôi, dẫu đã ở tuổi 85, Tô Hoài vẫn cứ trẻ. Một sức trẻ kéo dài từ Dế mèn... đến Cái áo tế, qua hàng trăm tên truyện, với mênh mông những khoảng sống gắn nối và làm liền mạch hai phía - đầu và cuối thế kỉ XX, mà ông vừa là chứng nhân rất hiếm hoi của biết bao là sự kiện lớn, nhỏ - gần như không sự kiện nào bị bỏ sót; lại vừa là người có cách kể về nó, theo một lối riêng thật đặc sắc, mang thương hiệu sáng giá: Tô Hoài.
18 -11-2004
P.L
(1) Nxb Văn học; H.; 2004
(Báo Văn nghệ)
Phong Lê
(Nhân 85 năm ngày sinh Tô Hoài 1920-2005)
85 năm tuổi. 65 năm viết. Đó là Tô Hoài năm 2005.
Một kỉ lục viết rất hiếm, thậm chí chưa có ai trong giới người viết thế kỉ XX đạt được.
Trước 1945, chỉ trong khoảng thời gian trên dưới 30 năm, đời sống văn chương là sự tiếp nối của nhiều thế hệ viết, nhiều kiểu người viết khác nhau; kể từ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đến Tản Đà, Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn, Hoàng Ngọc Phách... để sau Hoàng Ngọc Phách mà đến Tự lực văn đoàn. Tự lực văn đoàn rực rỡ đến thế cũng chỉ ở ngôi trong dăm năm, rồi nhường chỗ cho các kiện tướng của trào lưu hiện thực: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng... Lại dăm năm nữa, sau lừng lẫy của những tên tuổi trên mà xuất hiện Nam Cao, Tô Hoài... Tô Hoài, đứng bên Nam Cao với một diện mạo riêng, đủ sức làm một cuộc chạy tiếp sức cho đến 1945... Nếu ngừng viết ở 1945, Tô Hoài cũng đã là một cái tên đáng nhớ bên cạnh Nam Cao. Nhưng rồi, cũng vẫn Tô Hoài, thật sự dẻo dai trong 60 năm tiếp theo, tính từ 1945 cho đến 2005 của thế kỉ mới. Cuộc đi này mới thật là dài, dài gấp những 12 lần trước 1945. Nó không còn là cuộc chạy thi, mà là cuộc đi đường trường, có lúc gấp gáp, có lúc nhẩn nha qua rất nhiều chặng, cùng với ba bốn thế hệ người viết, và với thế giới nhân vật khó nói hết sự đông đúc của nó trong không gian và thời gian. 65 năm viết, tính cả trước và sau 1945, - một cuộc hành trình quá dài trong tương ứng với “nhân sinh thất thập cổ lai hi” - cho đến tuổi 85, khi tôi viết bài này, với trước mặt cuốn hồi kí Chiều chiều (1999) và cuốn tạp văn - truyện ngắn Chiếc áo tế (2004) như một biểu tượng tròn đầy và sáng giá của một đời văn, tôi thấy Tô Hoài vẫn đang sức lực. Ông chưa bao giờ là người bỏ cuộc, càng không lúc nào thua cuộc. Ông vẫn là người cùng thời với bao thế hệ người viết và người đọc suốt thế kỉ qua, cho đến hôm nay.
65 năm về trước ở tuổi 20, Tô Hoài đã cho trước bạ vào đời sống văn học một chú Dế mèn...
2004, ở tuổi 84, Tô Hoài cho bạn đọc hiểu thế nào là một Cái áo tế (1) với ngổn ngang bao là chuyện cũ và mới, ngộ nghĩnh và chua xót, nghiêm trang và tức cười của Hà Nội.
Sáng tạo một “nhân vật” Dế mèn trong thế giới các sinh vật nhỏ bé giữa thiên nhiên, ở tuổi ngoài 20, Tô Hoài bỗng bộc lộ một tài năng đột xuất về nhiều mặt. Đó là khả năng hóa thân vào sự sống của vật và đồng thời đưa lại cho thế giới vật sự sống của người. Sự chung sống, sự hòa trộn, sự chuyển hóa của hai thế giới đã giúp cho bạn đọc cái cảm giác mở rộng, nhân lên các giới hạn sống, trong một xã hội tù túng, ngột ngạt. Quả biết bao là vui thích, là sống động của cả một thế giới nhân vật, gồm cả nhân và vật, đã được mở rộng đến tối ưu các biên độ sống, dẫu tất cả chỉ diễn ra trong một khu vườn nhà hoặc một cánh đồng làng. Cái khu vườn vẫn chỉ nhỏ bé và thân thuộc thế, nhưng lại xiết bao to rộng và khoáng đãng có thể chứa biết bao là cuộc rong chơi, du lịch cho dế, nó cũng chính là ước mơ của người, của thế giới người.
ở tuổi 20, ngòi bút Tô Hoài thật quả xiết bao linh hoạt. Quan sát kĩ lưỡng và tinh tế. Ngôn ngữ tự nhiên mà giàu có. Thiên nhiên khoáng đãng mà thơ mộng. Nhân vật có dáng riêng, giọng riêng và đều sắc nét.
Cái nhìn tinh nghịch, hóm hỉnh, lắm lúc như bông đùa nghịch ngợm đã rất sớm bộc lộ nơi Tô Hoài trong những cái truyện viết về thế giới người và vật, và nửa người nửa vật này. Sau ngót nửa thế kỉ cách mạng và chiến tranh, trở lại thời bình với những lo toan cho sự sống làm lụng, sinh nhai mới thấy hết giá trị của cách nhìn và miêu tả này ở Tô Hoài. Không lên giọng. Không nhấn mạnh. Thậm chí không muốn có bất cứ sự can thiệp nào của một ý chí chủ quan, nhằm xác định một “chủ đề tư tưởng”, truyện của Tô Hoài cứ tự nhiên mà thủ thỉ cái tiếng nói hồn nhiên của bản thân sự sống.
*
Khó mà nói trong các nguồn mạch làm nên dòng sông chữ nghĩa của Tô Hoài mạch nào là chìm, mạch nào là nổi: Cách mạng và đời thường, hòa bình và chiến tranh, miền núi và miền xuôi, nông thôn và thành thị, đời sống rộng lớn của các loại cư dân và những hồi ức riêng tư mà vẫn đậm đà dư vị xã hội... Chưa hết. Còn truyện cho thiếu nhi. Còn lịch sử và dã sử... 65 năm viết, với trên 160 đầu sách được ấn hành - đó là một khối lượng lao động đồ sộ, không ai trong các nhà văn Việt Nam hiện đại so sánh được.
Có chìm và nổi. Nhưng nổi hoặc chìm vẫn đều dồi dào trữ lượng và mang sự sống riêng - sự sống Tô Hoài. Có sự sống dường như ông đã phải nỗ lực để nắm bắt nó, trên biết bao là hành trình ngược xuôi, ngang dọc Tây Bắc và Việt Bắc, kể từ 1948 là năm ra đời tập truyện Núi Cứu quốc đến 1988, năm ông đặt vào vùng xa miền núi Mai Châu một nỗi nhớ xao xác: Nhớ Mai Châu. Có sự sống dường như tự nhiên mà đến, tự nhiên mà có, mà không cần đến một nỗ lực nào. Tôi muốn nói đến một mảng đề tài Hà Nội, nối dài từ O chuột, Cỏ dại, Nhà nghèo... đến Người ven thành, Chuyện cũ Hà Nội, và Chiếc áo tế, trong khoảng cách hơn 60 năm.
ở đề tài Hà Nội - ven đô rồi nội đô, Hà Nội mà ông vừa trải rộng vừa đào sâu vào thế giới bên ngoài và bên trong của nó - Hà Nội ấy luôn luôn gắn với ông, ở cạnh ông, dẫu ông đi bất cứ đâu, để trở thành một hành trang dày nặng của ông, để mỗi lúc soi nhìn nó, ông lại thấy thêm bao điều vừa quen thuộc, vừa mới lạ, trong nếp sâu của phong tục và lối sống, và trong phân hóa của cộng đồng dân cư, đang trải một chuyển động lớn trên khắp các ngõ ngách, phố xá, tầng trệt và tầng cao, hẻm sâu và mặt tiền...
*
Hồi ức và tự truyện - đó là một mảng viết đặc sắc, nếu không nói là đặc sắc nhất của Tô Hoài nơi một bộ nhớ tuyệt vời và một tuổi thọ khỏe mạnh và minh mẫn.
Đọc Nam Cao thấy tiểu thuyết cứ như tự truyện. Đọc Tô Hoài lại thấy tự truyện cứ như tiểu thuyết. Kể từ Cỏ dại (l944) đến Tự truyện (1978) tôi bỗng ngạc nhiên không hiểu sao người ta có thể viết hay đến thế về mình, để qua mình mà hiểu người, hiểu đời, hơn thế, hiểu cả một thời - nó là bầu khí quyển chung cho biết bao thế hệ cùng chung sống, cùng hít thở...
Không phải đến Tự truyện nhưng cũng phải chờ đến Tự truyện mới bộc lộ rõ rệt tiềm năng giàu có này ở Tô Hoài. Viết về tuổi thơ ở tuổi ngoài 20 trong Cỏ dại, rồi cũng lại viết về chính tuổi thơ ấy ở tuổi ngoài 50 trong Tự truyện... Rồi ở tuổi ngoài 60 và 70 là sự mở rộng kho hồi ức để đến với biết bao lớp người cùng thời, cùng chung sống, cùng nghề nghiệp, trong Cát bụi chân ai và Chiều chiều. Tác phẩm thì cứ đều đặn ra đời, vẫn trên cùng một nguồn mạch, mà người đọc chẳng thấy Tô Hoài vơi đi chút nào những trữ lượng bên trong nơi ông. Không chỉ cái nhìn sắc nét mà cái tình vẫn đủ mọi cung bậc như thuở nào. Một quá khứ luôn luôn được ông cho dồn về hiện tại, được hiện tại hóa; nhưng vẫn trong trang phục của quá khứ - đó là Tô Hoài.
Đọc Tự truyện, Cát bụi chân ai, rồi Chiều chiều, Chiếc áo tế, người đọc luôn bị cuốn hút bởi những gì mới mẻ, không trùng lặp, không nhạt mờ, kém sút trong cái kho kỉ niệm lúc nào cũng dư đầy nơi Tô Hoài. Chẳng lên giọng, không quan trọng hóa, cũng chẳng cần phải ra bộ khiêm nhường, Tô Hoài cứ tự nhiên mà kể về những gì mình đã biết, đã trải trên giòng đời xuyên suốt thế kỷ. Một thế kỉ mà mỗi giai đoạn đều để lại những dấu ấn riêng của nó, để cho ta sống không chỉ với những thăng trầm, kịch biến của thời cuộc, mà còn là những chuyện nhỏ nhặt, tỉ mẩn, riêng tư của đời thường mà thiếu nó, quả khó mà hình dung được, với sự rõ nét và thú vị đến thế, về những ngày sống của ta và những người chung quanh ta trong cái thế kỷ XX gấp gáp và chất đầy những sự kiện sôi động này.
Hồi nhớ, việc đó ai mà chẳng có thể làm, nhưng lại không dễ và hiếm người chuyển được nó lên trang viết. Bởi sống và khả năng ghi nhận sự sống là hai chuyện khác nhau. Ghi nhận, đó là nghề, là thiên phú, và tài năng. Nhiều người có nghề hẳn hoi, nhưng viết lại xoàng hoặc dở. Nghề phải đi kèm với tài năng để sao cho sự thật cuộc đời trở thành sự thật nghệ thuật. Sự thật ấy có thể lạ hoặc quen; nếu là lạ thì phải biến thành quen; hoặc đã quen thì phải lạ hóa nó.
Đọc hồi kí Tô Hoài tôi còn thấy thêm một điều: Dường như ở đây ông nói được nhiều hơn những gì ông từng kì vọng ở tiểu thuyết, ở những tác phẩm mà ông đã phải cất công đi tìm, và phải rất khổ công trong lao động chữ nghĩa. Cố nhiên ông đã được trả công xứng đáng cho lao động cực nhọc của mình trên nhiều chương đoạn của Truyện Tây Bắc, Miền Tây, của Mười năm, Quê nhà, của Đảo hoang, Nhà Chử... Nhưng dường như riêng ở khu vực hồi kí, chân dung, tự truyện thì bao khổ công và vất vả của lao động chữ nghĩa ông đã cho lặn hết vào trong, tựa như là nước chảy ra từ nguồn ngước. Dường như ở đây, sự sống cứ như là một thẩm thấu tự nhiên mà trong veo biến thành chất liệu nghệ thuật.
Hà Nội trong đối sánh giữa hai đầu thế kỉ là điều Tô Hoài giúp ta cảm nhận được khá rõ trong 38 bài tạp văn và 10 truyện ngắn của Cái áo tế. Hà Nội và còn lùi sâu hơn vào quá khứ, để làm thành một đường dây gắn nối Quê người với Quê nhà, Người ven thành với Câu chuyện bên bờ Đầm Sen, Mười năm và Kẻ cướp Bến Bỏi... Lịch sử - đó cũng là cảm hứng nổi đậm trong văn Tô Hoài, song song với cảm hứng về những miền sâu của kí ức riêng tư. Dường như cùng với ngót nửa thế kỉ quảng canh trên các địa danh vùng cao, Tô Hoài vẫn đồng thời chuẩn bị cho mình sự thâm canh theo chiều sâu lịch sử, nhằm gắn nối quá khứ với hiện tại, nơi địa bàn Hà Nội. Khỏi phải nói đến sự dụng công của Tô Hoài trong nghiên cứu các thư tịch để cho cuộc sống đạt được khuôn mặt lịch sử, mà không tùy tiện, bịa đặt. Khỏi phải nói niềm ham say tìm kiếm mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng để đạt được một hòa sắc độc đáo về cái chất “người ven thành” là cái cộng đồng dân cư, trong đó có chính tác giả. Đọc Tô Hoài thấy rõ sự huy động tổng lực tri thức lịch sử, văn hóa, địa lí, phong tục... Đọc Tô Hoài thấy con người luôn luôn là một sự cộng hưởng với thiên nhiên và lịch sử. Với biết bao khổ công, Tô Hoài viết thật dễ dàng nhưng không chút dễ dãi về tất cả những gì thuộc trong tầm quan sát và chú ý của ông. Và như thế, đến với Tô Hoài, là đến với một người lao động thật ráo riết, thật kì khu và kiên nhẫn trên công cụ chữ nghĩa. Thế nhưng người luôn luôn hiện diện, để không bị quên lãng trong lòng bạn đọc, lại không phải là người lúc nào cũng vượt được những rào cản hữu hình hoặc vô hình nằm trong công luận và dư luận. Một trải nghiệm “viết như chạy thi” trong 5 năm trước 1945; một uy tín luôn được bồi đắp; một cái tên quen, thuộc thế hệ “tiền chiến” luôn đứng ở hàng đầu các bảng xếp hạng... cũng đâu phải là đủ để cho Tô Hoài lúc nào cũng có thể thoát hiểm trước các bề trên, hoặc bơi lội dễ dàng trong nền kinh tế thị trường... Là người viết chuyên tâm với nghề, dẫu có làm nhiều nghề cũng chỉ vì nghề viết, Tô Hoài phải có một bản lĩnh khôn khéo và cứng cỏi để tránh né hoặc chịu đựng; và ông cũng đã từng phải chịu đựng không ít các sức ép kể từ tuổi ngoài 20, tháng tháng đến ông chủ Tân dân Vũ Đình Long nhận khoán viết từng kì; cho đến tuổi 80, với những bản thảo đã được chuẩn bị rất kĩ mà vẫn cứ phải cất vào kho, hoặc chờ đợi. Hiểu cặn kẽ mọi vui buồn, vinh nhục của nghề, để nếu có niềm vui khi được chờ đón, xưng tụng thì cũng phải biết chấp nhận cái buồn của sự thờ ơ, ế ẩm. Không kể có khi còn là tai tiếng, hoặc những nặng nề của phán xét.
Tô Hoài là thế. Đó là điều khiến ông tồn tại, lúc nào cũng tồn tại được, trong khi biết bao cây bút thuộc thế hệ ông và sau ông đã phải tàn cuộc hoặc bỏ cuộc. Trong khi, có người chỉ còn sống với cái danh quá khứ; mất cái đó họ chỉ còn là con số không trong hiện tại.
Tôi yêu mến và kính trọng nhiều nhà văn hiện đại, nhưng ở một số người, niềm yêu mến và sự kính trọng đó có lúc đứt nối, có lúc nhuốm chút phân vân. Nhưng riêng Tô Hoài, ông thuộc số ít người mà sự yêu mến và kính trọng nhìn chung là liền mạch hơn nửa thế kỉ qua; kể từ khi tôi còn là đứa trẻ lên mười.
Hơn 50 năm đọc Tô Hoài, tôi thấy lúc nào, ở lứa tuổi nào, cũng có ông ở bên mình. Tôi thành ra bị cuốn theo ông. Thành ra một người đọc ở quá nhiều tâm thế và vị thế. Trong cảm nhận của tôi, dẫu đã ở tuổi 85, Tô Hoài vẫn cứ trẻ. Một sức trẻ kéo dài từ Dế mèn... đến Cái áo tế, qua hàng trăm tên truyện, với mênh mông những khoảng sống gắn nối và làm liền mạch hai phía - đầu và cuối thế kỉ XX, mà ông vừa là chứng nhân rất hiếm hoi của biết bao là sự kiện lớn, nhỏ - gần như không sự kiện nào bị bỏ sót; lại vừa là người có cách kể về nó, theo một lối riêng thật đặc sắc, mang thương hiệu sáng giá: Tô Hoài.
18 -11-2004
P.L
(1) Nxb Văn học; H.; 2004
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,