Đọc "Đến Gia - các - ta nhớ Chu - Thần" của Sóng Hồng
Nguyễn Hữu Sơn
Đến Gia - các - ta nhớ Chu - Thần
I
Chu - Thần xưa ở nơi đâu,
Để cho Miên - Thẩm lên lầu không an(2).
Ngày ngày đứng tựa lan can,Mỏi trông mây cuốn trời Nam dặm nghìn(3)?
II
Dấu xưa nay biết đâu tìm?
Thương ai bảy nổi ba chìm nước non.
Trăng kia khi khuyết khi tròn,
Tinh thần phản kháng vẫn còn sáng soi.
Gia - các - ta
Tháng 8 năm 1964
(1) Chu - Thần là tên hiệu của Cao - Bá - Quát, một nhà văn và nhà thơ có tư tưởng tiến bộ, đã bị vua nhà Nguyễn phái đi công cán trong một thời gian ở Giang - lưu - ba (Gia - các - ta) thuộc quần đảo Nam Dương, tức Inđônêxia ngày nay. Dưới chế độ phong kiến, đây là một cách đầy trá hình. Sau khi về nước, Cao Chu Thần đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của nông dân ở Mỹ Lương và đã hy sinh tại trận.
(2) Miên Thẩm là tên của Tùng Thiện Vương, bạn thơ của Chu Thần.
(3) Đây nói trời Nam Dương. Khi Chu Thần đang ở Nam Dương, Miên Thẩm có làm một bài thơ chữ Hán tặng bạn, trong có hai câu như sau:
Giao tình vị nhĩ ân Nam cố,
Nhật nhật kim kê vọng xá tần.
Xin tạm dịch như sau:
Ngày ngày thương bạn phương Nam ngóng,
Xá tội mong ai chóng được về.
*
Bài thơ ngắn gọn, chỉ có 8 câu lục bát và chia thành hai khổ thơ.
Câu thơ mở đầu biểu lộ niềm hoài cảm của tác giả khi cùng đến với miền đất Giacácta. Dù không nói rõ ra nhưng nhà thơ Sóng Hồng trong tư cách chủ nhân của một đất nước và trong vai thượng khách đến nước khác chợt chạnh lòng nhớ về Cao Bá Quát trong thân phận người đi “dương trình hiệu lực”, người đi công cán, chịu cảnh đi đầy, chuộc tội. Con người ngày nay cảm thương cho một chuyến đi bất định, không địa chỉ, không dấu tích, mờ ảo trong thời gian: Chu Thần xưa ở nơi đâu. Nhưng con người chính trực, con người không dễ khuôn mình trong chốn quan trường đó lại là bạn tâm giao của Miên Thẩm - nhà thơ của hoàng tộc. Câu thơ thứ hai chính là lời miêu tả, kể sự, tưởng tượng của Sóng Hồng về hình ảnh nhà thơ hoàng tộc “lên lầu không an” nhớ một nhà thơ phương xa. Phần lời giải thích của Sóng Hồng được đảm bảo bằng hai câu thơ của chính Miên Thẩm càng chỉ rõ tình thương nhớ của ông với Cao Bá Quát nơi “dặm nghìn” xa cách. Nỗi thương nhớ đó là tình cảm nhưng cũng gián tiếp là sự cảm phục, chấp nhận, khẳng định của Miên Thẩm về nhân cách người bạn thơ.
Đến khổ thơ sau, tác giả tiếp tục bày tỏ niềm hoài cảm về một thời “dấu xưa” và trực diện thể hiện thái độ: Thương ai bảy nổi ba chìm nước non. Cách nói “thương ai” đi với “bảy nổi ba chìm” vẻ ngoài như khách quan, dân dã mà kỳ thực lại nhấn mạnh được phẩm chất con người này và một thái độ đồng cảm sâu sắc. Tới hai câu kết của bài thơ lại tạo nên một sự hô ứng, luận đề đối sánh sinh động giữa thiên nhiên khách thể và tâm trạng chủ quan, giữa nguy cơ đổi thay của tự nhiên và sự bền vững của phẩm giá con người, giữa hiện trạng vật chất dễ tổn thương và ý chí tinh thần sẽ mãi soi sáng, trường tồn. Sức mạnh tinh thần của con người ở đây đã được nâng tầm và đối sánh với thế giới tự nhiên, thế giới của vũ trụ và vầng trăng. Cùng với thời gian, qua thời gian và trước thử thách của thời gian, vầng trăng kia vẫn “khi khuyết khi tròn” và chỉ còn có “tinh thần phản kháng” của họ Cao là mãi vững bền, siêu việt qua thời gian, trở thành bài học sáng soi cho mọi kiếp con người.
(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)
Nguyễn Hữu Sơn
Đến Gia - các - ta nhớ Chu - Thần
I
Chu - Thần xưa ở nơi đâu,
Để cho Miên - Thẩm lên lầu không an(2).
Ngày ngày đứng tựa lan can,Mỏi trông mây cuốn trời Nam dặm nghìn(3)?
II
Dấu xưa nay biết đâu tìm?
Thương ai bảy nổi ba chìm nước non.
Trăng kia khi khuyết khi tròn,
Tinh thần phản kháng vẫn còn sáng soi.
Gia - các - ta
Tháng 8 năm 1964
(1) Chu - Thần là tên hiệu của Cao - Bá - Quát, một nhà văn và nhà thơ có tư tưởng tiến bộ, đã bị vua nhà Nguyễn phái đi công cán trong một thời gian ở Giang - lưu - ba (Gia - các - ta) thuộc quần đảo Nam Dương, tức Inđônêxia ngày nay. Dưới chế độ phong kiến, đây là một cách đầy trá hình. Sau khi về nước, Cao Chu Thần đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của nông dân ở Mỹ Lương và đã hy sinh tại trận.
(2) Miên Thẩm là tên của Tùng Thiện Vương, bạn thơ của Chu Thần.
(3) Đây nói trời Nam Dương. Khi Chu Thần đang ở Nam Dương, Miên Thẩm có làm một bài thơ chữ Hán tặng bạn, trong có hai câu như sau:
Giao tình vị nhĩ ân Nam cố,
Nhật nhật kim kê vọng xá tần.
Xin tạm dịch như sau:
Ngày ngày thương bạn phương Nam ngóng,
Xá tội mong ai chóng được về.
*
Bài thơ ngắn gọn, chỉ có 8 câu lục bát và chia thành hai khổ thơ.
Câu thơ mở đầu biểu lộ niềm hoài cảm của tác giả khi cùng đến với miền đất Giacácta. Dù không nói rõ ra nhưng nhà thơ Sóng Hồng trong tư cách chủ nhân của một đất nước và trong vai thượng khách đến nước khác chợt chạnh lòng nhớ về Cao Bá Quát trong thân phận người đi “dương trình hiệu lực”, người đi công cán, chịu cảnh đi đầy, chuộc tội. Con người ngày nay cảm thương cho một chuyến đi bất định, không địa chỉ, không dấu tích, mờ ảo trong thời gian: Chu Thần xưa ở nơi đâu. Nhưng con người chính trực, con người không dễ khuôn mình trong chốn quan trường đó lại là bạn tâm giao của Miên Thẩm - nhà thơ của hoàng tộc. Câu thơ thứ hai chính là lời miêu tả, kể sự, tưởng tượng của Sóng Hồng về hình ảnh nhà thơ hoàng tộc “lên lầu không an” nhớ một nhà thơ phương xa. Phần lời giải thích của Sóng Hồng được đảm bảo bằng hai câu thơ của chính Miên Thẩm càng chỉ rõ tình thương nhớ của ông với Cao Bá Quát nơi “dặm nghìn” xa cách. Nỗi thương nhớ đó là tình cảm nhưng cũng gián tiếp là sự cảm phục, chấp nhận, khẳng định của Miên Thẩm về nhân cách người bạn thơ.
Đến khổ thơ sau, tác giả tiếp tục bày tỏ niềm hoài cảm về một thời “dấu xưa” và trực diện thể hiện thái độ: Thương ai bảy nổi ba chìm nước non. Cách nói “thương ai” đi với “bảy nổi ba chìm” vẻ ngoài như khách quan, dân dã mà kỳ thực lại nhấn mạnh được phẩm chất con người này và một thái độ đồng cảm sâu sắc. Tới hai câu kết của bài thơ lại tạo nên một sự hô ứng, luận đề đối sánh sinh động giữa thiên nhiên khách thể và tâm trạng chủ quan, giữa nguy cơ đổi thay của tự nhiên và sự bền vững của phẩm giá con người, giữa hiện trạng vật chất dễ tổn thương và ý chí tinh thần sẽ mãi soi sáng, trường tồn. Sức mạnh tinh thần của con người ở đây đã được nâng tầm và đối sánh với thế giới tự nhiên, thế giới của vũ trụ và vầng trăng. Cùng với thời gian, qua thời gian và trước thử thách của thời gian, vầng trăng kia vẫn “khi khuyết khi tròn” và chỉ còn có “tinh thần phản kháng” của họ Cao là mãi vững bền, siêu việt qua thời gian, trở thành bài học sáng soi cho mọi kiếp con người.
(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)
Love mickey,