“Nhặt gió heo may” những giai điệu tri âm
Chu Thị Thơm
(Đọc tập thơ “Nhặt gió heo may” của
Nguyễn Mai Hương - Nxb Hội Nhà văn, 2004)
Nguyễn Mai Hương không phải là người mới làm thơ. Rải rác trên các báo, tuyển thơ… chị xuất hiện với tư cách là người cầm bút say sưa, đam mê và đã bước đầu có những vần thơ ám ảnh người đọc. Kể từ khi tập bút ký và thơ Bình yên nơi đây ra mắt bạn đọc cho đến tập thơ này, Nguyễn Mai Hương đã tỏ ra là một cây bút có tìm tòi, phong cách thơ đầy chất nữ tính với tất cả bao nỗi niềm suy tư, trắc ẩn.
Là người cả nghĩ và hay buồn vu vơ, lại thêm cái tội “giời đày” - bắt làm thi sĩ, Nguyễn Mai Hương luôn ám ảnh bởi thời gian. Thời gian trong thơ chị là kỷ niệm, là niềm vui và những nỗi buồn không dễ sẻ chia. Thế giới tình cảm và thế giới thơ ca trong chị đôi khi được hoà quyện làm một. Đọc Nhặt gió heo may, ta dễ dàng nhận ra khuông nhạc thời gian đã là khúc đồng dao số phận và những nỗi niềm trong thơ chị.
Ngay từ đầu tập thơ, Mai Hương đã thảng thốt:
“… Mùa thu có đợi ta không/ Có chờ ta nhặt gió đồng hương bay?…” (Nhặt gió heo may).
Đây chính là sự thảng thốt về thời gian và nỗi niềm đã cũ. Như vết cắn rạch ngang dòng chảy thời gian - có một chút se lạnh của heo may kỷ niệm, tất cả lập tức ùa về. Bởi vậy, đã có một người “chiều tà thơ thẩn chốn đây/ Vu vơ nhặt gió heo may một mình” (Nhặt gió heo may). Trong thơ, đã không ít lần chị vu vơ nhặt tìm kỷ niệm, nhặt tìm ký ức mà lúc nào chị cũng lo nơm nớp lãng quên.
Cũng như vậy, trong một lần về quê hương, chị lại thảng thốt trong nỗi buồn không đặt nổi thành tên:
… “Về quê trong cái rét đông/ Bâng khuâng hái ánh nắng hồng ngày xưa/ Cúi mình… nhặt lại tuổi thơ/ Vu vơ… thương cỏ giận hờ bước chân…” (Về quê)
Có những sự vật thì rất cụ thể, nhưng nỗi niềm khó định hình trong thơ chị. Điều mà ta có thể cảm nhận được mà không thể diễn tả được. Một dòng sông, một con đường tuổi thơ, một mái chùa cổ kính, một sắc màu quan họ, một cánh bằng lăng, một đêm hạ tuần trăng treo trên biển… tất cả đã vào thơ chị với sự nâng niu và chất chứa đầy cảm xúc. Trước những cánh bằng lăng phủ tím lối mòn, Mai Hương nhận ra thảm hoa mang sắc màu tình yêu thủy chung ấy dẫu có “rải tím mênh mông” ấy cũng “chẳng kín nỗi niềm bỏ ngỏ”. Màu hoa ấy trên thực tế, chỉ là cái cớ để chị bộc lộ cảm xúc mà thôi. Với chị, cảnh vật chỉ là nguyên cớ, và nguyên cớ lại bắt đầu từ cảnh vật. ở đây, sự phân định giữa tình và cảnh rất khó rõ ràng. Theo tôi, nếu rõ ràng thì đã không thể gọi thành thơ - nhất là thơ trữ tình. Trong cơn khát cuộc đời, Mai Hương đã trải qua bao sự trải nghiệm của một con tim khát khao yêu thương sau bao thất vọng. Hầu hết những bài thơ trong tập thơ đều thể hiện các cung bậc của sự khát khao đến cháy bỏng của chị về một bến đỗ tình yêu, về sự bất tử của tình yêu trong cuộc đời này. Nhiều lúc chị quên rằng trong mỗi cuộc đời chỉ có những phút giây bất tử của tình yêu mà không bao giờ có tình yêu vĩnh cửu. Bởi vậy, đằng sau sự hy vọng là một thực tế khiến chị thất vọng, khổ đau. Chị chiêm nghiệm thế này: “… Nếu yêu là trả là vay/ Thì tôi chẳng gánh những ngày đơn côi/ Khát khao cháy một kiếp người/ Thắp tình đốt lửa một đời tìm em…” (Lời cây gừng). Và, phải là người sống trong nỗi đau thì mới có thể kể ra nỗi đau tường tận như thế này: “… Tôi nhận từ nước mắt/ Của ai đó vừa rơi/ Mặn mòi như hạt muối/ Giữa biển đời đầy vơi…” (Lời cỏ xanh). Đã có lúc trong trạng thái cô đơn, giữa bốn bề hoang vắng, ta nhận ra những câu thơ run rẩy đến tội nghiệp của một trái tim đa cảm: … “Thương một chiều nắng quái/ Làm tê tái cỏ non/ Thương một tối cô đơn/ Sau hoàng hôn lạnh giá…” (Thương). Còn rất nhiều điều nữa chị nói đến trong bài thơ này, song cảm thức chung nhất, ám ảnh người đọc nhất là cảm xúc thương mình, thương đời và thương người đồng cảnh ngộ. Trong bài Lục bát thương mình, thực chất là cả “thương người” nữa, chị thừa nhận như sau:
“… Thương người, tôi khóc cho tôi/ Khóc cho câu lục nổi trôi đêm dài/ Thương mình tôi khóc cho ai?/Khóc cho câu bát ngày mai… hết buồn”…
Trong hành trình của bến đợi thời gian và kỷ niệm, chị đã đi qua những miền thương nhớ và cả nỗi khổ đau. Chứng tích của những tình yêu ngang trái, thấm đẫm nước mắt vẫn xuyên suốt thời gian, không gian và làm nhức nhối trái tim bao người. Một nàng Tô Thị bầm chân bồng con vò võ đợi người chồng ra đi không bao giờ trở lại trong Gửi nàng Tô Thị, một mối tình Trọng Thuỷ - Mỵ Châu oan nghiệt trong chùm thơ 4 bài về đề tài này, hay một nỗi niềm trắc ẩn của sư thầy trụ trì một ngôi chùa nơi đồng vắng… đã đi vào thơ chị với tất cả nỗi đau và sự sẻ chia số phận.
Sau tiếng gõ mõ, tụng kinh của sư nữ vào một buổi chiều hoàng hôn trong ngôi chùa cổ kính ven sông Đáy, chị nhận ra sau làn khói hương tĩnh mịch kia là một số phận con người với đầy đủ những khát khao và nỗi niềm số phận. Người khác có thể bỏ qua những chi tiết đời thường, nhưng Mai Hương thì không. Chị nhìn mái chùa trong tâm thức của một con người về với cõi Phật thực sự. Cõi Phật có giúp chúng sinh giải thoát bao nỗi ưu phiền được không, điều đó còn phụ thuộc vào mỗi con người. Trong ánh nhìn của nhân ái và đức tin, Mai Hương thấy: “Đình cong như nén hương vòng/ Trầm luân một kiếp long đong một đời…” (Thăm chùa xưa). Nhìn nhà sư bộn bề với nỗi lo toan nơi cõi Phật, bất giác Mai Hương cất tiếng thở dài: “… Trần gian nặng lắm nợ nhiều/ Hay là trút gánh… sớm chiều cho ai?…(…) Vườn sâu thanh tịch hư vô/ Bát cơm trắng muối… ngẩn ngơ khói chiều”. (Thăm chùa xưa). Chỉ vài nét chấm phá ấy thôi, ta cũng nhận ra trong cõi sắc sắc không không ấy, mọi điều không dễ gì giải thoát, nhất là nỗi đau đời.
Là người đàn bà làm thơ, chị nhận mình mang kiếp đa đoan. Đa tình thì có. Nhưng đa đoan, có lẽ số phận ưu ái không dành cho chị. Nhưng không hiểu sao, chị cứ vận vào mình:
“… Kiếp này tạ tội đất trời/ Kiếp sau em lại làm người đa đoan…” (Lục bát cho mình)
Trong cõi mơ ngay giữa cuộc đời, ta nhận ra Mai hương đã hát trong thơ. Chị hát cho mình, cho những hạnh phúc hiếm hoi, cho sự cô đơn và những nỗi niềm trống vắng. Cho cả những mối tình thoảng qua như cơn giá mùa thu. Đặc biệt, cho đến bây giờ người phụ nữ đa tình ấy vẫn còn khát khao một cơn gió mát lành cho cuộc đời mình. Vẫn biết đa tình, đa đoan là khổ, nhưng trong cõi thơ, hãy để cho chị và những người phụ nữ được chia sẻ với chính mình. Bởi một lẽ giản đơn - họ vẫn còn những cơn khát trong mơ, những cơn khát cuộc đời. Khát để nhấp chút men say tình đời ban tặng. Vì vậy, tôi rất thích cách bộc lộ của chị trong bài “Khát” như thế này:
Đi trên một đồng cỏ/ Khát hái một bông hoa/ Đắm mình trong chiều tà/ Khát vòng tay êm ái/… Đi từ mùa thu lại/ Khát một chiếc lá rơi/ Nhặt giọt nắng chơi vơi/ Khát một thời thiếu nữ…/ Trở lại dòng sông cũ/ Khát một giọt cát êm/ Về bến nước trong đêm/ Khát một thời dĩ vãng…/ Qua hạ nguồn thấp thoáng/ Khát một cánh buồm nâu/ Mơ màng cùng biển sâu/ Khát bao điều trầm lắng…/ Khi trái tim trống vắng/ Em khát gọi tên anh/ Chỉ một khoảng trời xanh/ Mà cả đời khao khát…”.
Vẫn biết rằng rải rác trong tập thơ vẫn còn những cách diễn đạt và câu chữ vội vàng khiến cho tầng nghĩa hình tượng thiếu đi chiều sâu triết lý, thậm chí đôi khi vì mải thể hiện nội dung, chị đã bỏ qua một yếu tố quan trọng là cấu tứ, song, những cơn khát cuộc đời mà chị thể hiện chân thành trong tập thơ này là rất đáng trân trọng. Trân trọng ở chỗ, bỏ qua những “hạt sạn” nhỏ kia, là tiếng nói tri âm của một con người với thơ ca, với số phận và cuộc sống. Với người cầm bút, rất cần những cảm xúc chân thành và nhân văn như vậy.
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Chu Thị Thơm
(Đọc tập thơ “Nhặt gió heo may” của
Nguyễn Mai Hương - Nxb Hội Nhà văn, 2004)
Nguyễn Mai Hương không phải là người mới làm thơ. Rải rác trên các báo, tuyển thơ… chị xuất hiện với tư cách là người cầm bút say sưa, đam mê và đã bước đầu có những vần thơ ám ảnh người đọc. Kể từ khi tập bút ký và thơ Bình yên nơi đây ra mắt bạn đọc cho đến tập thơ này, Nguyễn Mai Hương đã tỏ ra là một cây bút có tìm tòi, phong cách thơ đầy chất nữ tính với tất cả bao nỗi niềm suy tư, trắc ẩn.
Là người cả nghĩ và hay buồn vu vơ, lại thêm cái tội “giời đày” - bắt làm thi sĩ, Nguyễn Mai Hương luôn ám ảnh bởi thời gian. Thời gian trong thơ chị là kỷ niệm, là niềm vui và những nỗi buồn không dễ sẻ chia. Thế giới tình cảm và thế giới thơ ca trong chị đôi khi được hoà quyện làm một. Đọc Nhặt gió heo may, ta dễ dàng nhận ra khuông nhạc thời gian đã là khúc đồng dao số phận và những nỗi niềm trong thơ chị.
Ngay từ đầu tập thơ, Mai Hương đã thảng thốt:
“… Mùa thu có đợi ta không/ Có chờ ta nhặt gió đồng hương bay?…” (Nhặt gió heo may).
Đây chính là sự thảng thốt về thời gian và nỗi niềm đã cũ. Như vết cắn rạch ngang dòng chảy thời gian - có một chút se lạnh của heo may kỷ niệm, tất cả lập tức ùa về. Bởi vậy, đã có một người “chiều tà thơ thẩn chốn đây/ Vu vơ nhặt gió heo may một mình” (Nhặt gió heo may). Trong thơ, đã không ít lần chị vu vơ nhặt tìm kỷ niệm, nhặt tìm ký ức mà lúc nào chị cũng lo nơm nớp lãng quên.
Cũng như vậy, trong một lần về quê hương, chị lại thảng thốt trong nỗi buồn không đặt nổi thành tên:
… “Về quê trong cái rét đông/ Bâng khuâng hái ánh nắng hồng ngày xưa/ Cúi mình… nhặt lại tuổi thơ/ Vu vơ… thương cỏ giận hờ bước chân…” (Về quê)
Có những sự vật thì rất cụ thể, nhưng nỗi niềm khó định hình trong thơ chị. Điều mà ta có thể cảm nhận được mà không thể diễn tả được. Một dòng sông, một con đường tuổi thơ, một mái chùa cổ kính, một sắc màu quan họ, một cánh bằng lăng, một đêm hạ tuần trăng treo trên biển… tất cả đã vào thơ chị với sự nâng niu và chất chứa đầy cảm xúc. Trước những cánh bằng lăng phủ tím lối mòn, Mai Hương nhận ra thảm hoa mang sắc màu tình yêu thủy chung ấy dẫu có “rải tím mênh mông” ấy cũng “chẳng kín nỗi niềm bỏ ngỏ”. Màu hoa ấy trên thực tế, chỉ là cái cớ để chị bộc lộ cảm xúc mà thôi. Với chị, cảnh vật chỉ là nguyên cớ, và nguyên cớ lại bắt đầu từ cảnh vật. ở đây, sự phân định giữa tình và cảnh rất khó rõ ràng. Theo tôi, nếu rõ ràng thì đã không thể gọi thành thơ - nhất là thơ trữ tình. Trong cơn khát cuộc đời, Mai Hương đã trải qua bao sự trải nghiệm của một con tim khát khao yêu thương sau bao thất vọng. Hầu hết những bài thơ trong tập thơ đều thể hiện các cung bậc của sự khát khao đến cháy bỏng của chị về một bến đỗ tình yêu, về sự bất tử của tình yêu trong cuộc đời này. Nhiều lúc chị quên rằng trong mỗi cuộc đời chỉ có những phút giây bất tử của tình yêu mà không bao giờ có tình yêu vĩnh cửu. Bởi vậy, đằng sau sự hy vọng là một thực tế khiến chị thất vọng, khổ đau. Chị chiêm nghiệm thế này: “… Nếu yêu là trả là vay/ Thì tôi chẳng gánh những ngày đơn côi/ Khát khao cháy một kiếp người/ Thắp tình đốt lửa một đời tìm em…” (Lời cây gừng). Và, phải là người sống trong nỗi đau thì mới có thể kể ra nỗi đau tường tận như thế này: “… Tôi nhận từ nước mắt/ Của ai đó vừa rơi/ Mặn mòi như hạt muối/ Giữa biển đời đầy vơi…” (Lời cỏ xanh). Đã có lúc trong trạng thái cô đơn, giữa bốn bề hoang vắng, ta nhận ra những câu thơ run rẩy đến tội nghiệp của một trái tim đa cảm: … “Thương một chiều nắng quái/ Làm tê tái cỏ non/ Thương một tối cô đơn/ Sau hoàng hôn lạnh giá…” (Thương). Còn rất nhiều điều nữa chị nói đến trong bài thơ này, song cảm thức chung nhất, ám ảnh người đọc nhất là cảm xúc thương mình, thương đời và thương người đồng cảnh ngộ. Trong bài Lục bát thương mình, thực chất là cả “thương người” nữa, chị thừa nhận như sau:
“… Thương người, tôi khóc cho tôi/ Khóc cho câu lục nổi trôi đêm dài/ Thương mình tôi khóc cho ai?/Khóc cho câu bát ngày mai… hết buồn”…
Trong hành trình của bến đợi thời gian và kỷ niệm, chị đã đi qua những miền thương nhớ và cả nỗi khổ đau. Chứng tích của những tình yêu ngang trái, thấm đẫm nước mắt vẫn xuyên suốt thời gian, không gian và làm nhức nhối trái tim bao người. Một nàng Tô Thị bầm chân bồng con vò võ đợi người chồng ra đi không bao giờ trở lại trong Gửi nàng Tô Thị, một mối tình Trọng Thuỷ - Mỵ Châu oan nghiệt trong chùm thơ 4 bài về đề tài này, hay một nỗi niềm trắc ẩn của sư thầy trụ trì một ngôi chùa nơi đồng vắng… đã đi vào thơ chị với tất cả nỗi đau và sự sẻ chia số phận.
Sau tiếng gõ mõ, tụng kinh của sư nữ vào một buổi chiều hoàng hôn trong ngôi chùa cổ kính ven sông Đáy, chị nhận ra sau làn khói hương tĩnh mịch kia là một số phận con người với đầy đủ những khát khao và nỗi niềm số phận. Người khác có thể bỏ qua những chi tiết đời thường, nhưng Mai Hương thì không. Chị nhìn mái chùa trong tâm thức của một con người về với cõi Phật thực sự. Cõi Phật có giúp chúng sinh giải thoát bao nỗi ưu phiền được không, điều đó còn phụ thuộc vào mỗi con người. Trong ánh nhìn của nhân ái và đức tin, Mai Hương thấy: “Đình cong như nén hương vòng/ Trầm luân một kiếp long đong một đời…” (Thăm chùa xưa). Nhìn nhà sư bộn bề với nỗi lo toan nơi cõi Phật, bất giác Mai Hương cất tiếng thở dài: “… Trần gian nặng lắm nợ nhiều/ Hay là trút gánh… sớm chiều cho ai?…(…) Vườn sâu thanh tịch hư vô/ Bát cơm trắng muối… ngẩn ngơ khói chiều”. (Thăm chùa xưa). Chỉ vài nét chấm phá ấy thôi, ta cũng nhận ra trong cõi sắc sắc không không ấy, mọi điều không dễ gì giải thoát, nhất là nỗi đau đời.
Là người đàn bà làm thơ, chị nhận mình mang kiếp đa đoan. Đa tình thì có. Nhưng đa đoan, có lẽ số phận ưu ái không dành cho chị. Nhưng không hiểu sao, chị cứ vận vào mình:
“… Kiếp này tạ tội đất trời/ Kiếp sau em lại làm người đa đoan…” (Lục bát cho mình)
Trong cõi mơ ngay giữa cuộc đời, ta nhận ra Mai hương đã hát trong thơ. Chị hát cho mình, cho những hạnh phúc hiếm hoi, cho sự cô đơn và những nỗi niềm trống vắng. Cho cả những mối tình thoảng qua như cơn giá mùa thu. Đặc biệt, cho đến bây giờ người phụ nữ đa tình ấy vẫn còn khát khao một cơn gió mát lành cho cuộc đời mình. Vẫn biết đa tình, đa đoan là khổ, nhưng trong cõi thơ, hãy để cho chị và những người phụ nữ được chia sẻ với chính mình. Bởi một lẽ giản đơn - họ vẫn còn những cơn khát trong mơ, những cơn khát cuộc đời. Khát để nhấp chút men say tình đời ban tặng. Vì vậy, tôi rất thích cách bộc lộ của chị trong bài “Khát” như thế này:
Đi trên một đồng cỏ/ Khát hái một bông hoa/ Đắm mình trong chiều tà/ Khát vòng tay êm ái/… Đi từ mùa thu lại/ Khát một chiếc lá rơi/ Nhặt giọt nắng chơi vơi/ Khát một thời thiếu nữ…/ Trở lại dòng sông cũ/ Khát một giọt cát êm/ Về bến nước trong đêm/ Khát một thời dĩ vãng…/ Qua hạ nguồn thấp thoáng/ Khát một cánh buồm nâu/ Mơ màng cùng biển sâu/ Khát bao điều trầm lắng…/ Khi trái tim trống vắng/ Em khát gọi tên anh/ Chỉ một khoảng trời xanh/ Mà cả đời khao khát…”.
Vẫn biết rằng rải rác trong tập thơ vẫn còn những cách diễn đạt và câu chữ vội vàng khiến cho tầng nghĩa hình tượng thiếu đi chiều sâu triết lý, thậm chí đôi khi vì mải thể hiện nội dung, chị đã bỏ qua một yếu tố quan trọng là cấu tứ, song, những cơn khát cuộc đời mà chị thể hiện chân thành trong tập thơ này là rất đáng trân trọng. Trân trọng ở chỗ, bỏ qua những “hạt sạn” nhỏ kia, là tiếng nói tri âm của một con người với thơ ca, với số phận và cuộc sống. Với người cầm bút, rất cần những cảm xúc chân thành và nhân văn như vậy.
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,