Hoàng Quý - Phăm phăm hành khất thế - nhân - buồn
Phạm Hồ Thu
(Đọc tập thơ “Ngang qua cánh đồng” của Hoàng Quý, Nxb Hội Nhà văn, 2002, tái bản 2004)
Có một chiều thu, tôi bỗng nhận ra rằng có những câu thơ như thế đã “găm” vào tôi từ lúc nào: Ta cả tin, ta rất nhiều mơ mộng/ Kiên tâm trồng những tháp cát lên mưa/ Mê mải thúc những con tàu rỉ sét/ Phăm phăm hành khất thế - nhân - buồn (Đi bên mùa lá rụng). Và: Em ạ, lại một mùa cải trổ/ Bãi đồng mê mướt sắc vàng mơ/ Hoa nở/ Mà sao hoa đắng đót/ Nụ thắp xanh xao cả lối về (Tháng Giêng thương nhớ).
Chưa hết. Nhiều lắm những câu thơ của một kiếp nhân sinh trầm luân ở cõi người: Tôi gieo hạt gặp mùa thất bát/ Cánh đồng tôi đầy đắng cỏ ưu phiền (Tôi thế nào như thế thì hơn); Tôi đã nhìn đau đául Thấy thửa ruộng kia tơi tả vết chân người (Tự khúc); Hay: áo buông khăn lạnh người ơi/ Không người ta biết ai người tri âm (Một mình); hay: Có một tuổi thơ tôi trong ngăn ngắt xa/ Chợ người thì đông, chợ mẹ thì ế.../ Có một tuổi thơ tôi ở tít quê người/ Đọn cói thì to, người tôi thì bé/ Tôi lết gánh cói xanh ra chợ/ Lạnh tay thu về nhúm xu kèng... (Có một tuổi thơ tôi)...
Đó là những câu thơ của một đa đoan, từng trải; những đa đoan, từng trải của kiếp làm người có quá nhiều ý thức về mình, về người, về đớn đau hay hạnh phúc, thiện hay ác, vô nghĩa hay có nghĩa; không ghẻ lạnh, không buông xuôi với một miền thao thức đam mê và trĩu nặng về cõi - người.
Đây là những cảm nhận ban đầu của tôi về tập thơ của Hoàng Quý - tập Ngang qua cánh đồng mà các bạn đang có trong tay - một tập thơ in dày dặn và đẹp với gần 300 trang, chứa đựng 100 bài thơ ngắn và một trường ca, xuất bản năm 2002 và vừa được Nxb Hội Nhà văn tái bản tháng 11-2004. Tất nhiên, sự dày dặn hay nhiều bài đôi khi không nói gì nhiều về một giọng thơ hay tài thơ. Nhưng sẽ thật vui sướng nếu như ta bắt gặp một cuốn sách giống như một rừng thơ, ở đó kể mọi thứ chuyện: Chuyện một tuổi thơ vất vả cay đắng; chuyện một đời lính hiến dâng tuổi trẻ cho ngày độc lập của Tổ quốc mà những dư ba của nó vẫn còn ám ảnh đến trở thành những khát vọng an bình; chuyện một kiếp “mưu sinh bấn loạn kiếp người”; chuyện một người tình, người con, người em và chuyện về một đứa con của Mẹ - Quê suốt đời yêu và nguyện cầu cho hạnh phúc của quê hương, ở đó, trước hết là những con người...
Tôi đã đọc nhiều thơ viết về người lính, viết về chiến tranh, song vẫn không thôi cảm động khi được đọc những dòng này của Hoàng Quý: Một ngày ba lô con cóc lên đường/ Từ tạ tuổi thơ, từ tạ mẹ/ Tôi mang trong hành trang ngăn ngắt ra đi/ Những đọn cói quê người và góc vườn xưa cũ/ Tôi không vui và tôi không buồn/ Tôi ra mộ cha lạy người ba lạyl Tôi về nhà tôi quỳ lạy mẹ/... Chỉ mộ anh tôi là không thấy/ Nó tan vào chiến tranh... (Có một tuổi thơ tôi)
Trong số những bài thơ viết về chiến tranh, bài Khi chiến tranh đi qua của Hoàng Quý gây ấn tượng hơn cả:
Khi chiến tranh đi qua
Mỗi sợi tóc một câu chinh phụ
Khi chiến tranh đi qua đời mẹ
Nước mắt lần mòn giấu giếm trong tim
Khi chiến tranh đi qua đời em
Cây trúc tong teo chiếc lá...
Cả bài là một điệp khúc về nỗi nhớ. Nhớ đồng đội, nhớ sự hy sinh của cha, của mẹ, của em, của đồng đội và của cả dân tộc. Và nước mắt của người lính nghẹn ngào trước một sự lãng quên nào đó: ...Chiến tranh đã đi qua rất xa, rất xa/ Tóc mẹ bạc hết rồi không bạc thêm được nữa/... Chút rượu cuối cùng ta rót cho em/ Rót cho ta và cho đồng đội cũ/ Lời cuối rồi thôi không nói nữal Cầu cho vong hồn mấy đứa được yên... (Khi chiến tranh đi qua).
Trong dòng liên tưởng đặc quánh nỗi buồn chiến tranh, bài Buổi sáng ra vườn nghe mưa ký ức là một dấu ấn khác của Hoàng Quý: “Bông cúc ta từng hái ở mùa thu/ Khô xác gần 30 năm trong ba lô cóc cũ/ Ta cầm lại trên tay như cầm lửa chiến tranh/ Chả vàng được cho ai - hoa cúc!. Rồi lại: Chả vàng được nữa đâu - hoa cúc!...” Đây là điệp khúc của trái tim day dứt: Muốn quên mà chẳng thể quên, muốn rũ bỏ mà chẳng thể rũ bỏ và nhớ, nhớ đớn đau, nhức nhối những kỷ niệm về chiến tranh, về sự hy sinh của đồng đội và phạm - trù - nỗi - nhớ này được tác giả nâng lên thành một giá trị thẩm mỹ về lẽ sống: “Buổi sáng ra vườn nghe mưa ký ức/ Mưa ký ức rơi như một bài hát buồn/ Mưa ký ức rơi vào bông cúc cũ/ Mỗi cánh hoa như một linh hồn ...” ... Ai đã từng đi ra chiến trận hoặc từng trải nỗi đau mất mát của chiến tranh, chắc sẽ giống như tôi run lên khi đọc những câu thơ này với cái điệp khúc “Chả vàng được nữa đâu - hoa cúc! của Hoàng Quý.
Cùng mảng thơ viết về chiến tranh, những bài viết, những cảm xúc cháy đậm khi viết về đồng quê, quê hương chính là một liên khúc nói về Hoàng Quý - người lính - người con yêu của quê hương xứ sở mình:
Người ở ngoài kia có nhắc đến ta không
Ta đã xa mười năm có lẻ
Thư ta viết đã mấy lần dập xoá
Mấy lần e thẹn gửi cho nhau.
(Thư cho làng đồi)
Trong mỹ cảm của người lính từ nỗi buồn sau chiến tranh đến những cánh đồng có thật và những cánh - đồng - người mà Hoàng Quý đã trải nghiệm, có một trường liên tưởng mạnh mẽ từ cái chung đến cái riêng, từ vận mệnh Tổ quốc đến số phận con người và chính điều này làm nên góc giá trị thẩm mỹ rất riêng trong thơ Hoàng Quý: Tôi đã đến gieo trồng và vun xới/ Trên thửa ruộng tôi trên cánh đồng đờil Tôi đã ngắm, đã tìm vô đắm đuốil Trong hoang mang những cánh - đồng - người ... Lúa ấy/ Ngô khoai ấy và hoa trái ấy l Chất chồng cả máu và mồ hôi/ Không có gì lạ/ Cả đam mê say và tỉnh/ Không có gì lạ/ Cả nước mắt và tiếng cười/ Không có gì lạ... em ơi! (Tự khúc)
Thơ Hoàng Quý đặc biệt hay nói đến cánh đồng: “Đi suốt cả bon chen gặp cánh đồng mình, đồng sau gặt nước về như nước mắt. Còn nặng lòng ư cây trái của ta? Hoa vông đỏ một trời lửa đuốc! Em gói chờ mong trong hạt vàng thu, ta gọi cách đồng..., đồng vang tiếng ếch” (Ngang qua cánh đồng). Đây là cánh đồng nào đây? Vừa cụ thể vừa không cụ thể. Rồi: “Trở về từ biền biệt đi không một dòng tin, con tu hú tàn kêu mùa vải cũ. Ta gặp lại đồng bãi của ta, sông nhỏ của ta sao dửng dưng không mừng rỡ. Cây gạo đầy gai chặt đã lâu rồi còn để gốc xù xì trong cỏ lạnh. Ta co ro trong khói đốt đồng. Nhưng khói rạ rơm thật thơm mà không ăn được, không ai cầm nắm được!...” (ảo ảnh)
Tôi tin rằng nhà thơ đã tìm thấy sự tri âm từ những cánh đồng - cả cánh đồng của số phận và cánh đồng của cả một dân tộc mang trong mình nền văn minh lúa nước. Những cánh đồng như những trang giấy trắng khắc hoa đúng chân dung mỗi số phận và chân dung dân tộc Việt. ở đây có cả niềm vui lẫn nỗi buồn, hy vọng lẫn thất vọng, quá khứ lẫn tương lai....
Từ con người chung đến một con người riêng biệt có số phận nổi chìm và sự cô đơn chiếm ngự, nỗi buồn chiếm ngự, là một cách đi trong thơ Hoàng Quý, vừa hồn nhiên, đam mê, vừa thức tỉnh đầy ý thức. Chính vì thế, cái “nỗi người” ấy trong thơ Hoàng Quý (khá đậm đặc) đã tạo nên một vẻ - đẹp - buồn ánh ỏi trong thơ anh:
Vườn mây biêng biếc ngoài kia
Đã chiều vời vợi mải mê cánh buồm...
Thương tằm chớm óng đường tơ
Đã nghe đồng bãi bây giờ lách lau..
(Lời vương)
Rồi sông
Sông bèo bọt trôi
Rồi đồng
Tìm không bóng người
(Du ca mùa đông)
Giống như một câu thơ của Quý: “Phăm phăm hành khất thế - gian - buồn “, ở đây là một thái độ không chối từ nỗi buồn, chấp nhận thực tại. Những câu thơ đẹp và buồn như thế khá nhiều trong tập thơ: “Ta cứ cười ta khi màn đóng lại/ Rũ phấn son đi liệu đã Con Người “ (Trước mùa thu). Rồi: “Chiều nay em ạ, ta buồn/ Bùa mê cỏ lú ta biền biệt xa.../ Em về chân vấp nẻo khuya/ Ta đi chân vấp tứ bề nhân gian”. (Lục bát cho em). Rồi: “Những chiến thuyền vượt đại dương không lường hết điều gì trước mặt. Có thể thênh thang. Có thể vỡ chìm” (Với bình yên). Rồi: “Tìm lòng yêu khắp nẻo đầu thai.../ Anh đã Thiên thai/ Chốn trần tôi bỏ ngỏ...” (Gửi Chế) v.v...
Những câu thơ như thế đặt cạnh nhau tạo nên một mỹ cảm riêng, tạo nên những xao động đắng đót mà ta đã từng gặp trong câu thơ Nguyễn Trãi: “Hoa thì thường héo, cỏ thường tươi”.
Những câu thơ như thế thêm một lần làm cho trái tim chúng ta không bình yên; nhưng cũng thêm một lần ta nghe tiếng gọi thì thầm từ phía những ngôi sao xa: Hãy tin vào Cái - Đẹp.
Hà Nội cuối thu 2004
(Báo Văn nghệ)
Phạm Hồ Thu
(Đọc tập thơ “Ngang qua cánh đồng” của Hoàng Quý, Nxb Hội Nhà văn, 2002, tái bản 2004)
Có một chiều thu, tôi bỗng nhận ra rằng có những câu thơ như thế đã “găm” vào tôi từ lúc nào: Ta cả tin, ta rất nhiều mơ mộng/ Kiên tâm trồng những tháp cát lên mưa/ Mê mải thúc những con tàu rỉ sét/ Phăm phăm hành khất thế - nhân - buồn (Đi bên mùa lá rụng). Và: Em ạ, lại một mùa cải trổ/ Bãi đồng mê mướt sắc vàng mơ/ Hoa nở/ Mà sao hoa đắng đót/ Nụ thắp xanh xao cả lối về (Tháng Giêng thương nhớ).
Chưa hết. Nhiều lắm những câu thơ của một kiếp nhân sinh trầm luân ở cõi người: Tôi gieo hạt gặp mùa thất bát/ Cánh đồng tôi đầy đắng cỏ ưu phiền (Tôi thế nào như thế thì hơn); Tôi đã nhìn đau đául Thấy thửa ruộng kia tơi tả vết chân người (Tự khúc); Hay: áo buông khăn lạnh người ơi/ Không người ta biết ai người tri âm (Một mình); hay: Có một tuổi thơ tôi trong ngăn ngắt xa/ Chợ người thì đông, chợ mẹ thì ế.../ Có một tuổi thơ tôi ở tít quê người/ Đọn cói thì to, người tôi thì bé/ Tôi lết gánh cói xanh ra chợ/ Lạnh tay thu về nhúm xu kèng... (Có một tuổi thơ tôi)...
Đó là những câu thơ của một đa đoan, từng trải; những đa đoan, từng trải của kiếp làm người có quá nhiều ý thức về mình, về người, về đớn đau hay hạnh phúc, thiện hay ác, vô nghĩa hay có nghĩa; không ghẻ lạnh, không buông xuôi với một miền thao thức đam mê và trĩu nặng về cõi - người.
Đây là những cảm nhận ban đầu của tôi về tập thơ của Hoàng Quý - tập Ngang qua cánh đồng mà các bạn đang có trong tay - một tập thơ in dày dặn và đẹp với gần 300 trang, chứa đựng 100 bài thơ ngắn và một trường ca, xuất bản năm 2002 và vừa được Nxb Hội Nhà văn tái bản tháng 11-2004. Tất nhiên, sự dày dặn hay nhiều bài đôi khi không nói gì nhiều về một giọng thơ hay tài thơ. Nhưng sẽ thật vui sướng nếu như ta bắt gặp một cuốn sách giống như một rừng thơ, ở đó kể mọi thứ chuyện: Chuyện một tuổi thơ vất vả cay đắng; chuyện một đời lính hiến dâng tuổi trẻ cho ngày độc lập của Tổ quốc mà những dư ba của nó vẫn còn ám ảnh đến trở thành những khát vọng an bình; chuyện một kiếp “mưu sinh bấn loạn kiếp người”; chuyện một người tình, người con, người em và chuyện về một đứa con của Mẹ - Quê suốt đời yêu và nguyện cầu cho hạnh phúc của quê hương, ở đó, trước hết là những con người...
Tôi đã đọc nhiều thơ viết về người lính, viết về chiến tranh, song vẫn không thôi cảm động khi được đọc những dòng này của Hoàng Quý: Một ngày ba lô con cóc lên đường/ Từ tạ tuổi thơ, từ tạ mẹ/ Tôi mang trong hành trang ngăn ngắt ra đi/ Những đọn cói quê người và góc vườn xưa cũ/ Tôi không vui và tôi không buồn/ Tôi ra mộ cha lạy người ba lạyl Tôi về nhà tôi quỳ lạy mẹ/... Chỉ mộ anh tôi là không thấy/ Nó tan vào chiến tranh... (Có một tuổi thơ tôi)
Trong số những bài thơ viết về chiến tranh, bài Khi chiến tranh đi qua của Hoàng Quý gây ấn tượng hơn cả:
Khi chiến tranh đi qua
Mỗi sợi tóc một câu chinh phụ
Khi chiến tranh đi qua đời mẹ
Nước mắt lần mòn giấu giếm trong tim
Khi chiến tranh đi qua đời em
Cây trúc tong teo chiếc lá...
Cả bài là một điệp khúc về nỗi nhớ. Nhớ đồng đội, nhớ sự hy sinh của cha, của mẹ, của em, của đồng đội và của cả dân tộc. Và nước mắt của người lính nghẹn ngào trước một sự lãng quên nào đó: ...Chiến tranh đã đi qua rất xa, rất xa/ Tóc mẹ bạc hết rồi không bạc thêm được nữa/... Chút rượu cuối cùng ta rót cho em/ Rót cho ta và cho đồng đội cũ/ Lời cuối rồi thôi không nói nữal Cầu cho vong hồn mấy đứa được yên... (Khi chiến tranh đi qua).
Trong dòng liên tưởng đặc quánh nỗi buồn chiến tranh, bài Buổi sáng ra vườn nghe mưa ký ức là một dấu ấn khác của Hoàng Quý: “Bông cúc ta từng hái ở mùa thu/ Khô xác gần 30 năm trong ba lô cóc cũ/ Ta cầm lại trên tay như cầm lửa chiến tranh/ Chả vàng được cho ai - hoa cúc!. Rồi lại: Chả vàng được nữa đâu - hoa cúc!...” Đây là điệp khúc của trái tim day dứt: Muốn quên mà chẳng thể quên, muốn rũ bỏ mà chẳng thể rũ bỏ và nhớ, nhớ đớn đau, nhức nhối những kỷ niệm về chiến tranh, về sự hy sinh của đồng đội và phạm - trù - nỗi - nhớ này được tác giả nâng lên thành một giá trị thẩm mỹ về lẽ sống: “Buổi sáng ra vườn nghe mưa ký ức/ Mưa ký ức rơi như một bài hát buồn/ Mưa ký ức rơi vào bông cúc cũ/ Mỗi cánh hoa như một linh hồn ...” ... Ai đã từng đi ra chiến trận hoặc từng trải nỗi đau mất mát của chiến tranh, chắc sẽ giống như tôi run lên khi đọc những câu thơ này với cái điệp khúc “Chả vàng được nữa đâu - hoa cúc! của Hoàng Quý.
Cùng mảng thơ viết về chiến tranh, những bài viết, những cảm xúc cháy đậm khi viết về đồng quê, quê hương chính là một liên khúc nói về Hoàng Quý - người lính - người con yêu của quê hương xứ sở mình:
Người ở ngoài kia có nhắc đến ta không
Ta đã xa mười năm có lẻ
Thư ta viết đã mấy lần dập xoá
Mấy lần e thẹn gửi cho nhau.
(Thư cho làng đồi)
Trong mỹ cảm của người lính từ nỗi buồn sau chiến tranh đến những cánh đồng có thật và những cánh - đồng - người mà Hoàng Quý đã trải nghiệm, có một trường liên tưởng mạnh mẽ từ cái chung đến cái riêng, từ vận mệnh Tổ quốc đến số phận con người và chính điều này làm nên góc giá trị thẩm mỹ rất riêng trong thơ Hoàng Quý: Tôi đã đến gieo trồng và vun xới/ Trên thửa ruộng tôi trên cánh đồng đờil Tôi đã ngắm, đã tìm vô đắm đuốil Trong hoang mang những cánh - đồng - người ... Lúa ấy/ Ngô khoai ấy và hoa trái ấy l Chất chồng cả máu và mồ hôi/ Không có gì lạ/ Cả đam mê say và tỉnh/ Không có gì lạ/ Cả nước mắt và tiếng cười/ Không có gì lạ... em ơi! (Tự khúc)
Thơ Hoàng Quý đặc biệt hay nói đến cánh đồng: “Đi suốt cả bon chen gặp cánh đồng mình, đồng sau gặt nước về như nước mắt. Còn nặng lòng ư cây trái của ta? Hoa vông đỏ một trời lửa đuốc! Em gói chờ mong trong hạt vàng thu, ta gọi cách đồng..., đồng vang tiếng ếch” (Ngang qua cánh đồng). Đây là cánh đồng nào đây? Vừa cụ thể vừa không cụ thể. Rồi: “Trở về từ biền biệt đi không một dòng tin, con tu hú tàn kêu mùa vải cũ. Ta gặp lại đồng bãi của ta, sông nhỏ của ta sao dửng dưng không mừng rỡ. Cây gạo đầy gai chặt đã lâu rồi còn để gốc xù xì trong cỏ lạnh. Ta co ro trong khói đốt đồng. Nhưng khói rạ rơm thật thơm mà không ăn được, không ai cầm nắm được!...” (ảo ảnh)
Tôi tin rằng nhà thơ đã tìm thấy sự tri âm từ những cánh đồng - cả cánh đồng của số phận và cánh đồng của cả một dân tộc mang trong mình nền văn minh lúa nước. Những cánh đồng như những trang giấy trắng khắc hoa đúng chân dung mỗi số phận và chân dung dân tộc Việt. ở đây có cả niềm vui lẫn nỗi buồn, hy vọng lẫn thất vọng, quá khứ lẫn tương lai....
Từ con người chung đến một con người riêng biệt có số phận nổi chìm và sự cô đơn chiếm ngự, nỗi buồn chiếm ngự, là một cách đi trong thơ Hoàng Quý, vừa hồn nhiên, đam mê, vừa thức tỉnh đầy ý thức. Chính vì thế, cái “nỗi người” ấy trong thơ Hoàng Quý (khá đậm đặc) đã tạo nên một vẻ - đẹp - buồn ánh ỏi trong thơ anh:
Vườn mây biêng biếc ngoài kia
Đã chiều vời vợi mải mê cánh buồm...
Thương tằm chớm óng đường tơ
Đã nghe đồng bãi bây giờ lách lau..
(Lời vương)
Rồi sông
Sông bèo bọt trôi
Rồi đồng
Tìm không bóng người
(Du ca mùa đông)
Giống như một câu thơ của Quý: “Phăm phăm hành khất thế - gian - buồn “, ở đây là một thái độ không chối từ nỗi buồn, chấp nhận thực tại. Những câu thơ đẹp và buồn như thế khá nhiều trong tập thơ: “Ta cứ cười ta khi màn đóng lại/ Rũ phấn son đi liệu đã Con Người “ (Trước mùa thu). Rồi: “Chiều nay em ạ, ta buồn/ Bùa mê cỏ lú ta biền biệt xa.../ Em về chân vấp nẻo khuya/ Ta đi chân vấp tứ bề nhân gian”. (Lục bát cho em). Rồi: “Những chiến thuyền vượt đại dương không lường hết điều gì trước mặt. Có thể thênh thang. Có thể vỡ chìm” (Với bình yên). Rồi: “Tìm lòng yêu khắp nẻo đầu thai.../ Anh đã Thiên thai/ Chốn trần tôi bỏ ngỏ...” (Gửi Chế) v.v...
Những câu thơ như thế đặt cạnh nhau tạo nên một mỹ cảm riêng, tạo nên những xao động đắng đót mà ta đã từng gặp trong câu thơ Nguyễn Trãi: “Hoa thì thường héo, cỏ thường tươi”.
Những câu thơ như thế thêm một lần làm cho trái tim chúng ta không bình yên; nhưng cũng thêm một lần ta nghe tiếng gọi thì thầm từ phía những ngôi sao xa: Hãy tin vào Cái - Đẹp.
Hà Nội cuối thu 2004
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,