Đọc “Tiếng chim tu hú” của Anh Thơ
Lời bình của nhà thơ Trịnh Thanh Sơn
Nhắc tới nữ thi sĩ Anh Thơ, bạn đọc yêu thơ nhiều thế hệ người Việt đều lập tức nhớ ngay đến tập thơ Bức tranh quê lừng danh, tác phẩm đã được nhận giải thưởng của Tự lực văn đoàn (1939) khi tác giả mới vừa tròn 18 tuổi. Cũng kể từ ngày ấy, cô gái có tên là Vương Kiều ân kia mãi mãi gắn mình với bút hiệu Anh Thơ, nữ sĩ Anh Thơ, chị Anh Thơ thân thiết của thế hệ chúng tôi.
Cách mạng tháng 8 năm 1945 khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nữ sĩ Anh Thơ, mới ngoài hai mươi tuổi. Chị đã đem tất cả tâm hồn và tuổi trẻ nhiệt huyết cùng hành trang là những câu thơ đi theo cách mạng, lao vào cuộc kháng chiến trường kỳ chín năm đánh Pháp. Sau cuộc trường chinh ấy, về lại Hà Nội thân yêu, chị cho xuất bản tập thơ thứ 6 của mình, mang tên Những cánh chim câu (1960). Bài thơ nổi tiếng Tiếng chim tu hú xuất hiện lần đầu tiên trong tập thơ này, và từ ngày ấy, bài thơ xuất hiện nhiều lần trong các tuyển tập thơ khác nhau, chứng tỏ sức sống và vẻ đẹp bền lâu của nó.
Tác giả không ghi rõ năm tháng sáng tác bài thơ này ở cuối bài như việc thường làm của chị mỗi khi chị sáng tác xong một bài thơ. Tuy nhiên, qua các chi tiết về thời gian thể hiện, trong bài thơ, ta có thể biết được khá nhiều chắc chắn thời gian ra đời của nó, đó là sau ngày hoà bình lập lại trên miền Bắc, cụ thể là sau “mười năm trong khói lửa”, sau ngày giải phóng Điện Biên.
Trước cách mạng, Anh Thơ hầu như không viết thể thơ năm chữ. Sở trường của chị là thể thơ tám chữ, ta thường gọi là “thơ 8 chân”, với tiết tấu chậm, ổn định và phẳng lặng, êm ả. Cuộc kháng chiến của toàn dân tộc với tốc độ nhanh, mạnh, quyết liệt đã thực sự tác động và có ảnh hưởng sâu sắc vào tâm hồn nhà thơ, bởi vậy phong cách thơ Anh Thơ đã chuyển đổi rõ rệt, điều ấy thể hiện ở truyện thơ Kể chuyện Vũ Lăng (1957) và ở tập thơ Những cánh chim câu, in sau đó vài ba năm.
Trở lại với bài thơ Tiếng chim tu hú, điều ta nhận thấy đầu tiên là, nhà thơ đã sử dụng thể thơ ngũ ngôn một cách thật đắc địa. Không gian bài thơ rất rộng, thời gian bài thơ rất dài, chí ít cũng là mười năm, bởi vậy, tốc độ cán lướt của bài thơ phải rất lớn, chi tiết hình ảnh phải chắt lọc đến tối đa và đặc biệt là một trường liên tưởng cực lớn.
Bài thơ có bảy khổ thơ, được thành hai phần: Hơn ba khổ thơ đầu để nói những chuyện trước ngày cách mạng bùng nổ, hơn ba khổ thơ sau để nói về cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Việc phân chia như vậy cho ta thấy sự chủ động và tự ý thức rất rõ của tác giả khi đặt bút viết bài thơ này.
Mở đầu là nỗi nhớ, nỗi nhớ quay quắt một dòng sông, một triền đê, một mùa vải chín và tiếng chim tu hú còn vang vọng khôn nguôi trong tiềm thức:
Nắng hè đỏ hoa gạo
Nước sông Thương trôi nhanh
… Bỗng tiếng chim tu hú
Đưa từ vườn vải xa
Quả bắt đầu chín lự
Ngọt như nỗi nhớ nhà
Tiếp đến là nỗi nhớ cụ thể hơn, nỗi nhớ về người cha tóc bạc, đang từng ngày “chống gậy bước lên đồi”, hướng ánh nhìn về một nơi xa khuất, nơi ấy có người con gái thương yêu, người con gái bé bỏng “má hồng con đang tươi”:
Cha già thêm tóc bạc
Chống gậy bước lên đồi
Thương một mùa vải đỏ
Má hồng con đang tươi
Có chàng qua dạm ngõ…
Nỗi nhớ ấy là nỗi nhớ ngọt ngào của người thiếu nữ đang thời xuân sắc, người thiếu nữ vừa bước vào độ tuổi “cập kê”, e ấp nhìn qua rèm bóng những chàng trai tới nhà “chạm ngõ”. Tất cả sự thanh bình ấy được thể hiện qua những câu thơ trong trẻo, giản dị mà long lanh như ánh ban mai của một ngày sắp vào hè:
Quả bắt đầu chín lự
Ngọt như nỗi nhớ nhà
Ta chưa từng thấy trong thơ Việt Nam trước đó một câu thơ nào tả về nỗi nhớ nhà tương tự hay hao hao như vậy. Thông thường, nỗi nhớ nhà gợi cảm giác buồn, lạnh, cô đơn, vì thế nó nghiêng về phía xót xa, cay đắng chứ không “ngọt”. Ngọt như nỗi nhớ nhà là một sáng tạo rất mới, rất đặc thù và rất điển hình của Anh Thơ. Đó là nỗi nhớ của người “chủ động xa nhà”, người tự ý thức được vì sao mình phải xa nhà, là nỗi nhớ của người dấn thân, của người chiến sĩ. Nỗi nhớ ấy càng ngọt ngào hơn khi vấp phải tiếng chim tu hú, vấp phải mùa vải “bắt đầu chín lự”. Từ cái ngọt ngào của quả vải chín mà liên tưởng tới sự ngọt ngào của nỗi nhớ nhà, có lẽ chỉ có nhà thơ mới có được, lại nữa, phải là một nhà thơ nữ mới có được.
Đến đây, bài thơ chuyển sang đoạn hai thật là đột ngột, đột ngột đến sững sờ. Bước chân “chàng trai qua dạm ngõ” dường như còn đâu đó ở ngoài sân, ngoài ngõ kia, bỗng chiến tranh ập tới, vô lý đến kinh hoàng, đến không sao tin nổi. Thế là bao nhiêu thanh bình, bao nhiêu hy vọng về hạnh phúc lứa đôi đành tan biến. Người thơ - cô gái xuân thì ấy - đành chấp nhận một thực tế phũ phàng:
Con đi đêm súng nổ
Vải rụng bến sông trôi…
Những quả vải vừa chín tới đã rụng xuống và trôi bên bến sông loạn lạc. Thi ảnh ấy nói được rất nhiều về biến động của thời cuộc, về số phận của con người, nhất là cuộc đời của một cô gái, một thân gái dặm trường:
Rồi tiếng chim tú hú
Vang suốt những mùa hè
Con đi dài thương nhớ
Mười năm chửa về quê…
Tu hú ơi, tu hú!
Kêu hoài chi vườn xanh?
Lời thơ như kể chuyện, cứ thong thả điệp nhịp qua thời khắc của chiến tranh, nhưng tình thơ như lắng đọng, dồn nén và nức nở như nước mắt ngập ngừng đầy sau tiếng chim tu hú: Tu hú ơi, tu hú/ Kêu hoài chi vườn xanh?.
Mười năm chiến tranh, trận mạc, chưa đi hết một mùa tu hú gọi. Vậy thì, lại còn phải đi, đi nữa:
Ta còn đi, đi nữa
Như dòng sông trôi nhanh
Nhắn với chim tu hú
Cha già vui đợi mong
Mười năm trong khói lửa
Má con dù nhạt hồng
Nhưng bao nhiêu em gái
Đẹp lên mùa vải chín bên sông
Cuộc dấn thân của người thơ vào lý tưởng của mình thật gian truân và vô cùng khắc nghiệt, nhưng vì lý tưởng, có niềm tin vào tương lai, những câu thơ vẫn tràn đầy hy vọng. Khi biết, sau lưng mình, sau cuộc dấn thân của mình, sẽ còn biết bao người nối tiếp, nhà thơ bỗng thấy lòng sảng khoái một niềm tin vào tương lai:
Nhưng bao nhiêu em gái
Đẹp lên mùa vải chín bên sông!
Cả bài thơ, từ đầu đến đây đều là thơ năm chữ, vậy mà đến câu cuối cùng, câu kết, nhà thơ bỗng hạ một câu thơ bẩy chữ, như sự dài rộng của tiếp nối bao la: Đẹp lên mùa vải chín bên sông!. Có phải là ngẫu nhiên kỳ diệu.
Đọc bài thơ Tiếng chim tu hú của nữ sĩ Anh Thơ, bỗng dưng tôi nhớ tới những tiếng chim tu hú khác. Lạ nhỉ, sao tiếng chim tu hú lại vào trong thơ Việt nhiều đến vậy? Trước hết, đó là tiếng chim tu hú trong thơ Tố Hữu, tiếng chim của lao tù đòi giải thoát:
Ta nghe hè rộn bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ơi
Ngột làm sao, chết mất thôi
Tiếng chim tu hú ngoài trời vẫn kêu
(Từ ấy)
Rồi đây nữa, tiếng chim tu hú trong những câu thơ nhớ thương khắc khoải của Bằng Việt:
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế
Tu hú ơi không đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa…
(Bếp lửa)
Có tiếng hót của loài chim nào lại gợi nhớ thương và hy vọng như tiếng kêu của chim tu hú? Cái loài chim luôn bị coi là hạ đẳng, là “tu hú đẻ nhờ” kia, sao bỗng dưng trở thành duyên nợ của các nhà thơ? Lạ thay!
Phải chăng, đấy là tiếng lòng của hy vọng? Và nữ sĩ Anh Thơ đã biết dùng tiếng hót của hy vọng ấy để viết bài thơ hy vọng của đời mình? Chị nói với chúng ta niềm tin yêu một thời, niềm tin yêu một đời vào hy vọng:
Tu hú ơi! Tu hú
Kêu hoài chi vườn xanh?
Câu hỏi ấy cũng là một trả lời. Đó là sự trả lời của thi nhân, của niềm tin và hy vọng!n
Hà Nội, xuân 2005
(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)
Lời bình của nhà thơ Trịnh Thanh Sơn
Nhắc tới nữ thi sĩ Anh Thơ, bạn đọc yêu thơ nhiều thế hệ người Việt đều lập tức nhớ ngay đến tập thơ Bức tranh quê lừng danh, tác phẩm đã được nhận giải thưởng của Tự lực văn đoàn (1939) khi tác giả mới vừa tròn 18 tuổi. Cũng kể từ ngày ấy, cô gái có tên là Vương Kiều ân kia mãi mãi gắn mình với bút hiệu Anh Thơ, nữ sĩ Anh Thơ, chị Anh Thơ thân thiết của thế hệ chúng tôi.
Cách mạng tháng 8 năm 1945 khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nữ sĩ Anh Thơ, mới ngoài hai mươi tuổi. Chị đã đem tất cả tâm hồn và tuổi trẻ nhiệt huyết cùng hành trang là những câu thơ đi theo cách mạng, lao vào cuộc kháng chiến trường kỳ chín năm đánh Pháp. Sau cuộc trường chinh ấy, về lại Hà Nội thân yêu, chị cho xuất bản tập thơ thứ 6 của mình, mang tên Những cánh chim câu (1960). Bài thơ nổi tiếng Tiếng chim tu hú xuất hiện lần đầu tiên trong tập thơ này, và từ ngày ấy, bài thơ xuất hiện nhiều lần trong các tuyển tập thơ khác nhau, chứng tỏ sức sống và vẻ đẹp bền lâu của nó.
Tác giả không ghi rõ năm tháng sáng tác bài thơ này ở cuối bài như việc thường làm của chị mỗi khi chị sáng tác xong một bài thơ. Tuy nhiên, qua các chi tiết về thời gian thể hiện, trong bài thơ, ta có thể biết được khá nhiều chắc chắn thời gian ra đời của nó, đó là sau ngày hoà bình lập lại trên miền Bắc, cụ thể là sau “mười năm trong khói lửa”, sau ngày giải phóng Điện Biên.
Trước cách mạng, Anh Thơ hầu như không viết thể thơ năm chữ. Sở trường của chị là thể thơ tám chữ, ta thường gọi là “thơ 8 chân”, với tiết tấu chậm, ổn định và phẳng lặng, êm ả. Cuộc kháng chiến của toàn dân tộc với tốc độ nhanh, mạnh, quyết liệt đã thực sự tác động và có ảnh hưởng sâu sắc vào tâm hồn nhà thơ, bởi vậy phong cách thơ Anh Thơ đã chuyển đổi rõ rệt, điều ấy thể hiện ở truyện thơ Kể chuyện Vũ Lăng (1957) và ở tập thơ Những cánh chim câu, in sau đó vài ba năm.
Trở lại với bài thơ Tiếng chim tu hú, điều ta nhận thấy đầu tiên là, nhà thơ đã sử dụng thể thơ ngũ ngôn một cách thật đắc địa. Không gian bài thơ rất rộng, thời gian bài thơ rất dài, chí ít cũng là mười năm, bởi vậy, tốc độ cán lướt của bài thơ phải rất lớn, chi tiết hình ảnh phải chắt lọc đến tối đa và đặc biệt là một trường liên tưởng cực lớn.
Bài thơ có bảy khổ thơ, được thành hai phần: Hơn ba khổ thơ đầu để nói những chuyện trước ngày cách mạng bùng nổ, hơn ba khổ thơ sau để nói về cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Việc phân chia như vậy cho ta thấy sự chủ động và tự ý thức rất rõ của tác giả khi đặt bút viết bài thơ này.
Mở đầu là nỗi nhớ, nỗi nhớ quay quắt một dòng sông, một triền đê, một mùa vải chín và tiếng chim tu hú còn vang vọng khôn nguôi trong tiềm thức:
Nắng hè đỏ hoa gạo
Nước sông Thương trôi nhanh
… Bỗng tiếng chim tu hú
Đưa từ vườn vải xa
Quả bắt đầu chín lự
Ngọt như nỗi nhớ nhà
Tiếp đến là nỗi nhớ cụ thể hơn, nỗi nhớ về người cha tóc bạc, đang từng ngày “chống gậy bước lên đồi”, hướng ánh nhìn về một nơi xa khuất, nơi ấy có người con gái thương yêu, người con gái bé bỏng “má hồng con đang tươi”:
Cha già thêm tóc bạc
Chống gậy bước lên đồi
Thương một mùa vải đỏ
Má hồng con đang tươi
Có chàng qua dạm ngõ…
Nỗi nhớ ấy là nỗi nhớ ngọt ngào của người thiếu nữ đang thời xuân sắc, người thiếu nữ vừa bước vào độ tuổi “cập kê”, e ấp nhìn qua rèm bóng những chàng trai tới nhà “chạm ngõ”. Tất cả sự thanh bình ấy được thể hiện qua những câu thơ trong trẻo, giản dị mà long lanh như ánh ban mai của một ngày sắp vào hè:
Quả bắt đầu chín lự
Ngọt như nỗi nhớ nhà
Ta chưa từng thấy trong thơ Việt Nam trước đó một câu thơ nào tả về nỗi nhớ nhà tương tự hay hao hao như vậy. Thông thường, nỗi nhớ nhà gợi cảm giác buồn, lạnh, cô đơn, vì thế nó nghiêng về phía xót xa, cay đắng chứ không “ngọt”. Ngọt như nỗi nhớ nhà là một sáng tạo rất mới, rất đặc thù và rất điển hình của Anh Thơ. Đó là nỗi nhớ của người “chủ động xa nhà”, người tự ý thức được vì sao mình phải xa nhà, là nỗi nhớ của người dấn thân, của người chiến sĩ. Nỗi nhớ ấy càng ngọt ngào hơn khi vấp phải tiếng chim tu hú, vấp phải mùa vải “bắt đầu chín lự”. Từ cái ngọt ngào của quả vải chín mà liên tưởng tới sự ngọt ngào của nỗi nhớ nhà, có lẽ chỉ có nhà thơ mới có được, lại nữa, phải là một nhà thơ nữ mới có được.
Đến đây, bài thơ chuyển sang đoạn hai thật là đột ngột, đột ngột đến sững sờ. Bước chân “chàng trai qua dạm ngõ” dường như còn đâu đó ở ngoài sân, ngoài ngõ kia, bỗng chiến tranh ập tới, vô lý đến kinh hoàng, đến không sao tin nổi. Thế là bao nhiêu thanh bình, bao nhiêu hy vọng về hạnh phúc lứa đôi đành tan biến. Người thơ - cô gái xuân thì ấy - đành chấp nhận một thực tế phũ phàng:
Con đi đêm súng nổ
Vải rụng bến sông trôi…
Những quả vải vừa chín tới đã rụng xuống và trôi bên bến sông loạn lạc. Thi ảnh ấy nói được rất nhiều về biến động của thời cuộc, về số phận của con người, nhất là cuộc đời của một cô gái, một thân gái dặm trường:
Rồi tiếng chim tú hú
Vang suốt những mùa hè
Con đi dài thương nhớ
Mười năm chửa về quê…
Tu hú ơi, tu hú!
Kêu hoài chi vườn xanh?
Lời thơ như kể chuyện, cứ thong thả điệp nhịp qua thời khắc của chiến tranh, nhưng tình thơ như lắng đọng, dồn nén và nức nở như nước mắt ngập ngừng đầy sau tiếng chim tu hú: Tu hú ơi, tu hú/ Kêu hoài chi vườn xanh?.
Mười năm chiến tranh, trận mạc, chưa đi hết một mùa tu hú gọi. Vậy thì, lại còn phải đi, đi nữa:
Ta còn đi, đi nữa
Như dòng sông trôi nhanh
Nhắn với chim tu hú
Cha già vui đợi mong
Mười năm trong khói lửa
Má con dù nhạt hồng
Nhưng bao nhiêu em gái
Đẹp lên mùa vải chín bên sông
Cuộc dấn thân của người thơ vào lý tưởng của mình thật gian truân và vô cùng khắc nghiệt, nhưng vì lý tưởng, có niềm tin vào tương lai, những câu thơ vẫn tràn đầy hy vọng. Khi biết, sau lưng mình, sau cuộc dấn thân của mình, sẽ còn biết bao người nối tiếp, nhà thơ bỗng thấy lòng sảng khoái một niềm tin vào tương lai:
Nhưng bao nhiêu em gái
Đẹp lên mùa vải chín bên sông!
Cả bài thơ, từ đầu đến đây đều là thơ năm chữ, vậy mà đến câu cuối cùng, câu kết, nhà thơ bỗng hạ một câu thơ bẩy chữ, như sự dài rộng của tiếp nối bao la: Đẹp lên mùa vải chín bên sông!. Có phải là ngẫu nhiên kỳ diệu.
Đọc bài thơ Tiếng chim tu hú của nữ sĩ Anh Thơ, bỗng dưng tôi nhớ tới những tiếng chim tu hú khác. Lạ nhỉ, sao tiếng chim tu hú lại vào trong thơ Việt nhiều đến vậy? Trước hết, đó là tiếng chim tu hú trong thơ Tố Hữu, tiếng chim của lao tù đòi giải thoát:
Ta nghe hè rộn bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ơi
Ngột làm sao, chết mất thôi
Tiếng chim tu hú ngoài trời vẫn kêu
(Từ ấy)
Rồi đây nữa, tiếng chim tu hú trong những câu thơ nhớ thương khắc khoải của Bằng Việt:
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế
Tu hú ơi không đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa…
(Bếp lửa)
Có tiếng hót của loài chim nào lại gợi nhớ thương và hy vọng như tiếng kêu của chim tu hú? Cái loài chim luôn bị coi là hạ đẳng, là “tu hú đẻ nhờ” kia, sao bỗng dưng trở thành duyên nợ của các nhà thơ? Lạ thay!
Phải chăng, đấy là tiếng lòng của hy vọng? Và nữ sĩ Anh Thơ đã biết dùng tiếng hót của hy vọng ấy để viết bài thơ hy vọng của đời mình? Chị nói với chúng ta niềm tin yêu một thời, niềm tin yêu một đời vào hy vọng:
Tu hú ơi! Tu hú
Kêu hoài chi vườn xanh?
Câu hỏi ấy cũng là một trả lời. Đó là sự trả lời của thi nhân, của niềm tin và hy vọng!n
Hà Nội, xuân 2005
(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)
Love mickey,