Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Truyền thuyết Mai An Tiêm - Vài nét tiếp cận xã hội thời đại các vua Hùng

0 trả lời, 9 lượt xem — Trang 1 / 1
Truyền thuyết Mai An Tiêm - Vài nét tiếp cận xã hội thời đại các vua Hùng

Trần Đại Hải - Trần Cao Sơn

Trong kho tàng văn hoá Việt Nam, truyền thuyết giữ một vị trí quan trọng, một lớp vỏ bọc nhân ái, mềm mại và bền chặt quan niệm của người xưa trước các hiện tượng tự nhiên và xã hội, trong đó có truyền thuyết Mai An Tiêm và sự tích Quả dưa hấu.
Bên cạnh cái mẫu số chung : Mai An Tiêm và sự tích Quả dưa hấu cũng chỉ là truyền thuyết như ngàn vạn truyền thuyết khác, thì ở đây nó còn có một đặc trưng rất riêng gắn với địa danh , ngọn núi , dòng họ có thực và mảnh đất Nga Sơn được biểu tượng như thánh địa của dòng họ này. Truyền thuyết - dã sử - lịch sử hoà quyện trong nhau.

Trong tất cả các dòng họ đang hiện hữu ở Việt Nam thì có lẽ dòng họ Mai có một niềm tự hào lớn nhất, là dòng họ duy nhất có nguồn gốc rõ ràng từ Vua Hùng.

Đôi khi, chúng ta thường lướt qua những chi tiết tưởng như vụn vặt để tiếp cận cái bề mặt của cốt truyện, đó là vì sao ngọn núi có tên Mai An Tiêm, vì sao Nga Sơn có dưa đỏ và vì sao có nhiều cư dân mang dòng họ Mai như vậy. Câu chuyện còn nhằm ca ngợi tính lao động cần cù của một điện hạ người Việt xa xưa. Cái triết lý trời có mắt, ở hiền gặp lành, lao động là vinh quang... cũng rậm rịch vây quanh cốt truyện. Chúng ta đã không hiểu đúng thâm ý sâu xa mà người xưa muốn nhắn nhủ thông qua truyền thuyết đầy kịch tính này.

Thời đại các vua Hùng tồn tại bao nhiêu năm, có mấy chục triều vua, chăn dân, trị nước ra sao v.v thật sự chưa biết chính xác. Chỉ biết khi Trung quốc có Thần Nông, Phục Hy, Nghiêu Vương, Thuấn Đế ... thì ở Việt Nam đã có vua Hùng cai quản, giang sơn riêng bờ cõi. Bằng sự thất bại của An Dương Vương Thục Phán gắn với oan tình Mỵ Châu - Trọng Thuỷ, nước Việt mất vào tay ngoại bang. Thế có nghĩa là, trước đó, các vua Hùng gắn với giang sơn cẩm tú đã được minh định rạch ròi.

Truyền thuyết cũng làm chúng ta chạnh lòng về tình người , về đạo quân - thần, phụ - tử thuở bình minh của dân tộc. Của biếu là của lo, của cho và của nợ. Nếu Mai An Tiêm nói câu này với vua cha là thật thì cũng có nghĩa ngay từ thuở Hồng Bàng tít mù đã có sự biếu, sự cho, sự lo, sự nợ vây ráp lẫn nhau, nhức nhối trong mối quan hệ người với người.

Cha của Mai An Tiêm chỉ là một vị vua, không vì hành vi cá biệt của ông mà khái quát cả một thời vàng son của dân tộc. Hoàn toàn đúng. Có điều từ câu chuyện truyền tụng trong nhân gian và in ấn công khai trên sách báo, giấy trắng mực đen suốt bao đời nay cho lớp trẻ học tập khi mới chập chững đến trường lại hàm chứa quá nhiều uẩn trắc.

Mâu thuẫn về quan niệm biếu - cho - lo - nợ trong thời Hùng Vương đã đạt đến đỉnh cao, là sự xung đột quyền lợi, quyền uy. Đó là đặc trưng mang tính bản chất của một nền chuyên chế phương đông ngay từ buổi khai sinh.

Mấy chục năm gần đây, rất nhiều quan điểm tranh luận về thời Nghiêu - Thuấn Trung Hoa. Đại bộ phận dân chúng, thông qua các sử tích để lại đều ca ngợi ba vị vua hiền gắn với thời trị nước hoàng kim của họ. Có người nghĩ khác hơn, cho rằng thời ấy chưa có sử gia ghi chép, toàn nghe theo truyền khẩu , sự thật chắc không hoàn toàn như thế v.v.

Tôi nhớ hồi nhỏ cha tôi có đọc cho tôi nghe một câu đối liên quan đến hai vị vua Tàu vừa nêu trên do một nho sĩ nào đó viết ra thời trước. Câu đối vừa được hiểu theo nghĩa Nôm, vừa được hiểu theo nghĩa Hán, hiểu theo cách nào cũng có lý, mặc dầu nghĩa của nó lại trái nghịch nhau.

Thượng ung tai hạ ung tai ỉa đầu lại vương Nghiêu chí đức

Quân tắc cổ thần tắc cổ đái hàm quan đế Thuấn minh công

Nghĩa Nôm của câu đối thì đã rõ, vừa tục vừa tinh, tỏ ý khinh bỉ bọn vua quan, không ngoại trừ ông Nghiêu ông Thuấn thời xưa. Theo nghĩa Hán thì được hiểu ngược lại, tức là cả quan trên, quan dưới, cả quân cả thần đều phải hướng về các tấm gương của người xưa mà học tập, mà noi gương, đặc biệt là chí đức công minh của hai vị Nghiêu -Thuấn siêu phàm . Thế mới biết cái thâm thuý của chữ nghĩa. Mục đích của câu đối là ở chỗ thời Nghiêu -Thuấn xa vời, khen cũng được mà chê cũng chẳng sao, nó chả có căn cứ nào cho sự đánh giá. Người ta mượn hai cụ xài chơi, cùng hai cụ chửi lũ quan tham lại nhũng.

Cách nhìn về Nghiêu - Thuấn là của người xưa. Chúng ta có cách nhìn về thời đại các Vua Hùng trọn vẹn hơn, công minh hơn.

Truyền thuyết Mai An Tiêm và Quả dưa đỏ vẫn tồn tại. Thông qua các khía cạnh chân thực từ truyền thuyết, chúng ta tiếp cận từng bước tìm hiểu xã hội Việt Nam và cơ cấu Nhà nước Việt cổ, âu cũng là cái hay.

Thứ nhất: Từ truyền thuyết Mai An Tiêm ở Nga Sơn đến Thục Phán An Dương Vương đưa Mỵ Châu chạy nạn ra tận bờ biển Nghệ An, cho phép chúng ta hình dung về một nước Việt rộng lớn bổ dọc phương Nam, ít nhất có thể kéo dài đến tận Đèo Ngang, Đèo Hải Vân và xa hơn nữa,

Thứ hai: Tư tưởng trị nước kiểu Khổng Giáo bên Trung Quốc đã có ngay trong lòng thời đại Vua Hùng, nó được sinh thành và tồn tại tự nhiên từ nền chuyên chính tập quyền. Chẳng cần phải chờ đến Tứ thư -Ngũ Kinh bên Tàu tràn vào mới có. Cơ chế xã hội sản sinh ra triết lý tương xứng, đồng thuận.

Nhà nước thời Hùng Vương là thiết chế phong kiến tập quyền nguyên thuỷ. Vua là đấng tối thượng, là kẻ thống trị muôn dân. Tư tưởng trung hiếu cũng từ đó mọc ra, lớn mạnh và đầy sức kiềm toả. Vua bắt chết, thần phải chết. Dù là cha con nhưng với Vua Hùng thì Mai An Tiêm là đạo quân thần, không thể chống lệnh. Vua bắt đi đầy, phải đi; vua cho gọi về, phải về.

Song nhà nước phong kiến thời kỳ này chưa đạt đến độ hoàn chỉnh, chưa có sự thống nhất từ trên xuống dưới và phủ kín mọi vùng miền . Một sự hỗn dung các hình thái xã hội trong cùng một lãnh thổ quốc gia . Bên cạnh thiết chế hướng về vua là chủ đạo thì kiểu thiết chế bộ lạc nguyên thuỷ, cộng đồng thôn xã biệt lập cùng hiện hữu.

Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đó là vấn đề cơ bản của triết học Mácxít. Một nền đế chế phong kiến tập quyền với yêu cầu phát huy sức mạnh chỉ có thể có khi có một hệ ý thức tương ứng làm công cụ. Đó là thuộc tính, là phần hồn của chuyên chế tập quyền.

Với những cứ liệu lịch sử thu lượm được, tuy không nhiều, cũng đủ căn cứ về sự tồn tại xã hội Việt cổ thời Vua Hùng, đó là một đế chế phong kiến sơ khai. Triết lý trị dân cũng mang hình bóng Nho giáo như quốc gia láng giềng phương Bắc cùng thời. Có điều nó được sản sinh từ đất Việt, do người Việt tạo ra, không phải hàng ngoại nhập.

Nếu cho rằng chỉ từ thế kỷ 11-12 trở đi, dưới thời Lý - Trần với nền phong kiến trung ương cường thịnh sau nghìn năm Bắc thuộc, Nho giáo mới xâm nhập vào Việt Nam và phát huy ảnh hưởng, thì thật là một sai lầm. Quan niệm Nho giáo máy móc theo kiểu chữ nghĩa thư nọ, kinh kia gắn với các ông Khổng Khâu -Mạnh Kha thì có thế đúng phần nào. Còn nếu hiểu Nho giáo như một bản chất, một linh hồn của chuyên chế phong kiến tập quyền thì dưới thời Hùng Vương đã có sẵn cả đống.

Sau khi nước Âu Lạc bị bố con ông Thục Phán đánh mất vào tay Triệu Đà, nước ta biến thành nơi không có thể chế chính trị nào hết, mà chỉ còn là một vùng đất vô chủ dưới sự giám sát của bọn lục lâm, thảo khấu Tích Quang- Nhâm Diên - Mã Viện - Tô Định ... cùng đám lính dõng biên ải Trung Hoa, thả sức đào bới của cải và sức người bản địa. Các triết lý trị nước thời Hùng Vương cũng theo đó mà bay vào mây mù quá khứ.

Nền phong kiến Trung ương tập quyền trở lại thì triết lý phong kiến cũng lù lù theo sát gót. Có điều lần này nó vào dưới dạng có sách, có chữ, có chương, có mục , có nhãn mác, đai kiện, được các vị Nho sĩ biên soạn mang thương hiệu Nho giáo.

Nếu không có một cơ địa xã hội, một tồn tại xã hội tương thích kiểu lý - Trần - Lê thì đến cụ sư tổ nhà ông Khổng ông Mạnh có gánh cả gánh triết lý vào đất Việt cũng sẽ trở thành đống giấy lộn, tìm đường mà cuốn xéo.

Xây dựng một triết lý mới hoặc áp dụng một triết lý, một học thuyết cho một tồn tại xã hội không phù hợp hoặc chưa đủ sức chấp nhận và dung dưỡng là cách đi ngược, đôi khi trở thành lực cản cho sự phát triển tự nhiên của tồn tại xã hội vốn có. Những dích dắc lịch sử và xã hội nhiều khi cũng từ đó mà ra.

Tính tương đồng văn hoá vùng địa lý Bách Việt cổ xưalà sự tương đồng hồn nhiên do quá trình vận động của lịch sử, là tài sản chung của cư dân cùng tạo ra, họ có quyền bảo tồn, phát triển và không phải băn khoăn về sự giống hay không giống nhau. Nhiều quan điểm cực đoan thường hay quy chiếu khái niệm đồng hoá, thôn tính cho thời kỳ này một cách máy móc đã vô tình đánh mất cái hiện thực đáng trân trọng mà con người cùng nhau gây dựng từ trước đó hàng vạn năm. Ngay Châu Âu văn minh là vậy mà chỉ sau khi đế quốc La Mã suy tàn, các quốc gia mới dần dần hình thành và phải mất hàng thế kỷ đổi thay chuyển dịch mới tạo được sự ổn định về lãnh thổ, ngôn ngữ và văn hoá cho mỗi quốc gia. Tính tương đồng tự nhiên của các quốc gia Châu Âu là sản phẩm của lịch sử Châu Âu, không nên dùng các thiên kiến chính trị can thiệp vào cái mẫu số tương đồng ấy.

Nếu nghiên cứu những nét văn hoá vùng Trung Hoa sát Việt Nam thì thấy nhiều điểm giống nhau đến kỳ lạ. Nó xuất hiện trước khi con người hình thành ý đồ thôn tính và ý niệm đồng hoá. Khó ai biết rằng ở cái thời xa xăm ấy Hoa đồng hoá Việt hay Việt đồng hoá Hoa trên vùng Tây Nam Hoa Hạ lam chướng nghìn trùng này. Đây chính là địa giới hoang sơ mà anh em Lưu -Quan -Trương thời Tam Quốc phải đành lòng chấp nhận để xây dựng lên Nhà nước Tây Thục hồi đầu công nguyên. Cả một vùng đất nghèo nàn và lạc hậu cận kề Việt Nam đâu phải là sức mạnh để đồng hoá một dân tộc có nền văn minh Sông Hồng phát triển ở trình độ cao.

Khi có sự xâm lược chính thức Việt Nam cách đây hơn 2000 năm thì nền văn hoá Việt Nam mang bản sắc riêng về cơ bản đã ổn định. Những dấu ấn Văn hoá Việt cổ trên đất Trung Quốc hay những dấu ấn văn hoá Trung Hoa trên đất Việt mà chúng ta nhận thấy âu cũng là sự giao thoa, cho nhận lẫn nhau từ mấy ngàn năm trước.

Nước mất nhưng làng không mất; mất phép vua nhưng còn lệ làng. Mỗi làng Việt được hình thành trong quá trình thiên di xuống Châu thổ Sông Hồng đã có một phong cách riêng. Tính cố kết bền vững và mang đặc trưng như một cái File lưu giữ huyền diệu với một Password mật mã độc đáo không dễ dàng thâm nhập và hoá giải. Chính Trung Hoa cũng không hiện diện mô hình làng xã bền chặt này. Đấy chính là căn cứ cho sự trường tồn mãnh liệt mà sau gần một nghìn năm Bắc thuộc, nó vẫn đủ sức vươn lên giành lại dân tộc. Đó chính là trình độ văn minh của Nhà nước thời đại Vua Hùng.

Cái chúng ta cảm nhận được từ kho tàng văn hoá mà cha ông gửi lại thông qua truyền thuyết trên đây, âu cũng là những bài học quý trong việc xây dựng nhân cách, đạo làm người, làm cha, trong cách ứng xử các mâu thuẫn cá nhân và xã hội.

Đồng thời, với những chi tiết lịch sử hồn nhiên, truyền thuyết đã cung cấp cho chúng ta những chứng tích về xã hội Việt Nam thời Hồng Bàng; đó là một quốc gia- dân tộc, một Nhà nước có văn hoá và chính trị độc lập vào loại sớm nhất trên thế giới.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0