Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Diệu kỳ lục bát

0 trả lời, 10 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-29 22:11:45mickey>
Diệu kỳ lục bát

Hoài Anh

Nếu ai hỏi dân tộc ta có những món gì là đặc sản, thì tôi xin phép được kể bên cạnh cốm, bánh chưng, giò lụa, bún ốc, nước mắm cà cuống... một món nữa, ấy là thể thơ ca lục bát.

Đọc Truyện Hoa Tiên và Truyện Kiều, Cao Bá Quát viết: Sống ở đất này, có thể bỏ tiếng quốc ngữ không? Không bỏ được! Ôi! Người xưa đã đem tâm trí đúc chuốt thành lời hay ý đẹp, cốt để chắp lông nối cánh cho văn chương của ta, mà ta lại coi thường được sao?

Hoa Tiên... văn thì kỳ, nghĩa thì chính, nói lý thì rành mạch, không bế tắc; nói thế thì lắt léo, nhưng vẫn ở trong đạo thường; đến như tan hợp, buồn vui, vị trí cảnh ngộ, thực là éo le kỳ lạ; lời nói thì bi tráng, văn viết thì trầm hùng, những cái đó khác nào như bụi bặm, cám bã mà đã đem hun đúc thành gạch ngói, giúp đỡ cho các tác giả, khiến cho sau đây truyện Kim Vân Kiều có thể xuất hiện.

Phạm Đình Toái, người nhuận sắc Đại Nam Quốc sử diễn ca viết: Thể thơ lục bát đâu cũng quen thuộc không hẹn mà giống nhau, tao nhân mặc khách mở miệng nên thơ, gái dệt trai cày nói lời hợp điệu, cho đến câu hát của xóm làng, lời đùa của con trẻ, cũng không gì là không nhịp nhàng hợp vần. Có người hoàn toàn dùng văn tự (chữ Hán) làm bài ca cũng dùng thể thơ ấy, người Trung Quốc sang ta, thấy đọc ai cũng phải khen, thế thì đối với mọi người, thể thơ ấy tiện lợi có phải nhỏ đâu. Ôi! trời đất còn luôn, non sông không đổi. Có nhân vật cõi bờ ở vùng sao Dực, sao Chẩn, tức phải có thanh âm phong tục của xứ Viêm bang, có thanh âm phong tục tức phải có từ điệu ca ngâm thì thể thơ lục bát nhất định không thể thay đổi đi được.

Có lẽ trên thế giới ít có một thể thơ ca nào lạ lùng như thể lục bát. Chỉ cần hai câu cũng đủ thành một bài thơ ngắn gọn hơn cả thể hai-ku của Nhật Bản:

Ước gì sông hẹp một gang

Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi.

Mà muốn kéo dài thì có thể kéo dài vô tận, không kém gì những anh hùng ca của Hy Lạp, những trường ca của ấn Độ. Nhưng những anh hùng ca, trường ca kia có khi còn phải thay đổi thể thơ, còn Truyện Kiều dài hơn ba ngàn câu chỉ dùng độc một thể lục bát mà vẫn không đơn điệu, trái lại, biến thành một bản nhạc giao hưởng, bổng trầm, ngân nga, réo rắt, khi hùng tráng nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau, khi nỉ non nghe ra như oán, như sầu, chẳng khác gì tiếng đàn của nàng Kiều.

Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như nước suối mới sa nửa vời

Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.

Thơ lục bát dẫu cho có một khởi đầu và một kết thúc nhưng không nhất thiết người ta phải lần thứ tự từ sợi chỉ đầu đến sợi chỉ cuối mà có thể bắt đầu từ quãng nào cũng xong, miễn là nó phù hợp với tâm trạng của người đọc trong từng khoảnh khắc một. Cũng như một dòng sông dần bắt đầu từ một nguồn suối và cuối cùng hòa nhập với biển cả nhưng người ta có thể thả thuyền ở bất cứ khúc sông nào, kề bên mỗi bãi dâu hay một cồn cát... Mùa xuân hiện lên với đầy đủ màu sắc trong “Cỏ non xanh rợn chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” và mùa thu chợt về trong âm hưởng xao xuyến “Vilô san sát hơi may, một trời thu để riêng say một người”... Tiếng cười và tiếng khóc, lời chửi và lời than, tâm sự u uẩn và thái độ thô bạo đều tìm được cách diễn tả thích hợp ở đây. Ta hãy thử so sánh tiếng quát của Tú Bà:

Con kia đã bán cho ta,

Nhập gia phải cứ phép nhà ta đây.

Lão kia có giở bài bây,

Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe.

Cớ sao chịu ép một bề,

Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao?

Có phải mỗi thứ đều nhấp nhổm cựa quậy muốn thoát ra khỏi khuôn khổ của dòng thơ hay không? Còn tiếng than của Thúy Kiều:

Mất người còn chút của tin,

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy so tơ phím này.

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.

Thì ngược lại, mỗi chữ đều như chìm xuống tận đáy sâu của nỗi đau xót để rồi đột ngột bùng lên trongmột tiếng thét:

Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi! thiếp đã phụ chàng từ đây!

Có khi cả tiếng chửi và tiếng than quyện chặt vào nhau không gỡ ra được nữa:

Chém cha cái số hoa đào
Cởi ra rồi lại buộc vào như chơi.

Lục bát có thể diễn tả tình cảm u buồn, cũng có thể diễn tả tình cảm trong sáng; có thể đi sâu vào đời sống nội tâm, cũng có thể miêu tả cảnh sắc, con người, sự việc, hành động; có thể tự sự cũng có thể đối thoại; có thể trữ tình, hùng tráng cũng có thể trào phúng, khôi hài... Một thể tài kết hợp được nhiều mặt, nhiều chức năng, nhiều sắc thái thẩm mỹ như thế, quả là thích hợp để phản ánh cuộc sống có tính chất sử thi cũng như chứa đựng nhiều kịch tính với cả cái bi cái hài xen kẽ với nhau.

... Do cấu tạo của nó, lục bát gồm có hai câu sáu chữ và tám chữ, chữ thứ sáu của câu sáu bắt vần với chữ thứ sáu của câu tám, rồi chữ thứ tám của câu tám lại bắt vần với chữ thứ sáu của câu sáu ở khổ sau, cứ thế mà lần đi mãi. Những vần gọi nhau như trống gọi mái, tưởng chừng như từ một nguyên lý đầu tiên đẻ ra âm và dương rồi cứ thế mà sinh nở lần lần... Những câu lục bát đan nhau như sợi dọc sợi ngang trên một khung cửi để dệt tấm vải của đời kết liền những cảnh, những việc, những ý, những tình lại với nhau thành một thể toàn vẹn không tách rời ra được. Những câu lục bát đan nhau như nan tre đan lóng mốt lóng hai, sợi bắt lên, sợi đè xuống, giữ cho cả bài thơ chặt chẽ, không xộc xệch. Nương theo hình thức tự sự trữ tình, thể thơ lục bát có thể dẫn người ta đi từ không gian này đến không gian khác, từ thời gian này đến thời gian khác, khi nổi lên trên bề mặt của hiện tượng, khi lặn xuống tận đáy sâu của bản chất, khi đi dọc theo mọi nỗi thăng trầm của một kiếp người trong Truyện Kiều, khi đi dọc theo mọi nỗi thăng trầm của một đất nước trong Đại Nam Quốc sử diễn ca. Việt Bắc của Tố Hữu, cũng như cả chặng đường dài miền Nam đánh Mỹ được thu vào trong bài Nước non ngàn dặm (thể song thất lục bát). Sức chứa đựng của thể thơ lục bát quả là lớn lao, nó có thể dung hợp được cả chất thơ, chất truyện, chất kịch, chất bình luận... mà vẫn tự nhiên, nhuần nhuyễn.

Đôi ta cách một con sông,

Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang.

Chỉ cần ngả đôi dòng thơ lục bát là có thể nối liền mọi khoảng cách giữa mỗi miền đất, mỗi thời đại, mỗi tấm lòng, mỗi nỗi niềm tâm sự. Đó là tiếng gọi đò qua thời gian của Tú Xương:

Vẳng nghe tiếng ếch bên tai,

Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.

Đó là tiếng ru của người mẹ, tiếng nhắn gửi của người yêu, tiếng hát hòa vào tâm hồn dân tộc... Lục bát đi đến đâu quyện chặt với giọng nói, tính cách, với nhịp điệu tình cảm của người dân ở đấy. ở Bắc Bộ người ta ru:

Con ơi, con ngủ cho lành,

Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi.

ở Nghệ Tĩnh:

Ru em em ngáy cho muồi,

Để mẹ đi chợ mua nồi nấu ăn.

ở Quảng Trị, Thừa Thiên:

Chiều chiều ra đứng vườn sau

Ngó về quê mẹ, ruột đau chín chiều

ở Quảng Nam:

Ngó lên Hòn Kẽm đá dừng
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi!

ở Nam Bộ:

Ai về Giồng Dứa qua truông,

Gió lay bông sậy, bỏ buồn cho em.

Đọc câu ca dao sau đây ai chẳng hình dung ra quang cảnh đường xá giao thông của thời xưa với cái hơi văn kéo dài hun hút:

Đường dài ngựa chạy cắt bay,

Anh đi về Huế, mỗi ngày một xa.

Hay đọc những câu sau đây, ai chẳng lây cái vui hồn nhiên mà hóm hỉnh của người dân Bình Định:

Ngó ra ngoài biển mù mù,

Thấy ba ông Phật che dù nấu cơm.

Một ông xách chén đi đơm,

Một ông: Mô Phật, nồi cơm mới vần.

Người ta đã nói nhiều đến sự linh hoạt của nhịp thơ lục bát với nhịp 2-2-2, 2-4, 3-3 hay 2-2-2-2, 3-3-2, 3-5...

Có khi thêm bớt một hai chữ vào tạo được những nhịp mới lạ:

Đừng ham hốt bạc ghe chài

Cột buồm cao, bao lúa nặng, tấm đòn dài khó đi.

Hay:

Nho nhỏ như ai, chớ nho nhỏ như em đây chặt dạ bền lòng, Dẫu cho nước sông Đồng Nai có chảy cạn, đá Đồng Nai có bị mòn, thì thủy chung như nhất, trước sau em vẫn sắt son một lời nguyền.

Hình như trên cái thân cây có hai chạc chính là hai cặp vần, có thể mọc thêm bao nhiều cành lá cũng vẫn được. Chính vì thế mà từ lục bát biến thể đã thành ra bao nhiêu điệu hò, lý, dân ca, hát chèo, hát hội... đi đến chỗ thơ nhạc hòa lẫn với nhau.

Thể lục bát dung nạp được nhiều cá tính hết sức khác nhau, mà vẫn làm nổi bật dấu ấn của từng người một. Có thơ lục bát của Nguyễn Du trang trọng, đằm thắm; có thơ lục bát của Tú Xương phóng khoáng, ỡm ờ; có thơ lục bát của Tản Đà tiêu tao lai láng; có thơ lục bát của Huy Cận man mác, bâng khuâng; có thơ lục bát của Nguyễn Bính mộc mạc, đậm đà; có thơ lục bát của Trần Huyền Trân trầm hùng, da diết...

ở thời đại ta, câu thơ lục bát cũng mang tầm vóc lớn lao của cuộc sống, cái khí phách hào hùng của thời đại: Chập chồng Thác Lửa, Thác Chông, Thác Dài, Thác Khó, Thác Ông, Thác Bà; Thác bao nhiêu thác cũng qua, Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời (Tố Hữu). Câu thơ ở đây đã phá vỡ cái nhịp điệu thông thường để hòa vào đà chảy xiết của dòng sông vận mệnh dân tộc, nhưng vẫn giữ được cái tư thế ung dung, phóng khoáng của tâm hồn Việt Nam: Đôi ta lên thác xuống ghềnh/Em ra đứng mũi để anh chịu sào (Ca dao). Thơ lục bát hôm nay vừa tiếp thu cái truyền thống nghìn đời, vừa nâng lên cho kịp tầm cao của thế kỷ: Mặt người vất vả in sâu, Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn. Đất nghèo nuôi những anh hùng. Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên. Đạp quân thù xuống đất đen. Súng gươm vứt bỏ, lại hiền như xưa (Nguyễn Đình Thi).

Không phải ngẫu nhiên mà khi nghĩ đến Bác Hồ, Lê Anh Xuân liên tưởng đến điệu lục bát:

Ngàn năm chung đúc tâm hồn ông cha,

Điệu lục bát, khúc dân ca,

Việt Nam là Bác, Bác là Việt Nam.

Bởi vì nói như Chế Lan Viên, Bác không những đã mang hình về cho Nước mà còn mang Hồn dân tộc về cho mỗi chúng ta.

Người đánh thứ hồn dân tộc đã về kia. Ta nghe bừng tỉnh dậy

Câu quan họ xẩm xoan xưa vứt ngã ba đường.

Điệu lục bát và màu nâu nơi ruộng rẫy

Bức tranh làng Hồ và cô Tố nữ dáng quê hương.

Hầu hết các nhà thơ hiện đại đều đã thử sức mình trong thể lục bát, một thể thơ tưởng chừng rất dễ mà lại rất khó, bởi vì nếu sa đà thì sẽ biến thành vè, mà nếu cầu kỳ thì lại thành thứ thơ bác học, không có hồn, không truyền cảm. Mấy khi chất tạo hình và chất trí tuệ được kết hợp chặt chẽ như trong thơ Nguyễn Gia Thiều: Cái quay búng sẵn trên trời/ Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm. Hay chất tình cảm và chất tư tưởng quyện vào đời nhau như trong thơ Cao Bá Nhạ: Thân sao như gánh hàng hoa/ Sớm qua chợ sớm, chiều qua chợ chiều... Làm thơ lục bát cũng như cưỡi con ngựa bất kham, nếu không vững tay cương thì rất dễ ngã. Nhất là dùng thể lục bát để thể hiện nhịp điệu của cuộc sống mới không phải là chuyện dễ dàng. Mặc dầu vậy, trong nền thơ hơn ba mươi năm qua, chúng ta đã có nhiều bài thơ lục bát hay. Người làm thơ không chịu để những hiện tượng bề ngoài che lấp mất cả tính độc đáo của mình: Em đi bắt ếch chiều nay/ Giỏ không thoắt đã đựng đầy tiếng kêu (Trần Đăng Khoa), từ cái giỏ là thể lục bát đã vang lên những tiếng nói riêng biệt. Và dấu ấn của từng nhà thơ cũng không bị nhòa lẫn. Những người sốt rét đang cơn/ Dấu chân bấm xuống đường trơn cỏ nhòe (Thanh Thảo).

Lục bát có khi trang nhã tiêu tao như thơ Nguyễn Khoa Điềm:

Yêu em yêu cả khoảng trời

Sương giăng buổi sớm, nắng dời chiều hôm

Tháng tư giông chuyển bồn chồn

Hạt mưa vây ấm, nỗi buồn cách xa...

Lục bát cũng có thể dân dã nghịch ngợm như thơ Nguyễn Duy:

Ta dù lếch thếch lôi thôi

Mong thơ sinh hạ cho đôi ba dòng

Cứ chìm nổi với đám đông

Riêng ta xác định ta không là gì

Cứ bèo bọt bước thiên di

Đưa chân lục bát mà đi loằng ngoằng.

Thơ lục bát hiện nay đã có sự phá thể mạnh dạn để gần với các thể thơ khác của dân tộc và thơ mới hiện đại.

Trương Nam Hương viết:

Xoan xẩm nghiêng nào

Cho ta mượn nón

Che nhờ chiêm bao

Cái hồn là của lục bát, nhưng cái xác lại gần với thể thơ bốn chữ.

Vân Long viết:

Tôi là một giọt của mênh mông

Chìm trong mưa lại ngỡ không là gì

ừ thì cứ tan đi

Để thôi khắc khoải vọng về phương em!

Cái xác là của lục bát biến thể nhưng cái hồn lại hòa tan vào thơ mới hiện đại.

Thơ lục bát ngày nay không thể phân biệt là “Chân quê” hay thành thị như thời Nguyễn Bính. Người “chân quê” ai bằng Lê Đình Cánh vậy mà nay bao từ ngữ hiện đại ùa vào thơ anh kể cả tiếng xe máy, xe thồ nổ lốp, vậy mà hồn thơ có mất đi đâu. Trong bài “Qua cầu Long Biên”, Lê Đình Cánh viết:

Ngồi buồn vá áo Tô Châu

Hằn đôi dép rách qua cầu Long Biên



Sông Hồng gió chếch mưa xiên

Xe thồ nghe lính phục viên thở dài

Phố phường nguýt sắn lườm khoai

Hàng rong ế khách rao vài mớ rau...



Đêm mơ tôi thấy mình giầu

Vi vu xe máy qua cầu Chương Dương

Ngoái nhìn ụ pháo dầm sương

Sông Hồng mây lửa còn vương trên đầu



Tàn canh tan giấc mơ giầu

Xe thồ nổ lốp trên cầu Long Biên!





(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0