<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-29 22:13:24mickey>
Thơ Cách mạng và kháng chiến - một dòng sông thơ rất mới và tuyệt đẹp
Võ Gia trị
Thơ ca Cách mạng, thơ ca kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là sự tiếp nối rực rỡ truyền thống thơ ca lâu đời của dân tộc Việt Nam trong một thời đại Cách mạng đầy giông bão và hào hùng bậc nhất với những mốc son chói lọi trong lịch sử Việt Nam như Cách mạng tháng Tám, chiến thắng Điện Biên Phủ và trận toàn thắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh tháng Tư năm 1975. Những chiến thắng vĩ đại đó luôn gắn với lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng và thơ ca Cách mạng, thơ ca chống Pháp và chống Mỹ cũng có sự đóng góp không nhỏ của những người lính vừa chiến đấu vừa làm thơ. Thông qua việc phản ánh trực tiếp những nội dung tươi mới và nóng hổi của cuộc sống hiện thực lịch sử vĩ đại, thơ ca Cách mạng và kháng chiến luôn tạo ra được những hình thức thể hiện vừa dung dị mới mẻ vừa hoành tráng hào hùng. Đó thực sự là một dòng sông thơ rất mới và tươi đẹp. Nếu thơ Mới được tạo nên bởi sự giao thoa mạnh mẽ với văn học Pháp, hay nói đúng hơn cuộc Cách mạng ra thơ Mới về bản chất là sự tiếp thu các yếu tố tốt đẹp của văn học phương Tây, nên vẻ đẹp của thơ Mới luôn chịu ảnh hưởng và phảng phất hương vị và giọng điệu thơ Pháp. Về một phương diện nào đó thơ Mới cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến thơ ca Cách mạng và kháng chiến ở giai đoạn đầu thông qua sự hiện diện trong đội ngũ của mình các tên tuổi sáng giá nhất của làng thơ Mới như Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Nguyễn Xuân Sanh, Lưu Trọng Lư... Nhưng đó chỉ là sự tiếp nối trên phương diện cách tân nghệ thuật về hình thức, còn về nội dung thực chất thì sự đổi mới của thơ ca Cách mạng, thơ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã diễn ra theo một chiều hướng khác, chiều hướng nội sinh với cường độ mạnh mẽ hơn gấp bội, đó là sự đổi mới trong phương pháp luận sáng tác, và hơn nữa đó là sự đổi mới thực sự được tạo nên từ chính sự đổi mới của cuộc sống xã hội trên đất nước Việt Nam từ nô lệ sang tự do, một cuộc sống hiện thực luôn không ngừng chuyển động và phát triển của những năm tháng trường kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cuộc sống đan cài giữa hòa bình và chiến tranh... đó là sự đổi mới về chất mang trong nó tiến trình phát triển có chiều sâu và một sức mạnh Phù Đổng của một dân tộc quật cường.
Nói đúng ra thơ ca Cách mạng và thơ ca kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã bước xa và mới hơn gấp nhiều lần so với điểm chuẩn là thơ Mới. Xét trên phương diện hình thức, thơ Mới được mở đầu bằng thể loại thơ tự do với bài Tình già của Phan Khôi và sau đó là bài Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ, như vậy có nghĩa là trong thơ Mới sự xuất hiện của thể loại thơ tự do còn là của rất hiếm. Nhưng với thơ ca Cách mạng và kháng chiến thì thơ tự do đã trở thành phổ biến, thêm nữa nhiều tác phẩm thơ ca vào loại hay nhất trong thời kháng chiến chống Pháp hầu hết đều được viết ở thể loại thơ tự do, một thể loại thơ có khả năng cách tân nghệ thuật ở mức cao nhất. Ví dụ như những câu thơ đầy cảm xúc cảm hóa kêu gọi nhân dân ta đứng lên kháng chiến chống Pháp: "Hỡi quốc dân Hỡi đồng bào" "Ai có súng dùng súng / Ai có dao dùng dao / Thấy Tây cứ chém phứa / Thấy Nhật cứ chặt nhào" của nhà thơ lãnh tụ vĩ đại Chủ tịch Hồ Chí Minh, câu thơ mang bóng dáng thơ tự do và nó hay bởi nó là lời kêu gọi được cất lên từ cuộc sống. Tiếp nữa là các bài Ta đi tới của Tố Hữu. Tình sông núi của Trần Mai Ninh. Đất nước của Nguyễn Đình Thi. Cửu Long Giang ta ơi của Nguyên Hồng. Đèo Cả của Hữu Loan. Đồng chí của Chính Hữu. Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm. Cách mạng tháng Tám của Trần Dần. Cha tôi của Lê Đạt. Từ đêm mười chín của Khương Hữu Dụng... đều là những bài thơ có sử dụng thần tình thể loại thơ tự do. Trong kháng chiến chống Mỹ cũng có rất nhiều những bài thơ hay được viết ở thể thơ tự do như Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân. Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm. Phan Thiết có anh tôi của Hữu Thỉnh. Lửa đèn của Phạm Tiến Duật. Tôi đi của Võ Quảng. Chúng tôi chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi của Nam Hà. Vang vọng tháng Tư của Lê Quang Trang; Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ... và đặc biệt là hàng loạt trường ca ra đời trong thời kỳ chống Mỹ cũng đều được thể hiện phần nhiều dưới dạng thơ tự do với giọng điệu và bút pháp tung hoành. Đã có không ít nhà thơ kháng chiến hầu như chỉ sáng tác ở thể loại thơ tự do như Hữu Loan, Chính Hữu, Trần Dần, Lê Đạt và họ đã tạo được những giọng thơ thật sự mới và đặc sắc. Nguyễn Đình Thi là người đầu tiên có những ý kiến mang tính lý luận về thơ tự do, thơ không vần và trong thực tế ở thể loại này ông cũng là một nhà thơ có hạng. Như vậy, hầu hết các nhà thơ kháng chiến đều có những sáng tác trên thể thơ tự do để từ đó tạo nên những sáng tác tạo nên tính bứt phá vượt trội. Điều này rõ ràng cho thấy, chỉ trên phương diện hình thức nghệ thuật thôi, thơ ca Cách mạng, thơ ca kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã lớn bổng lên vượt hẳn so với thơ Mới. Có như vậy cuộc Cách mạng trong thi ca mà Hoài Thanh khởi xướng mới có ý nghĩa, mới đúng theo lẽ thường tình là con hơn cha là có phúc. Nói như thế không có nghĩa là hạ thấp thơ Mới, mà về bản chất là sự tôn vinh thơ Mới với vai trò cực kỳ quan trọng là khởi xướng cho sự cách tân nghệ thuật và đó cũng là một trong nhiều cuộc cách mạng trong thế kỷ 20 ở Việt Nam ta.
Nhưng sự đổi mới mạnh mẽ nhất của thơ ca Cách mạng và kháng chiến là sự đổi mới về nội dung, một nội dung mới hơn về bản chất so với thơ Mới ở chỗ không chỉ hiện đại và cách tân hơn, mà nó còn hiện thực và đặc biệt là mang sắc thái Việt Nam nhiều hơn. Ngay Nguyễn Bính, nhà thơ đồng quê nhất của phong trào thơ Mới, sau này cũng đã nhập vào dòng thơ kháng chiến nhanh hơn, chính là nhờ chất đồng quê đó. Việc phản ánh hiện thực cuộc sống luôn là mục tiêu hàng đầu của thơ ca Cách mạng và kháng chiến, một dòng thơ ca hào hùng mang đậm chất thời đại trải dài gần suốt thế kỷ 20 và đang bước cả sang thế kỷ 21 này. Đúng vậy, trong những năm đầu thế kỷ 21, không ít nhà thơ vẫn viết về những năm kháng chiến hào hùng như Nguyễn Đức Mậu, Bằng Việt, Trần Mạnh Hảo, Lê Thành Nghị... Và chính tôi, người viết bài này, cuối năm 2002 cũng cho ra đời tập thơ Giọt sương long lanh để kỷ niệm tròn 30 năm những ngày tháng sống và chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Như vậy đóng góp của thơ ca Cách mạng, thơ ca kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho nền thơ ca có lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc là những đóng góp vô cùng to lớn và sâu sắc về nội dung, tư tưởng và nghệ thuật, tạo cho nền thơ ca Việt Nam có được một cái nhìn hiện thực chân xác sinh động và vươn cao hơn theo tầm thời đại. Nhà thơ dường như được đứng ở tầm cao thời đại để: Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng / Trông lại nghìn xưa trông tới mai sau / Trông Bắc trông Nam trông cả địa cầu (Tố Hữu). Cuộc sống hiện thực sôi động của cả một thế kỷ kháng chiến oai hùng như ùa vào nhiều hơn, sinh động hơn trong thơ ca Cách mạng, trong thơ ca kháng chiến, đó là cái chất hiện thực lớn lao và nóng hổi nhất, là tiếng thơ của những năm tháng cả dân tộc lên đường ra trận: Có những ngày vui sao, cả nước lên đường, xao xuyến bờ tre từng hồi trống thúc (Chính Hữu) hay Đường ra trận mùa này đẹp lắm (Phạm Tiến Duật). Nền thơ đó hùng vĩ như tượng đài tạo nên hình ảnh nhân vật thời đại là người chiến sĩ như Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ (Lê Anh Xuân).
Thơ ca Cách mạng và kháng chiến ngay từ khởi nguồn của nó đã là một dòng thơ phong phú và sung mãn bởi được dựa trên cái nền vững chãi của truyền thống thơ ca Việt Nam. Trong những năm kháng chiến đã có cả một phong trào quần chúng sáng tác ca dao rộng lớn. Có thể nói đây là mảng sáng tạo tuyệt đẹp của thơ ca kháng chiến. Thêm nữa văn học kháng chiến trong giai đoạn đầu của nó cũng như sau này còn có sự đóng góp không nhỏ của hàng loạt các nhà thơ đến từ phong trào thơ Mới như Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Thế Lữ, Anh Thơ, Nguyễn Xuân Sanh, Vân Đài... họ đã bằng cả trái tim và tài năng nghệ thuật đến với Cách mạng với kháng chiến, để cùng các nhà thơ ở các thế hệ sau tạo nên sự tiếp nối tuyệt đẹp trong dòng chảy thơ ca của một thời đại Cách mạng. Nhiều nhà thơ có cuộc đời sáng tạo trải dài ở nhiều giai đoạn văn học từ thơ ca yêu nước đến thơ Mới sang những năm chống Pháp và chống Mỹ, ví dụ như Khương Hữu Dụng, Huy Cận, Tế Hanh, Nguyễn Xuân Sanh... Có người sáng lên từ thời thơ ca yêu nước đầu thế kỷ trước, có người được định danh từ cuộc Cách mạng thi ca do nhà phê bình Hoài Thanh khởi xướng và tiếp tục tỏa sáng và có những đóng góp không nhỏ trong cả giai đoạn kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ. Thực ra chỉ riêng sự hiện diện của họ trong đội ngũ đã là niềm vinh dự cũng như là nguồn cổ vũ lớn lao cho cả một nền thơ ca mới. Nhà thơ Huy Cận đến nay ngoài tám mươi vẫn làm thơ, ông là nhà thơ duy nhất của Việt Nam có được danh hiệu Viện sĩ của Viện hàn lâm thơ thế giới. Thâm Tâm là một cây bút có hạng trong làng thơ Mới, và trong kháng chiến chống Pháp ở chiến khu Việt Bắc ông cũng đã có thơ hay như Chiều mưa đường số 5. Còn như Tố Hữu, từ những năm 30 ông đã khơi nguồn tạo nên dòng thơ ca Cách mạng và cùng với năm tháng, trái tim thơ của ông luôn đập theo nhịp đời và nhịp đi lên không ngừng của Cách mạng. Nhà thơ Tố Hữu vừa từ giã chúng ta đầu năm 2003, tiếng thơ của ông là tiếng nói tâm tình giàu tính dân tộc, nghệ thuật thơ ông thấm sâu vào lòng dân, ông là nhà thơ chính trị hàng đầu trong thế kỷ 20. Còn nhà thơ Khương Hữu Dụng, người đã từng ngồi họa thơ với đại chí sĩ Phan Bội Châu, từ thuở đó, thơ Khương Hữu Dụng đã được ông già Bến Ngự ngợi khen. Cội nguồn thơ ông là tình yêu nước, là "Tiếng dân" trong những năm tháng lầm than mất nước, hồn thơ đó đã bừng sáng nhất trong thời chống Pháp với trường ca Từ đêm mười chín. Về già, thơ Khương Hữu Dụng càng đằm thắm, hóm hỉnh và tinh tế hơn. Cho đến nay, ông đang vượt qua ngưỡng 95 để đến với kỷ lục 100 tuổi trong làng thơ Việt Nam. Sự hiện diện về tuổi tác của ông luôn cho thấy Hội Nhà văn Việt Nam ta thật có cái phúc lớn biết bao. Cái phúc đó còn thể hiện ở các nhà thơ cao tuổi khác như Hoàng Cầm, Trần Lê Văn, Võ Quảng, Nguyễn Viết Lãm, Ngô Quân Miện, Gia Ninh... [1] những nhà thơ đã ở cái tuổi ngoài bảy tám mươi, những nhà thơ của những năm kháng chiến chống Pháp chống Mỹ oai hùng đó cho đến nay vẫn nguyên vẹn một tình yêu thơ ca ngời sáng.
Có thể nói thơ ca Cách mạng và kháng chiến là dòng thơ ca có sức sống mãnh liệt, có không gian và thời gian trải rộng và nền thơ ca đó đã được định vị bởi những tên tuổi và những tài năng sáng giá. Nhà thơ vĩ đại nhất của dòng thơ ca này, lãnh tụ Hồ Chí Minh, tiếp theo là các nhà thơ lớn Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Khương Hữu Dụng, Tú Mỡ, Vũ Cao, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Trần Dần, Lê Đạt, Thanh Tịnh, Quang Dũng, Trần Lê Văn, Trần Mai Ninh, Hoàng Lộc... Thơ ca trong kháng chiến chống Pháp là một mảng thơ đặc sắc nhuần nhị vừa giàu tính quần chúng vừa giàu tính tư tưởng, đó là tiếng thơ hào hùng giàu tính thẩm mỹ đã phản ánh sinh động được cuộc sống của những năm trường kỳ kháng chiến đầy gian khổ. Sang đến thời kỳ chống Mỹ, chúng ta đã có được cả một thế hệ nhà thơ đầy nhiệt tình cách mạng, sung sức trong sáng tạo, có tầm nhìn và bút lực đáng kính nể, như Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Thu Bồn, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ, Hữu Thỉnh, Giang Nam, Ngô Văn Phú, Vũ Quần Phương, Trần Mạnh Hảo, ý Nhi, Lê Quang Trang, Nguyễn Phan Hách, Trần Thị Thắng, Lâm Thị Mỹ Dạ, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Duy, Trúc Thông, Nguyễn Trác, Thanh Thảo, Hà Đình Cẩn, Vũ Duy Thông, Nguyễn Trọng Tạo, Anh Ngọc, Thanh Quế, Phạm Đức,... Và họ xứng đáng là những nhà thơ lớn, những con người được thời đại nâng tầm như sức mạnh huyền thoại được kể trong câu chuyện Thánh Gióng vậy. Thơ ca giai đoạn này sôi nổi mạnh mẽ và có nhiều tìm tòi bứt phá táo bạo. Phần đông các nhà thơ thời chống Mỹ cho đến nay vẫn đang là những cây bút sung sức trong sáng tạo. Họ cùng với lớp các nhà thơ trẻ hôm nay vẫn đang không ngừng tìm tòi sáng tạo tiếp tục làm giàu có thêm cho thơ ca Việt Nam.
Đặc biệt trong dòng thơ Cách mạng và kháng chiến đã hình thành được một mảng thơ tươi non đầy xuân sắc, đó là thơ thiếu nhi với những tài năng lớn như Võ Quảng, Phạm Hổ, Định Hải và những cây bút tiếp nối thực sự xuất sắc như Vũ Ngọc Bình, Phùng Ngọc Hùng, Nguyễn Hoàng Sơn, Nguyễn Đức Quang... Đó là một đội ngũ đáng quý vẫn đang miệt mài sáng tạo, vẫn đang tạo nên cho văn học Việt Nam một tương lai tươi sáng hơn. Có một nét thật đẹp trong làng thơ Cách mạng và kháng chiến là hầu hết các nhà thơ ngoài phần thơ viết cho người lớn còn có phần thơ viết cho thiếu nhi. Việc sáng tạo văn học thiếu nhi, cũng như việc gieo trồng những hạt mầm tình yêu thơ ca trong thiếu nhi đã và đang là công việc của mọi nhà. Đó là một nét truyền thống mới tốt đẹp của thơ ca Việt Nam được hình thành trong dòng thơ Cách mạng và kháng chiến. Thơ ca Việt Nam hôm nay, theo chúng tôi cần tiếp nối truyền thống thơ ca của cả dân tộc, trong đó có các di sản thơ ca hùng vĩ của những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ để từ đó có được những bước tiến xa hơn nữa. Với ý nghĩa đó, thơ luôn nằm trong dòng chảy của Cách mạng, vẫn đi trên con đường theo định hướng của Đảng là tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc. Tính Cách mạng trong thơ còn được thể hiện ở việc không ngừng đổi mới thơ trên bình diện hình thức nghệ thuật cũng như nội dung nghệ thuật ở quy mô ngày một rộng lớn hơn và trong những chiều sâu tư tưởng mới hơn, và từ đó kết tinh được nhiều kiệt tác hơn cho văn học Việt Nam./.
(Tạp chí Nhà văn)
Võ Gia trị
Thơ ca Cách mạng, thơ ca kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là sự tiếp nối rực rỡ truyền thống thơ ca lâu đời của dân tộc Việt Nam trong một thời đại Cách mạng đầy giông bão và hào hùng bậc nhất với những mốc son chói lọi trong lịch sử Việt Nam như Cách mạng tháng Tám, chiến thắng Điện Biên Phủ và trận toàn thắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh tháng Tư năm 1975. Những chiến thắng vĩ đại đó luôn gắn với lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng và thơ ca Cách mạng, thơ ca chống Pháp và chống Mỹ cũng có sự đóng góp không nhỏ của những người lính vừa chiến đấu vừa làm thơ. Thông qua việc phản ánh trực tiếp những nội dung tươi mới và nóng hổi của cuộc sống hiện thực lịch sử vĩ đại, thơ ca Cách mạng và kháng chiến luôn tạo ra được những hình thức thể hiện vừa dung dị mới mẻ vừa hoành tráng hào hùng. Đó thực sự là một dòng sông thơ rất mới và tươi đẹp. Nếu thơ Mới được tạo nên bởi sự giao thoa mạnh mẽ với văn học Pháp, hay nói đúng hơn cuộc Cách mạng ra thơ Mới về bản chất là sự tiếp thu các yếu tố tốt đẹp của văn học phương Tây, nên vẻ đẹp của thơ Mới luôn chịu ảnh hưởng và phảng phất hương vị và giọng điệu thơ Pháp. Về một phương diện nào đó thơ Mới cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến thơ ca Cách mạng và kháng chiến ở giai đoạn đầu thông qua sự hiện diện trong đội ngũ của mình các tên tuổi sáng giá nhất của làng thơ Mới như Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Nguyễn Xuân Sanh, Lưu Trọng Lư... Nhưng đó chỉ là sự tiếp nối trên phương diện cách tân nghệ thuật về hình thức, còn về nội dung thực chất thì sự đổi mới của thơ ca Cách mạng, thơ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã diễn ra theo một chiều hướng khác, chiều hướng nội sinh với cường độ mạnh mẽ hơn gấp bội, đó là sự đổi mới trong phương pháp luận sáng tác, và hơn nữa đó là sự đổi mới thực sự được tạo nên từ chính sự đổi mới của cuộc sống xã hội trên đất nước Việt Nam từ nô lệ sang tự do, một cuộc sống hiện thực luôn không ngừng chuyển động và phát triển của những năm tháng trường kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cuộc sống đan cài giữa hòa bình và chiến tranh... đó là sự đổi mới về chất mang trong nó tiến trình phát triển có chiều sâu và một sức mạnh Phù Đổng của một dân tộc quật cường.
Nói đúng ra thơ ca Cách mạng và thơ ca kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã bước xa và mới hơn gấp nhiều lần so với điểm chuẩn là thơ Mới. Xét trên phương diện hình thức, thơ Mới được mở đầu bằng thể loại thơ tự do với bài Tình già của Phan Khôi và sau đó là bài Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ, như vậy có nghĩa là trong thơ Mới sự xuất hiện của thể loại thơ tự do còn là của rất hiếm. Nhưng với thơ ca Cách mạng và kháng chiến thì thơ tự do đã trở thành phổ biến, thêm nữa nhiều tác phẩm thơ ca vào loại hay nhất trong thời kháng chiến chống Pháp hầu hết đều được viết ở thể loại thơ tự do, một thể loại thơ có khả năng cách tân nghệ thuật ở mức cao nhất. Ví dụ như những câu thơ đầy cảm xúc cảm hóa kêu gọi nhân dân ta đứng lên kháng chiến chống Pháp: "Hỡi quốc dân Hỡi đồng bào" "Ai có súng dùng súng / Ai có dao dùng dao / Thấy Tây cứ chém phứa / Thấy Nhật cứ chặt nhào" của nhà thơ lãnh tụ vĩ đại Chủ tịch Hồ Chí Minh, câu thơ mang bóng dáng thơ tự do và nó hay bởi nó là lời kêu gọi được cất lên từ cuộc sống. Tiếp nữa là các bài Ta đi tới của Tố Hữu. Tình sông núi của Trần Mai Ninh. Đất nước của Nguyễn Đình Thi. Cửu Long Giang ta ơi của Nguyên Hồng. Đèo Cả của Hữu Loan. Đồng chí của Chính Hữu. Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm. Cách mạng tháng Tám của Trần Dần. Cha tôi của Lê Đạt. Từ đêm mười chín của Khương Hữu Dụng... đều là những bài thơ có sử dụng thần tình thể loại thơ tự do. Trong kháng chiến chống Mỹ cũng có rất nhiều những bài thơ hay được viết ở thể thơ tự do như Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân. Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm. Phan Thiết có anh tôi của Hữu Thỉnh. Lửa đèn của Phạm Tiến Duật. Tôi đi của Võ Quảng. Chúng tôi chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi của Nam Hà. Vang vọng tháng Tư của Lê Quang Trang; Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ... và đặc biệt là hàng loạt trường ca ra đời trong thời kỳ chống Mỹ cũng đều được thể hiện phần nhiều dưới dạng thơ tự do với giọng điệu và bút pháp tung hoành. Đã có không ít nhà thơ kháng chiến hầu như chỉ sáng tác ở thể loại thơ tự do như Hữu Loan, Chính Hữu, Trần Dần, Lê Đạt và họ đã tạo được những giọng thơ thật sự mới và đặc sắc. Nguyễn Đình Thi là người đầu tiên có những ý kiến mang tính lý luận về thơ tự do, thơ không vần và trong thực tế ở thể loại này ông cũng là một nhà thơ có hạng. Như vậy, hầu hết các nhà thơ kháng chiến đều có những sáng tác trên thể thơ tự do để từ đó tạo nên những sáng tác tạo nên tính bứt phá vượt trội. Điều này rõ ràng cho thấy, chỉ trên phương diện hình thức nghệ thuật thôi, thơ ca Cách mạng, thơ ca kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã lớn bổng lên vượt hẳn so với thơ Mới. Có như vậy cuộc Cách mạng trong thi ca mà Hoài Thanh khởi xướng mới có ý nghĩa, mới đúng theo lẽ thường tình là con hơn cha là có phúc. Nói như thế không có nghĩa là hạ thấp thơ Mới, mà về bản chất là sự tôn vinh thơ Mới với vai trò cực kỳ quan trọng là khởi xướng cho sự cách tân nghệ thuật và đó cũng là một trong nhiều cuộc cách mạng trong thế kỷ 20 ở Việt Nam ta.
Nhưng sự đổi mới mạnh mẽ nhất của thơ ca Cách mạng và kháng chiến là sự đổi mới về nội dung, một nội dung mới hơn về bản chất so với thơ Mới ở chỗ không chỉ hiện đại và cách tân hơn, mà nó còn hiện thực và đặc biệt là mang sắc thái Việt Nam nhiều hơn. Ngay Nguyễn Bính, nhà thơ đồng quê nhất của phong trào thơ Mới, sau này cũng đã nhập vào dòng thơ kháng chiến nhanh hơn, chính là nhờ chất đồng quê đó. Việc phản ánh hiện thực cuộc sống luôn là mục tiêu hàng đầu của thơ ca Cách mạng và kháng chiến, một dòng thơ ca hào hùng mang đậm chất thời đại trải dài gần suốt thế kỷ 20 và đang bước cả sang thế kỷ 21 này. Đúng vậy, trong những năm đầu thế kỷ 21, không ít nhà thơ vẫn viết về những năm kháng chiến hào hùng như Nguyễn Đức Mậu, Bằng Việt, Trần Mạnh Hảo, Lê Thành Nghị... Và chính tôi, người viết bài này, cuối năm 2002 cũng cho ra đời tập thơ Giọt sương long lanh để kỷ niệm tròn 30 năm những ngày tháng sống và chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Như vậy đóng góp của thơ ca Cách mạng, thơ ca kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho nền thơ ca có lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc là những đóng góp vô cùng to lớn và sâu sắc về nội dung, tư tưởng và nghệ thuật, tạo cho nền thơ ca Việt Nam có được một cái nhìn hiện thực chân xác sinh động và vươn cao hơn theo tầm thời đại. Nhà thơ dường như được đứng ở tầm cao thời đại để: Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng / Trông lại nghìn xưa trông tới mai sau / Trông Bắc trông Nam trông cả địa cầu (Tố Hữu). Cuộc sống hiện thực sôi động của cả một thế kỷ kháng chiến oai hùng như ùa vào nhiều hơn, sinh động hơn trong thơ ca Cách mạng, trong thơ ca kháng chiến, đó là cái chất hiện thực lớn lao và nóng hổi nhất, là tiếng thơ của những năm tháng cả dân tộc lên đường ra trận: Có những ngày vui sao, cả nước lên đường, xao xuyến bờ tre từng hồi trống thúc (Chính Hữu) hay Đường ra trận mùa này đẹp lắm (Phạm Tiến Duật). Nền thơ đó hùng vĩ như tượng đài tạo nên hình ảnh nhân vật thời đại là người chiến sĩ như Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ (Lê Anh Xuân).
Thơ ca Cách mạng và kháng chiến ngay từ khởi nguồn của nó đã là một dòng thơ phong phú và sung mãn bởi được dựa trên cái nền vững chãi của truyền thống thơ ca Việt Nam. Trong những năm kháng chiến đã có cả một phong trào quần chúng sáng tác ca dao rộng lớn. Có thể nói đây là mảng sáng tạo tuyệt đẹp của thơ ca kháng chiến. Thêm nữa văn học kháng chiến trong giai đoạn đầu của nó cũng như sau này còn có sự đóng góp không nhỏ của hàng loạt các nhà thơ đến từ phong trào thơ Mới như Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Thế Lữ, Anh Thơ, Nguyễn Xuân Sanh, Vân Đài... họ đã bằng cả trái tim và tài năng nghệ thuật đến với Cách mạng với kháng chiến, để cùng các nhà thơ ở các thế hệ sau tạo nên sự tiếp nối tuyệt đẹp trong dòng chảy thơ ca của một thời đại Cách mạng. Nhiều nhà thơ có cuộc đời sáng tạo trải dài ở nhiều giai đoạn văn học từ thơ ca yêu nước đến thơ Mới sang những năm chống Pháp và chống Mỹ, ví dụ như Khương Hữu Dụng, Huy Cận, Tế Hanh, Nguyễn Xuân Sanh... Có người sáng lên từ thời thơ ca yêu nước đầu thế kỷ trước, có người được định danh từ cuộc Cách mạng thi ca do nhà phê bình Hoài Thanh khởi xướng và tiếp tục tỏa sáng và có những đóng góp không nhỏ trong cả giai đoạn kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ. Thực ra chỉ riêng sự hiện diện của họ trong đội ngũ đã là niềm vinh dự cũng như là nguồn cổ vũ lớn lao cho cả một nền thơ ca mới. Nhà thơ Huy Cận đến nay ngoài tám mươi vẫn làm thơ, ông là nhà thơ duy nhất của Việt Nam có được danh hiệu Viện sĩ của Viện hàn lâm thơ thế giới. Thâm Tâm là một cây bút có hạng trong làng thơ Mới, và trong kháng chiến chống Pháp ở chiến khu Việt Bắc ông cũng đã có thơ hay như Chiều mưa đường số 5. Còn như Tố Hữu, từ những năm 30 ông đã khơi nguồn tạo nên dòng thơ ca Cách mạng và cùng với năm tháng, trái tim thơ của ông luôn đập theo nhịp đời và nhịp đi lên không ngừng của Cách mạng. Nhà thơ Tố Hữu vừa từ giã chúng ta đầu năm 2003, tiếng thơ của ông là tiếng nói tâm tình giàu tính dân tộc, nghệ thuật thơ ông thấm sâu vào lòng dân, ông là nhà thơ chính trị hàng đầu trong thế kỷ 20. Còn nhà thơ Khương Hữu Dụng, người đã từng ngồi họa thơ với đại chí sĩ Phan Bội Châu, từ thuở đó, thơ Khương Hữu Dụng đã được ông già Bến Ngự ngợi khen. Cội nguồn thơ ông là tình yêu nước, là "Tiếng dân" trong những năm tháng lầm than mất nước, hồn thơ đó đã bừng sáng nhất trong thời chống Pháp với trường ca Từ đêm mười chín. Về già, thơ Khương Hữu Dụng càng đằm thắm, hóm hỉnh và tinh tế hơn. Cho đến nay, ông đang vượt qua ngưỡng 95 để đến với kỷ lục 100 tuổi trong làng thơ Việt Nam. Sự hiện diện về tuổi tác của ông luôn cho thấy Hội Nhà văn Việt Nam ta thật có cái phúc lớn biết bao. Cái phúc đó còn thể hiện ở các nhà thơ cao tuổi khác như Hoàng Cầm, Trần Lê Văn, Võ Quảng, Nguyễn Viết Lãm, Ngô Quân Miện, Gia Ninh... [1] những nhà thơ đã ở cái tuổi ngoài bảy tám mươi, những nhà thơ của những năm kháng chiến chống Pháp chống Mỹ oai hùng đó cho đến nay vẫn nguyên vẹn một tình yêu thơ ca ngời sáng.
Có thể nói thơ ca Cách mạng và kháng chiến là dòng thơ ca có sức sống mãnh liệt, có không gian và thời gian trải rộng và nền thơ ca đó đã được định vị bởi những tên tuổi và những tài năng sáng giá. Nhà thơ vĩ đại nhất của dòng thơ ca này, lãnh tụ Hồ Chí Minh, tiếp theo là các nhà thơ lớn Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Khương Hữu Dụng, Tú Mỡ, Vũ Cao, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Trần Dần, Lê Đạt, Thanh Tịnh, Quang Dũng, Trần Lê Văn, Trần Mai Ninh, Hoàng Lộc... Thơ ca trong kháng chiến chống Pháp là một mảng thơ đặc sắc nhuần nhị vừa giàu tính quần chúng vừa giàu tính tư tưởng, đó là tiếng thơ hào hùng giàu tính thẩm mỹ đã phản ánh sinh động được cuộc sống của những năm trường kỳ kháng chiến đầy gian khổ. Sang đến thời kỳ chống Mỹ, chúng ta đã có được cả một thế hệ nhà thơ đầy nhiệt tình cách mạng, sung sức trong sáng tạo, có tầm nhìn và bút lực đáng kính nể, như Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Thu Bồn, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ, Hữu Thỉnh, Giang Nam, Ngô Văn Phú, Vũ Quần Phương, Trần Mạnh Hảo, ý Nhi, Lê Quang Trang, Nguyễn Phan Hách, Trần Thị Thắng, Lâm Thị Mỹ Dạ, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Duy, Trúc Thông, Nguyễn Trác, Thanh Thảo, Hà Đình Cẩn, Vũ Duy Thông, Nguyễn Trọng Tạo, Anh Ngọc, Thanh Quế, Phạm Đức,... Và họ xứng đáng là những nhà thơ lớn, những con người được thời đại nâng tầm như sức mạnh huyền thoại được kể trong câu chuyện Thánh Gióng vậy. Thơ ca giai đoạn này sôi nổi mạnh mẽ và có nhiều tìm tòi bứt phá táo bạo. Phần đông các nhà thơ thời chống Mỹ cho đến nay vẫn đang là những cây bút sung sức trong sáng tạo. Họ cùng với lớp các nhà thơ trẻ hôm nay vẫn đang không ngừng tìm tòi sáng tạo tiếp tục làm giàu có thêm cho thơ ca Việt Nam.
Đặc biệt trong dòng thơ Cách mạng và kháng chiến đã hình thành được một mảng thơ tươi non đầy xuân sắc, đó là thơ thiếu nhi với những tài năng lớn như Võ Quảng, Phạm Hổ, Định Hải và những cây bút tiếp nối thực sự xuất sắc như Vũ Ngọc Bình, Phùng Ngọc Hùng, Nguyễn Hoàng Sơn, Nguyễn Đức Quang... Đó là một đội ngũ đáng quý vẫn đang miệt mài sáng tạo, vẫn đang tạo nên cho văn học Việt Nam một tương lai tươi sáng hơn. Có một nét thật đẹp trong làng thơ Cách mạng và kháng chiến là hầu hết các nhà thơ ngoài phần thơ viết cho người lớn còn có phần thơ viết cho thiếu nhi. Việc sáng tạo văn học thiếu nhi, cũng như việc gieo trồng những hạt mầm tình yêu thơ ca trong thiếu nhi đã và đang là công việc của mọi nhà. Đó là một nét truyền thống mới tốt đẹp của thơ ca Việt Nam được hình thành trong dòng thơ Cách mạng và kháng chiến. Thơ ca Việt Nam hôm nay, theo chúng tôi cần tiếp nối truyền thống thơ ca của cả dân tộc, trong đó có các di sản thơ ca hùng vĩ của những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ để từ đó có được những bước tiến xa hơn nữa. Với ý nghĩa đó, thơ luôn nằm trong dòng chảy của Cách mạng, vẫn đi trên con đường theo định hướng của Đảng là tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc. Tính Cách mạng trong thơ còn được thể hiện ở việc không ngừng đổi mới thơ trên bình diện hình thức nghệ thuật cũng như nội dung nghệ thuật ở quy mô ngày một rộng lớn hơn và trong những chiều sâu tư tưởng mới hơn, và từ đó kết tinh được nhiều kiệt tác hơn cho văn học Việt Nam./.
(Tạp chí Nhà văn)
Love mickey,