Giao duyên thơ và nhạc
Ca khúc là sự kết hợp giữa âm nhạc (giai điệu) và lời ca (ca từ). Vì vậy ca khúc còn được gọi là thể loại trung gian giữa âm nhạc và văn học.
Trong kho tàng ca khúc Việt Nam cũng như của thế giới có một bộ phận lớn ca khúc được phổ từ thơ. Ca khúc phổ thơ thường đạt được sự hoàn mĩ của nghệ thuật ca khúc. Trong quá trình sáng tạo ca khúc, thơ và nhạc luôn song hành với nhau. Thơ gợi mở cho âm nhạc và ngược lại âm nhạc chắp cánh cho thơ. Thơ giúp cho âm nhạc khám phá những âm thanh giai điệu. Nhạc truyền vào thơ sức bay bổng của nghệ thuật ngôn từ. Một bài thơ được phổ nhạc thành ca khúc thì sức phổ cập của nó lớn hơn gấp nhiều lần so với bài thơ khi chưa phổ nhạc.
Công việc đầu tiên để phổ bài thơ thành ca khúc là phân tích bài thơ ấy để xác định ý, tứ mà định ra sắc thái cho giai điệu âm nhạc. Và quan trọng hơn là xem xét bài thơ ấy có nhạc tính không, nhạc tính là yếu tố quan trọng và thuận lợi cho việc phổ nhạc. Vậy thế nào là một bài thơ có nhạc tính? Một bài thơ được xem là có nhạc tính phải thoả mãn các yếu tố như: Có giọng điệu, ngữ điệu văn học cao; có độ dài, ngắn và bố cục gần với khúc thức của ca khúc; có sự phong phú về thanh, âm và hình tượng nghệ thuật.
Nói đến giọng điệu, ngữ điệu văn học ở đây chúng ta cần phân biệt nó khác với ngữ điệu chính luận. Về độ dài, ngắn bố cục của bài thơ khác với khúc thức của ca khúc rất nhiều. Bài thơ có độ dài, ngắn và bố cục tương đối tự do. Còn ca khúc thì ngược lại nó phải tuân thủ về độ dài, ngắn và bố cục gần như là niêm luật. Bài thơ có khi chỉ hai câu, hoặc bốn câu và có bài dài vài trang. Nhưng ca khúc thì không được phép như vậy. Ca khúc phải tuân theo bố cục 1 đoạn đơn, 2 đoạn đơn… 1 đoạn phức, 2 đoạn phức… Vì vậy khi phổ nhạc người phổ thường phải cân chỉnh lại bố cục của bài thơ để nó phù hợp với bố cục của ca khúc. Vấn đề thanh, âm của ngôn từ thơ cũng rất quan trọng vì đây là yếu tố tạo điều kiện cho sự thăng hoa của giai điệu âm nhạc. ở đây xin nói thêm rằng phổ thơ, phổ nhạc là sự kết hợp giữa âm nhạc và thơ. Tuy nhiên trong âm nhạc có một đặc trưng mà trong thơ thường không có. Đó là sự liên kết nhắc lại của câu hoặc đoạn. Người ta nói rằng thuộc tính của âm nhạc là sự nhắc lại. Điều đó hoàn toàn đúng, âm nhạc luôn luôn là sự nhắc lại. Vì như đã nói trong thơ không có sự nhắc lại giống như âm nhạc. Sự nhắc lại trong âm nhạc được tiến hành theo hai cách; nhắc lại nguyên xi và nhắc lại mô phỏng.
Do sự khác nhau về đặc trưng giữa thơ và nhạc như đã nói trên, nên trong thực tế người ta phổ nhạc theo hai cách. Một là phổ nguyên văn bài thơ, trường hợp này tuy có nhưng rất hiếm khi. Hai là lấy ý thơ, phỏng thơ, cách làm này phổ biến hơn. Vì nó tạo cho người phổ sự chủ động và tự do hơn mà không bị gò bó, ràng buộc vào lời thơ.
Vấn đề ta vừa đề cập thuộc về phương pháp; tuy nhiên nắm được phương pháp là tốt, song chưa đủ mà cần phải có thêm một số thủ pháp nghệ thuật khác thì công việc phổ thơ mới trôi chảy được. Chẳng hạn như phân tích thanh, âm của tiếng Việt (tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn âm và đa thanh) để đưa vào cao độ âm nhạc sao cho chuẩn xác. Có những thanh khi phát âm nó tạo ra sự luyến từ hai đến ba nốt nhạc. Mặt khác cũng cần nghiên cứu những âm đóng và âm mở của nguyên âm, phụ âm để xử lý những chỗ ngân dài trong âm nhạc. Hoặc nghiên cứu những từ kép nhằm xác định trọng âm và âm lướt của nó để đặt nó đúng vị trí phách mạnh, phách nhẹ đối với trọng âm và tiết nhịp trong âm nhạc. Ngoài ra còn phải cân chỉnh phân câu và câu của nhạc có ăn khớp với câu thơ hay không.
Một thủ pháp khác rất quan trọng khi phổ thơ. Đó là trường hợp có những bài thơ mang nội dung và phong cách viết về một địa phương, vùng miền nào đó. Trường hợp này liên quan đến vấn đề chất liệu âm nhạc. Chẳng hạn khi bắt gặp bài thơ viết về cố đô Huế, mang nét văn hoá Huế thì khi phổ nhạc cần phải sử dụng chất liệu dân ca và âm nhạc cổ truyền Huế, có như vậy mới lột tả hết cái hồn của bài thơ. Hoặc đối với những bài thơ có nội dung và phong cách Tây Nguyên thì nên dùng chất liệu âm nhạc Tây Nguyên để phổ là tốt nhất. Vấn đề này tuy không phải là sự bắt buộc, nhưng về lý luận âm nhạc người ta đã khẳng định: “Ngôn ngữ nào thì âm nhạc đó”.
Một vấn đề khác cần nói thêm, đó là có người cho rằng bài thơ phải hay thì mới phổ thành ca khúc hay. Điều này không hoàn toàn là như vậy. Bởi vì trong thực tế có những bài thơ chỉ bình thường, nhưng khi phổ nhạc nó trở thành ca khúc hay. Ngược lại có những bài thơ hay (thậm chí rất hay) nhưng không phổ thành ca khúc được. Cho nên việc phổ thơ thành ca khúc không phụ thuộc cứng nhắc vào sự hay, dở của thơ mà phụ thuộc chủ yếu vào việc bài thơ đó có hội đủ các nhân tố nhạc tính để phổ hay không. Tất nhiên nếu bài thơ dở quá thì chẳng ai phổ làm gì. Nói đến đây, ta lại phải nói thêm rằng thực chất của việc phổ thơ thành ca khúc là sự chuyển thể một tác phẩm văn học sang tác phẩm âm nhạc, và lời thơ đã trở thành ca từ; Tức là lời thơ bây giờ không phải để đọc mà chính là để hát, mà giữa đọc và hát là hai hình thức diễn đạt khác nhau, với những yêu cầu cách biệt.
Thơ và nhạc là hình thái nghệ thuật cao quý với những giá trị thẩm mĩ sâu sắc. Có thể nói ca khúc phổ thơ là qui trình sáng tác bao giờ cũng lấy thơ làm nền tảng cho tư duy nghệ thuật. Thơ và nhạc là đôi bạn đồng hành trên bước đường sáng tạo và còn hơn thế nữa, đó là sự cộng hưởng bền vững của một cuộc “Hôn phối” diệu kỳ.
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Ca khúc là sự kết hợp giữa âm nhạc (giai điệu) và lời ca (ca từ). Vì vậy ca khúc còn được gọi là thể loại trung gian giữa âm nhạc và văn học.
Trong kho tàng ca khúc Việt Nam cũng như của thế giới có một bộ phận lớn ca khúc được phổ từ thơ. Ca khúc phổ thơ thường đạt được sự hoàn mĩ của nghệ thuật ca khúc. Trong quá trình sáng tạo ca khúc, thơ và nhạc luôn song hành với nhau. Thơ gợi mở cho âm nhạc và ngược lại âm nhạc chắp cánh cho thơ. Thơ giúp cho âm nhạc khám phá những âm thanh giai điệu. Nhạc truyền vào thơ sức bay bổng của nghệ thuật ngôn từ. Một bài thơ được phổ nhạc thành ca khúc thì sức phổ cập của nó lớn hơn gấp nhiều lần so với bài thơ khi chưa phổ nhạc.
Công việc đầu tiên để phổ bài thơ thành ca khúc là phân tích bài thơ ấy để xác định ý, tứ mà định ra sắc thái cho giai điệu âm nhạc. Và quan trọng hơn là xem xét bài thơ ấy có nhạc tính không, nhạc tính là yếu tố quan trọng và thuận lợi cho việc phổ nhạc. Vậy thế nào là một bài thơ có nhạc tính? Một bài thơ được xem là có nhạc tính phải thoả mãn các yếu tố như: Có giọng điệu, ngữ điệu văn học cao; có độ dài, ngắn và bố cục gần với khúc thức của ca khúc; có sự phong phú về thanh, âm và hình tượng nghệ thuật.
Nói đến giọng điệu, ngữ điệu văn học ở đây chúng ta cần phân biệt nó khác với ngữ điệu chính luận. Về độ dài, ngắn bố cục của bài thơ khác với khúc thức của ca khúc rất nhiều. Bài thơ có độ dài, ngắn và bố cục tương đối tự do. Còn ca khúc thì ngược lại nó phải tuân thủ về độ dài, ngắn và bố cục gần như là niêm luật. Bài thơ có khi chỉ hai câu, hoặc bốn câu và có bài dài vài trang. Nhưng ca khúc thì không được phép như vậy. Ca khúc phải tuân theo bố cục 1 đoạn đơn, 2 đoạn đơn… 1 đoạn phức, 2 đoạn phức… Vì vậy khi phổ nhạc người phổ thường phải cân chỉnh lại bố cục của bài thơ để nó phù hợp với bố cục của ca khúc. Vấn đề thanh, âm của ngôn từ thơ cũng rất quan trọng vì đây là yếu tố tạo điều kiện cho sự thăng hoa của giai điệu âm nhạc. ở đây xin nói thêm rằng phổ thơ, phổ nhạc là sự kết hợp giữa âm nhạc và thơ. Tuy nhiên trong âm nhạc có một đặc trưng mà trong thơ thường không có. Đó là sự liên kết nhắc lại của câu hoặc đoạn. Người ta nói rằng thuộc tính của âm nhạc là sự nhắc lại. Điều đó hoàn toàn đúng, âm nhạc luôn luôn là sự nhắc lại. Vì như đã nói trong thơ không có sự nhắc lại giống như âm nhạc. Sự nhắc lại trong âm nhạc được tiến hành theo hai cách; nhắc lại nguyên xi và nhắc lại mô phỏng.
Do sự khác nhau về đặc trưng giữa thơ và nhạc như đã nói trên, nên trong thực tế người ta phổ nhạc theo hai cách. Một là phổ nguyên văn bài thơ, trường hợp này tuy có nhưng rất hiếm khi. Hai là lấy ý thơ, phỏng thơ, cách làm này phổ biến hơn. Vì nó tạo cho người phổ sự chủ động và tự do hơn mà không bị gò bó, ràng buộc vào lời thơ.
Vấn đề ta vừa đề cập thuộc về phương pháp; tuy nhiên nắm được phương pháp là tốt, song chưa đủ mà cần phải có thêm một số thủ pháp nghệ thuật khác thì công việc phổ thơ mới trôi chảy được. Chẳng hạn như phân tích thanh, âm của tiếng Việt (tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn âm và đa thanh) để đưa vào cao độ âm nhạc sao cho chuẩn xác. Có những thanh khi phát âm nó tạo ra sự luyến từ hai đến ba nốt nhạc. Mặt khác cũng cần nghiên cứu những âm đóng và âm mở của nguyên âm, phụ âm để xử lý những chỗ ngân dài trong âm nhạc. Hoặc nghiên cứu những từ kép nhằm xác định trọng âm và âm lướt của nó để đặt nó đúng vị trí phách mạnh, phách nhẹ đối với trọng âm và tiết nhịp trong âm nhạc. Ngoài ra còn phải cân chỉnh phân câu và câu của nhạc có ăn khớp với câu thơ hay không.
Một thủ pháp khác rất quan trọng khi phổ thơ. Đó là trường hợp có những bài thơ mang nội dung và phong cách viết về một địa phương, vùng miền nào đó. Trường hợp này liên quan đến vấn đề chất liệu âm nhạc. Chẳng hạn khi bắt gặp bài thơ viết về cố đô Huế, mang nét văn hoá Huế thì khi phổ nhạc cần phải sử dụng chất liệu dân ca và âm nhạc cổ truyền Huế, có như vậy mới lột tả hết cái hồn của bài thơ. Hoặc đối với những bài thơ có nội dung và phong cách Tây Nguyên thì nên dùng chất liệu âm nhạc Tây Nguyên để phổ là tốt nhất. Vấn đề này tuy không phải là sự bắt buộc, nhưng về lý luận âm nhạc người ta đã khẳng định: “Ngôn ngữ nào thì âm nhạc đó”.
Một vấn đề khác cần nói thêm, đó là có người cho rằng bài thơ phải hay thì mới phổ thành ca khúc hay. Điều này không hoàn toàn là như vậy. Bởi vì trong thực tế có những bài thơ chỉ bình thường, nhưng khi phổ nhạc nó trở thành ca khúc hay. Ngược lại có những bài thơ hay (thậm chí rất hay) nhưng không phổ thành ca khúc được. Cho nên việc phổ thơ thành ca khúc không phụ thuộc cứng nhắc vào sự hay, dở của thơ mà phụ thuộc chủ yếu vào việc bài thơ đó có hội đủ các nhân tố nhạc tính để phổ hay không. Tất nhiên nếu bài thơ dở quá thì chẳng ai phổ làm gì. Nói đến đây, ta lại phải nói thêm rằng thực chất của việc phổ thơ thành ca khúc là sự chuyển thể một tác phẩm văn học sang tác phẩm âm nhạc, và lời thơ đã trở thành ca từ; Tức là lời thơ bây giờ không phải để đọc mà chính là để hát, mà giữa đọc và hát là hai hình thức diễn đạt khác nhau, với những yêu cầu cách biệt.
Thơ và nhạc là hình thái nghệ thuật cao quý với những giá trị thẩm mĩ sâu sắc. Có thể nói ca khúc phổ thơ là qui trình sáng tác bao giờ cũng lấy thơ làm nền tảng cho tư duy nghệ thuật. Thơ và nhạc là đôi bạn đồng hành trên bước đường sáng tạo và còn hơn thế nữa, đó là sự cộng hưởng bền vững của một cuộc “Hôn phối” diệu kỳ.
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,