<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-28 00:46:40ct.ly>
Nhà Thơ Xuân Diệu

Ngày 18-12-1985, đã vĩnh biệt chúng ta nhà thơ Xuân Diệu, một nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ 20. Quê ở Hà Tĩnh, ông đã từng học ở Qui Nhơn, Huế, Hà Nội. Xuân Diệu là thành viên của Tự lực văn đoàn, văn đoàn có đóng góp lớn vào nền văn học Việt Nam hiện đại.
Là nhà thơ trữ tình, Xuân Diệu đã là một trong những chủ soái của phong trào "Thơ Mới". Xuân Diệu "nhà thơ mới nhất" của các nhà thơ mới (Hoài Thanh). Hai tập "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió" được giới văn học xem như là hai kiệt tác của ông ca ngợi tình yêu và qua các chủ đề của tình yêu là ca ngợi sự sống, niềm vui và đam mê sống. Và ca ngợi tình yêu thì làm sao mà không ca ngợi tuổi trẻ, mùa xuân, ca ngợi thiên nhiên là tổ ấm và cái nôi của tình yêu. Và Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc đến đau đớn nỗi thời gian trôi chảy, sự mong manh của đời người cũng như lòng khát khao vĩnh cửu, tất cả đã được diễn tả bằng những câu thơ xúc động, có khi đậm đà triết lý nhân sinh.
Là một nhà thơ dấn thân, Xuân Diệu đã tham gia hàng chục năm trời (từ 1943) cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, và đã trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng. Ba lô trên lưng, Xuân Diệu đã đi khắp đất nước qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, chia sẻ cuộc sống gian khổ mà hào hùng của chiến sĩ, công nhân và nông dân. Từ cuộc sống dấn thân ấy đã hình thành một cảm xúc mới: cảm xúc của cả dân tộc chiến đấu cho độc lập, tự do - Và dòng thơ "công dân" ấy vẫn chan chứa chất thơ vì không hề gạt ra một bên những kích thước người của một cảm hứng thơ chân chính. Những bài thơ như "Sự sống chẳng bao giờ chán nản", "Những đêm hành quân" thuộc vào dòng thơ của chủ nghĩa nhân bản mới của thời đại. Thơ Xuân Diệu
Và nhà thơ - chiến sĩ vẫn tiếp tục là nhà thơ thần diệu của tình yêu. Vĩnh biệt chúng ta, Xuân Diệu còn để lại trong di cảo 400 (bốn trăm) bài thơ tình chưa công bố. Là nhà văn hóa lớn, nhà nghiên cứu bậc thầy, nhà phê bình sâu sắc và tinh tế, Xuân Diệu một mình, đã viết một công trình đồ sộ nghiên cứu hết các nhà thơ cổ điển của nước nhà, và những nhận định của ông cũng đã trở thành "cổ điển".
Xuân Diệu còn là tác giả tập "Phấn thông vàng" gồm những truyện ngắn trữ tình tuyệt diệu, tập "Trường ca" là những bài thơ văn xuôi xúc động về tạo vật, về tình đời.
Xuân Diệu còn viết nhiều sách về nghề thơ, hướng dẫn và tận tình giúp đỡ các bạn văn thơ trẻ. Xuân Diệu đã dịch tác phẩm của nhiều nhà thơ thế giới lỗi lạc - Victor Hugo, Petofi, Nazim Hikmet, Nicolas Grillen, Tagore, Attila, Joseph, Christo Botev, Endy, Blaga Dimitrova... Với một sự nghiệp phong phú, đồ sộ (hơn năm mươi tác phẩm), Xuân Diệu chắc chắn sẽ được hậu thế công nhận là một trong những đỉnh cao của thơ và văn chương Việt Nam thế kỷ 20.
4-2000 - HUY CẬN
TÓM TẮT TIỂU SỬ XUÂN DIỆU
Xuân Diệu họ Ngô ( Ngô Xuân Diệu) sinh năm 1916, mất năm 1985. Ông thân sinh của thi sĩ là một nhà nho, quê xã Trào Nha ( nay là xã Ðại Lộc), huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Ông đồ Nghệ vào dạy học ở tỉnh Bình Ðịnh, lấy bà vợ hai người vạn ( nghề đánh cá) ở Gò Bối, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước và sinh ra Xuân Diệu ( 2/2/1916).
Xuân Diệu lớn lên ở Quy Nhơn. Ở đây ông học hết bậc Thành Chung (Trung học Cơ sở) sau đó ra Hà Nội, rồi vào Huế học tiếp. Tốt nghiệp tú tài ( PTTH), ông đi dạy tư và làm viên chức một thời gian ( Sở Ðoan Mỹ Tho, Nam bộ), nhưng chủ yếu hoạt động văn học.
Xuân Diệu có thơ đăng báo từ năm 1935, 1936. Ông nổi tiếng như một " nhà thơ mới nhất" và đầy tài năng từ năm 1937, nhất là từ khi xuất bản "Thơ thơ" (1938) và tập " Phấn thông vàng" ( 1939).
Xuân Diệu tham gia Mặt trận Việt Minh từ trước cách mạng tháng Tám 1945. Từ đó, cuộc đời ông gắn bó với cách mạng và nền văn học cách mạng. Ông từng là đại biểu Quốc hội, Uỷ viên Ban hành Hội văn nghệ Việt Nam, phụ trách báo chí, phát hành...Tất nhiên, đóng góp lớn nhất của Xuân Diệu đối với đất nước vẫn là với tư cách một nhà thơ, nhà văn. Xuân Diệu xứng đáng được xem là một là nghệ sĩ lớn, một nhà văn hoá lớn. Năm 1983, ông được bầu làm Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hoà dân chủ Ðức.
VÀI NÉT VỀ THƠ TÌNH XUÂN DIỆU
Thơ Xuân Diệu luôn khao khát được bộc tỏ, được bóc hết từng lớp, từng múi của quả tình yêu. Yêu tràn trề, yêu dồn dập, yêu cuồng nhiệt, Xuân Diệu muốn được sống để ca ngợi mãi thứ tình cảm muôn đời ấy của loài người. Những bài thơ tình của Xuân Diệu luôn trào lên những mến, những yêu, những thèm, những muốn, yêu trong cuộc đời và cả yêu trong mộng tưởng:
Mở miệng vàng ... và hãy nói yêu tôi
Dù chỉ là trong một phút thôi
Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ
Ai có nhớ những thời hương phảng phất
Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng thường là những bài nói chung nồng nàn, bốc lửa. Những bài thơ sau này thường là gắn với đời thường hơn, có nhiều bài là những giây phút nhỏ nhỏ trong cuộc sống gia đình (Em làm bếp, Quạt, Chén nước, Đứng chờ em, Anh đợi em về ăn cơm, Anh thương em khi ngủ) tuy nhiên vẫn có những bài thơ tình thực sự - Biển, Sao mọc, Chớm sang vị hè, Hoa ngọc trâm. Trong những tập thơ sau, gắn mình với hoạt động xã hội, những chuyến đi đây đó khắp miền đất nước đang đánh giặc để lại trong thơ Xuân Diệu nhiều bài thơ thời sự. Có cảm tưởng như đến mỗi nơi, Xuân Diệu cố viết để để lại một dấu ấn gì đấy nơi mình đã đi qua. Theo tên một vài bài thơ, có thể thấy được hành trình ấy: Vườn Thuận vĩ, Trong rừng Quỳnh châu, Ngược sông Đà, Trưa ở xã Thịnh lang, Sa pa, Trên bến phà Thia, Ngọc trai trong vịnh Cô tô (tập thơ Một khối hồng).
Xuân Diệu thường chú ý đến hình thức, nhất là chữ nghĩa trong thơ. Nhà thơ đã tìm và tạo ra những từ kiểu "đêm thuỷ tinh, biếc rờn, đời bánh mật, sương mỏng thắm, lên sao, ...". Chất say của tình Xuân Diệu làm những bài thơ (ở hai tập đầu) của anh bốc lên rừng rực, những bài có giọng điệu êm êm một chút như Chiều, Nhớ mông lung, Khi chiều giăng lưới là rất ít. Đọc thơ Xuân Diệu, người ta có thể dễ dàng nhận ra một đặc điểm: Xuân Diệu không ngại ngùng trong việc sử dụng các từ đặc tả, những hình ảnh gây ấn tượng thật mạnh, những lối nói khác thường, những kết hợp từ đối chọi. Chỉ ví dụ từ một bài Mênh mông:
Ta mang hồn trèo lên những đỉnh cao
Hoa cỏ mạnh xông ...
Đất nồng thơm ...
duyên trẻ mạnh ...
huy hoàng cất bước ...
Hình óng ả ...
nét vặm ...
nghìn thuở mộng hoa hương ...
lòng ta như ngựa trẻ không cương ...
ngất ngây đường diệu viễn ...
và còn rất nhiều những bài, những câu, những từ như thế nữa. Nhưng câu như
Mắt không ướt nhưng bao hàng lệ rỏ
Len tỉ tê thầm trộm chảy qua vào
hay
Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu
Ngực thở trời, mình hút nắng tươi xanh
thì như chỉ Xuân Diệu mới có. Một số bài nhà thơ chỉ nói một hai câu, còn thì như mượn dòng thơ, khổ thơ để phơi được cho hết chữ nghĩa, vận cho hết được cung vần. Trong khi sử dụng chữ tràn lan có lúc Xuân Diệu làm bài thơ thay đổi trạng thái thật đột ngột, hẫng hụt
Ngạt ngào nhào trộn cả không gian
Mà bỗng trên trời mây nhẹ lan
Ngây ngất hôm nay một ánh mờ
Ô hay bàng bạc thực cùng mơ
Có một kẻ luôn khát đời, khát tình, muốn uống tràn cả chất ngọt và vị đắng của tình yêu - đó là Xuân Diệu.

Ngày 18-12-1985, đã vĩnh biệt chúng ta nhà thơ Xuân Diệu, một nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ 20. Quê ở Hà Tĩnh, ông đã từng học ở Qui Nhơn, Huế, Hà Nội. Xuân Diệu là thành viên của Tự lực văn đoàn, văn đoàn có đóng góp lớn vào nền văn học Việt Nam hiện đại.
Là nhà thơ trữ tình, Xuân Diệu đã là một trong những chủ soái của phong trào "Thơ Mới". Xuân Diệu "nhà thơ mới nhất" của các nhà thơ mới (Hoài Thanh). Hai tập "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió" được giới văn học xem như là hai kiệt tác của ông ca ngợi tình yêu và qua các chủ đề của tình yêu là ca ngợi sự sống, niềm vui và đam mê sống. Và ca ngợi tình yêu thì làm sao mà không ca ngợi tuổi trẻ, mùa xuân, ca ngợi thiên nhiên là tổ ấm và cái nôi của tình yêu. Và Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc đến đau đớn nỗi thời gian trôi chảy, sự mong manh của đời người cũng như lòng khát khao vĩnh cửu, tất cả đã được diễn tả bằng những câu thơ xúc động, có khi đậm đà triết lý nhân sinh.
Là một nhà thơ dấn thân, Xuân Diệu đã tham gia hàng chục năm trời (từ 1943) cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, và đã trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng. Ba lô trên lưng, Xuân Diệu đã đi khắp đất nước qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, chia sẻ cuộc sống gian khổ mà hào hùng của chiến sĩ, công nhân và nông dân. Từ cuộc sống dấn thân ấy đã hình thành một cảm xúc mới: cảm xúc của cả dân tộc chiến đấu cho độc lập, tự do - Và dòng thơ "công dân" ấy vẫn chan chứa chất thơ vì không hề gạt ra một bên những kích thước người của một cảm hứng thơ chân chính. Những bài thơ như "Sự sống chẳng bao giờ chán nản", "Những đêm hành quân" thuộc vào dòng thơ của chủ nghĩa nhân bản mới của thời đại. Thơ Xuân Diệu
Và nhà thơ - chiến sĩ vẫn tiếp tục là nhà thơ thần diệu của tình yêu. Vĩnh biệt chúng ta, Xuân Diệu còn để lại trong di cảo 400 (bốn trăm) bài thơ tình chưa công bố. Là nhà văn hóa lớn, nhà nghiên cứu bậc thầy, nhà phê bình sâu sắc và tinh tế, Xuân Diệu một mình, đã viết một công trình đồ sộ nghiên cứu hết các nhà thơ cổ điển của nước nhà, và những nhận định của ông cũng đã trở thành "cổ điển".
Xuân Diệu còn là tác giả tập "Phấn thông vàng" gồm những truyện ngắn trữ tình tuyệt diệu, tập "Trường ca" là những bài thơ văn xuôi xúc động về tạo vật, về tình đời.
Xuân Diệu còn viết nhiều sách về nghề thơ, hướng dẫn và tận tình giúp đỡ các bạn văn thơ trẻ. Xuân Diệu đã dịch tác phẩm của nhiều nhà thơ thế giới lỗi lạc - Victor Hugo, Petofi, Nazim Hikmet, Nicolas Grillen, Tagore, Attila, Joseph, Christo Botev, Endy, Blaga Dimitrova... Với một sự nghiệp phong phú, đồ sộ (hơn năm mươi tác phẩm), Xuân Diệu chắc chắn sẽ được hậu thế công nhận là một trong những đỉnh cao của thơ và văn chương Việt Nam thế kỷ 20.
4-2000 - HUY CẬN
TÓM TẮT TIỂU SỬ XUÂN DIỆU
Xuân Diệu họ Ngô ( Ngô Xuân Diệu) sinh năm 1916, mất năm 1985. Ông thân sinh của thi sĩ là một nhà nho, quê xã Trào Nha ( nay là xã Ðại Lộc), huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Ông đồ Nghệ vào dạy học ở tỉnh Bình Ðịnh, lấy bà vợ hai người vạn ( nghề đánh cá) ở Gò Bối, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước và sinh ra Xuân Diệu ( 2/2/1916).
Xuân Diệu lớn lên ở Quy Nhơn. Ở đây ông học hết bậc Thành Chung (Trung học Cơ sở) sau đó ra Hà Nội, rồi vào Huế học tiếp. Tốt nghiệp tú tài ( PTTH), ông đi dạy tư và làm viên chức một thời gian ( Sở Ðoan Mỹ Tho, Nam bộ), nhưng chủ yếu hoạt động văn học.
Xuân Diệu có thơ đăng báo từ năm 1935, 1936. Ông nổi tiếng như một " nhà thơ mới nhất" và đầy tài năng từ năm 1937, nhất là từ khi xuất bản "Thơ thơ" (1938) và tập " Phấn thông vàng" ( 1939).
Xuân Diệu tham gia Mặt trận Việt Minh từ trước cách mạng tháng Tám 1945. Từ đó, cuộc đời ông gắn bó với cách mạng và nền văn học cách mạng. Ông từng là đại biểu Quốc hội, Uỷ viên Ban hành Hội văn nghệ Việt Nam, phụ trách báo chí, phát hành...Tất nhiên, đóng góp lớn nhất của Xuân Diệu đối với đất nước vẫn là với tư cách một nhà thơ, nhà văn. Xuân Diệu xứng đáng được xem là một là nghệ sĩ lớn, một nhà văn hoá lớn. Năm 1983, ông được bầu làm Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hoà dân chủ Ðức.
VÀI NÉT VỀ THƠ TÌNH XUÂN DIỆU
Thơ Xuân Diệu luôn khao khát được bộc tỏ, được bóc hết từng lớp, từng múi của quả tình yêu. Yêu tràn trề, yêu dồn dập, yêu cuồng nhiệt, Xuân Diệu muốn được sống để ca ngợi mãi thứ tình cảm muôn đời ấy của loài người. Những bài thơ tình của Xuân Diệu luôn trào lên những mến, những yêu, những thèm, những muốn, yêu trong cuộc đời và cả yêu trong mộng tưởng:
Mở miệng vàng ... và hãy nói yêu tôi
Dù chỉ là trong một phút thôi
Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ
Ai có nhớ những thời hương phảng phất
Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng thường là những bài nói chung nồng nàn, bốc lửa. Những bài thơ sau này thường là gắn với đời thường hơn, có nhiều bài là những giây phút nhỏ nhỏ trong cuộc sống gia đình (Em làm bếp, Quạt, Chén nước, Đứng chờ em, Anh đợi em về ăn cơm, Anh thương em khi ngủ) tuy nhiên vẫn có những bài thơ tình thực sự - Biển, Sao mọc, Chớm sang vị hè, Hoa ngọc trâm. Trong những tập thơ sau, gắn mình với hoạt động xã hội, những chuyến đi đây đó khắp miền đất nước đang đánh giặc để lại trong thơ Xuân Diệu nhiều bài thơ thời sự. Có cảm tưởng như đến mỗi nơi, Xuân Diệu cố viết để để lại một dấu ấn gì đấy nơi mình đã đi qua. Theo tên một vài bài thơ, có thể thấy được hành trình ấy: Vườn Thuận vĩ, Trong rừng Quỳnh châu, Ngược sông Đà, Trưa ở xã Thịnh lang, Sa pa, Trên bến phà Thia, Ngọc trai trong vịnh Cô tô (tập thơ Một khối hồng).
Xuân Diệu thường chú ý đến hình thức, nhất là chữ nghĩa trong thơ. Nhà thơ đã tìm và tạo ra những từ kiểu "đêm thuỷ tinh, biếc rờn, đời bánh mật, sương mỏng thắm, lên sao, ...". Chất say của tình Xuân Diệu làm những bài thơ (ở hai tập đầu) của anh bốc lên rừng rực, những bài có giọng điệu êm êm một chút như Chiều, Nhớ mông lung, Khi chiều giăng lưới là rất ít. Đọc thơ Xuân Diệu, người ta có thể dễ dàng nhận ra một đặc điểm: Xuân Diệu không ngại ngùng trong việc sử dụng các từ đặc tả, những hình ảnh gây ấn tượng thật mạnh, những lối nói khác thường, những kết hợp từ đối chọi. Chỉ ví dụ từ một bài Mênh mông:
Ta mang hồn trèo lên những đỉnh cao
Hoa cỏ mạnh xông ...
Đất nồng thơm ...
duyên trẻ mạnh ...
huy hoàng cất bước ...
Hình óng ả ...
nét vặm ...
nghìn thuở mộng hoa hương ...
lòng ta như ngựa trẻ không cương ...
ngất ngây đường diệu viễn ...
và còn rất nhiều những bài, những câu, những từ như thế nữa. Nhưng câu như
Mắt không ướt nhưng bao hàng lệ rỏ
Len tỉ tê thầm trộm chảy qua vào
hay
Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu
Ngực thở trời, mình hút nắng tươi xanh
thì như chỉ Xuân Diệu mới có. Một số bài nhà thơ chỉ nói một hai câu, còn thì như mượn dòng thơ, khổ thơ để phơi được cho hết chữ nghĩa, vận cho hết được cung vần. Trong khi sử dụng chữ tràn lan có lúc Xuân Diệu làm bài thơ thay đổi trạng thái thật đột ngột, hẫng hụt
Ngạt ngào nhào trộn cả không gian
Mà bỗng trên trời mây nhẹ lan
Ngây ngất hôm nay một ánh mờ
Ô hay bàng bạc thực cùng mơ
Có một kẻ luôn khát đời, khát tình, muốn uống tràn cả chất ngọt và vị đắng của tình yêu - đó là Xuân Diệu.