CÁCH SẮP ĐẶT CÚNG TẾ
Về cách sắp đặt cúng tế, thì rất kỵ việc sát sinh, vì việc sát sinh càng làm liên lụy khổ quả cho người chết. Cho nên thân trung-ấm nếu một phen thấy được việc ấy tức thì bảo thôi ; như ngặt nỗi âm, dương cách trở, nên không thể nào nghe được. Vì thế kẻ sống còn, vẫn trở lại làm sát sinh như thường. Đối với kẻ chết không thể ngăn nỗi sân niệm khởi lên. Đã thế nếu một phen sâu tâm khởi lên, liền phải đọa vào địa-ngục ; cho nên người sắp đặt cùng tế cần phải chú ý. Nếu muốn cúng tế, thì nên dùng đồ chay, hương, hoa, sữa, bánh và đồ trái, chờ dùng những đồ nế-tạp và sát hại sinh vật. Như trong kinh Địa-tạng đã nói : "Làm những việc sát hại, cho đến bái tế quỷ thần ; đã không có một mảy may phúc đức, có thể lợi cho kẻ chết, mà còn kết thêm tội lỗi càng sâu nặng. Dù cho kẻ chết về đời sau của họ, hoặc trong đời này có thể chứng […] hoặc sinh lên Trời ; nhưng khi làm chung bị bà con làm ác-nhân ấy (tức là nhân sát hại) cũng làm cho họ phải liên lụy nhiều bề, chậm sinh về chỗ lành. Huống chi kẻ chết đó khi sống còn chưa từng làm một chút việc lành, chỉ một bề nương theo gốc nghiệp mà tạo tác, lẽ ra phải chịu ác thú, nỡ nào bà con lại gây thêm nghiệp cho họ ?
Trong luật Thuận-chánh-lý quyển thứ ba cũng có nói : "Có con quỷ tên là Hy-tư, nó hành-động được tự-do, có thể đi khắp các phương dễ dàng cũng như chim bay giữa trời, qua lại không ngăn ngại. Sở dĩ nó phải đọa làm thân quỷ, duyên cớ có hai : 1.- Là lúc bình sinh của nó, mê say theo lối bàn luận của thế tục, chấp rằng : chết rồi quyết phải thành quỷ. Cho nên luôn luôn mong mỏi sau khi chết rồi, sẽ được con cháu đem đồ ăn đến cúng tế. Vì chấp chặt tà-kiến ấy, và nhờ có căn lành đời trước, nên mới đọa vào loài quỷ này, luôn luôn mong mỏi thờ cúng, bởi thế nên gọi là quỷ Hy-tự. 2.- Là lúc bình sinh hay ưa gần gủi giao thiệp và vì muốn được giàu có, cho nên chỉ biết tích trữ của cải cho mình, ôm lòng bẩn chật, dù cho dư dật cũng không chịu bố-thí. Vì ác nghiệp ấy, nên phải đọa vào loài quỷ này. Luôn luôn vì lòng ưa mến của cải ở đời, cho nên thường hay nương náu chung quanh nhà cửa hoặc những nơi nhơ nhớp. Bởi thế, nếu bà con bạn bè có cúng tế, thì sinh lòng cảm khái và hối hận, sự bẩn chật của mình ngày trước. Do cái niệm lành ấy, nên được cái phúc hưởng thọ cúng tế.
Trong kinh Quán-Đãnh quyền thứ sáu cũng có nói : "Những kẻ trong lúc bình sinh không làm lành, cũng không làm dữ ; thì sau khi chết rồi, không có quả báo gì xuất hiện, cho nên sẽ làm loài quỷ và được tự do. Nhưng loài quỷ này thường hay nương náu nơi mồ mả của mình, hoặc mồ mả của kẻ khác ; dựa theo cái dư khi của cốt tuỷ mà cũng được hưởng thụ. Đến khi xương tuỷ đã mục nát, thì mất chỗ nương tựa tức là tìm đến chỗ nào xương tuỷ chưa mục nát và vô chủ để nương tựa. Trong kinh Chính-pháp-niệm-xứ,[…] thứ 16 cũng nói : "Có một loài quỷ tên là Hy-vọng, vì trong lúc sống còn, hay ưa buôn bán tính toán, chẳng kể gì đến phải chăng ; gạt người lấy của, làm như thế mà tự cho là vừa ý. Còn những việc bố-thí, thành tín, phúc đức, giới cấm v.v... thì không bao giờ nói đến. Luôn luôn ôm lòng bỏn sẻn ganh tị, không ưa gần gủi bạn lành. Cho nên đến khi lâm-chung phải đọa vào làm quỷ này. Loài quỷ này mặt mày đen xém, luôn luôn rơi lụy, tay chân lở loi, tóc tai bù xù, đói khát áp bức; phải chịu bao nỗi đắng cay, kêu gào thảm thiết. Nếu như con cháu có lòng nghĩ đến tiên-linh mà cúng tế, thì quỷ này mới được uống ăn. Ngoài ra không bao giờ được hưởng thọ.
CÁCH VẬN CHƯỞNG ĐỂ GIÚP ĐỠ SIÊU THĂNG
Sau khi hơi thở đã tắt, nhưng thân thể chưa toàn lạnh hẳn, thì cần phải đến gần một bên tai kẻ chết mà kêu gọi ; và chuông, khánh phải đánh luôn luôn chớ cho dừng nghỉ. Nếu như bản thân đã đều lạnh, chỉ có đầu và […] chỉ có thể biết chắc người chết đó được sinh về Tây-phương, không phải ngờ vực, và không nên kêu gọi nữa. Cho nên chỉ vì họ đánh chuông niệm Phật, mãi cho đế khi hơi ấm ở trên trán đã tản hết, đấy là điều cần mà thôi.
(Hơi ấm dồn vào dưới bàn chân, ấy là sa vào địa-ngục. Hơi ấm dồn xuống đầu gối, tức sinh vào súc-sinh ; hơi ấm dồn vào bụng là đọa vào ngạ-quỷ ; hơi ấm dồn vào ngực, là chuyển sinh vào nhân-đạo ; hơi ấm dồn lên giữa chân mày là sinh lên cõi Trời ; hơi ấm dồn lên trán là siêu sinh về Cực-Lạc).
Xét biết trên đầu và trán lạnh trước, còn ngực, bụng, đầu gối và các chỗ khác hãy còn hơi ấm, thì biết nghiệp thức của kẻ chết còn ở chỗ dương ấm. Khi đó phải tiếng niệm Phật, tiếng chuông cứ luôn luôn không ngớt, và nên mời người dùng phương-pháp vận chưởng (dùng tay mà vần chuyển) để giúp đỡ cho nghiệp-thức của kẻ chết được từ nơi chỗ ấm đó mà đi dần lên đến đỉnh-môn (trán) vì kẻ được sinh về Tây-phương […] nơi đỉnh-món mà ra.
Phương-pháp vận chưởng phải đưa hai tay ngang nhau mà chuyển lần, và phải úp hở trên chỗ ấm, không nên cho động đến thân, phải cách thân độ nửa tấc. Rồi dùng hai bàn tay xây trở lên trán mà vận chuyển, thẳng lên cho đến tráng. Tinh thần của hai con mắt mình phải chăm chú nơi hai tay và thầm tưởng tượng nghiệp-thức của kẻ chết phải theo tay mình mà trở kên trên trán để đi. Khi dó trong miệng thầm khấn rằng: "Nam-mô đại-từ đại-bi A-Di-Đà Phật, xin ngài đến tiến dẫn cho vong-linh tên... sẽ từ trên đảnh môn mà ra, mà sinh về thế giới Cực-Lạc phương Tây ; quyết định vãng-sinh !" Phải luôn luôn vần chuyển hai tay, và luôn luôn khấn khứa như thế, và niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà và danh hiệu Quán-thế-Âm.
Như vậy tinh-thần chăm chú, tay vần, miệng niệm, cả ba nghiệp đều thi hành, nếu mỏi, thì đổi người khác luân phiên tiếp tục. Hoặc nửa ngày hay một ngày, không nên nửa chừng mà thôi nghỉ. Phải là cho đến khi khắp các chỗ trong thân đền lạnh hết, […] một chút hơi ấm trên đỉnh mới thôi. Như thế nghiệp-thức của kẻ chết đã được hiệu Phật và tiếng chuông […] tỉnh không thôi ; lại được kẻ vận chưởng […] -thần chăm chú trợ niệm không nghỉ, thì hoặc chậm hoặc mau, chắc chắn phải xoay trở lên trên đỉnh-môn, mà được thấy Phật A-Di-Đà và vãng sinh về Cực-Lạc vậy. Nhưng người chú nguyện và vận chưởng đó, cần phải mời được những người tu niệm Phật đã lâu, và sẵn lòng từ-bi thì tốt hơn cả.
HỒI HƯỚNG
Nguyện đem công dức này
Hồi hướng cho tất cả,
Tôi và các chúng-sinh,
Đều được thành Phật quả.
Dịch xong ngày mồng 10 tháng 11 Kỷ-sửu, P.L.2512
(Nếu không sai, thì có lẽ các bạn đang còn bỡ ngỡ với danh từ Trung-ấm-Thân, mặc dầu với nội dung của cuốn sách này đã cung cấp cho các bạn thấy rõ trạng thái và năng lực của Trung-ấm-Thân.
Trong Đạo Phật thường dùng danh từ Trung-ấm-Thân để chỉ cho năng lực động tác của con người - hay một sinh vật cũng thế - trước khi đầu thai và sau khi đã chết (ở giữa thân trước và thân sau, nên gọi là Trung-ấm-Thân)
Đấy, chúng ta thấy tương tự như quan-niệm LINH-HỒN của người đời thường hiểu. Bởi thế cho nên dưới đây chúng tôi xin trích đoạn văn nói về "CÁI-HỒN" đăng trong báo VIÊN-ÂM có 4 năm thứ nhất. Mong rằng với đoạn văn ngắn ngủi này, có thể giúp ích nhiều cho các bạn trong khi nghiên cứu đến vấn-đề Trung-ấm-Thân hay là LINH HỒN cũng vậy).
Mùa Đông năm Kỷ-Sửu Dịch giả cẩn-chí
CÁI HỒN
TÍNH CÁCH - Tính cách của cái hồn cũng như tính cách của ngàn muôn pháp (sự hay vật) khác, theo chỗ hiểu mỗi người, ý nghĩa không y nhau ; nên trước khi bàn về cái hồn, cần phải định rõ tính cách của cái hồn, rồi mới có thể bàn được. Định tính cách, chỉ định theo ý-tưởng của đại đa số người mà thôi, xin chớ nhận lầm rằng đó là tính cách nhất định của cái hồn theo lý-nghĩa đạo Phật.
Trong thế-gian, khi chết thì nói hồn ra khỏi xác, khi ngủ thì nói hồn đi chơi, khi dậy thì hồn nhập xác, cho đến khi chiêm-bao có làm việc gì, cũng nghĩ là hồn mình làm, thậm chí có nhà Thôi-miên-thuật, đem riêng một cái hình lờ mờ ra ngoài cho là cái hồn, khi chích kim vào, hồn ấy cũng biết đau nữa. Xét như vậy, thì theo ý-tưởng thông thường, cái hồn cũng đủ mắt, mũi, tay, chân, biết thấy, biết nghe, biết thương, biết ghét như người thường, chỉ khác vì người sống không thể thấy hồn được, hoặc chỉ thấy lờ mờ mà thôi.
DUYÊN CỚ - Mấy lâu nay, vì không định rõ tính cách cái hồn, nên các nhà học Phật đã thường cãi nhau về vấn-đề ấy, cãi nhau mãi là vì mỗi người hiểu mỗi cách.
Chúng tôi làm bài này, chẳng phải muốn bênh vị ai, nhưng cốt để cùng tin-đồ Phật-giáo giải quyết vấn-đề trọng yếu kia một cách chánh đáng.
LỜI LUẬN - Như nói rằng, riêng một phần hồn cũng thấy, cũng nghe, thì tôi xin hỏi : Đương khi mình sống, cái thấy, cái nghe của mình là hồn thấy, hồn nghe hay là thân thấy thân nghe ? Nếu như nói thân thấy, thân nghe, thì người chết vẫn có mắt, còn tai, sao lại không thấy không nghe được ? Còn như nói hồn thấy, hồn nghe, thì cái thấy cái nghe kia phải nương theo xác thịt mới có, hay riêng một phần hồn cũng có ? Như nói nương theo xác thịt mới có thì cái hồn ra ngoài xác chắc không còn thấy nghe nữa, sao người đời lại tin rằng […] hồn cũng thấy cũng nghe ? Vả chăng nếu hồn cần phải nương theo xác mới thấy mới nghe được thì chỉ nên nói người sống (hồn và xác) thấy, người sống nghe mà thôi, chớ không thể nói riêng phần xác hay là riêng phần hồn cũng thấy cũng nghe được. Còn như nói chỉ một phần hồn cũng thấy cũng nghe, không cần đến xác, thì hồn ấy ra thế nào? Khi mình đứt một cánh tay hồn có đứt cánh tay không ? Nếu hồn cũng đứt cánh tay thì hồn với xác là một sao lại chia làm hai ? Nếu hồn như hư-không không thể đứt được, thì làm sao hồn những người mắc bệnh đui không tự thấy đường mà đi, lại phải nhờ người dắt ? Dầu cho rằng hồn chỉ có tính biết, không phải là nghe thấy, không phải là cái cảm-xúc cũng không được ; vì ngoài cảm-xúc và di-ảnh của xác thịt, chúng ta thật không còn cái gì gọi là tính biết nữa.
Đến như chiêm-bao thì không thể nói là hồn hay là xác được ; chiêm-bao do tư-tưởng của mình biến ra mọi sự, tư-tưởng trong sạch thì thấy những điềm lành, tư-tưởng trong sạch thì thấy những điềm lành, tư tưởng độc ác thì thấy những điềm dữ chớ không chi khác. Nếu như nói thân trong chiêm-bao là hồn của mình, thì còn cả cảnh-giới trong chiêm-bao là ai ? Cảnh giới ấy thật có hay không thật có ? Nếu như thật có, thì làm sao những người chung quanh mình lại không thấy ? Nếu như do tư-tưởng mình mà thành ra, thì tất cả cảnh-giới trong chiêm bao đều là mình, riêng chi một cái thân kia đâu, mà lại nhận là hồn là xác.
Xét như vậy thì đủ biết cái hồn biết thấy biết nghe, biết có mình có người, biết thương ghét buồn vui kia, không thật có.
LỜI QUYẾT NGHI - Không thật có... làm sao nhiều người thấy ma chán-chường, lại có người đánh đồng-thiếp thấy rõ ông bà cha mẹ? Muốn trả lời câu này, tôi xin hỏi thêm một câu nữa, là nhân-vật trong chiêm-bao thật có hay không có ? Chắc ai cũng trả lời rằng không, vì nếu thật có, sao khi tỉnh dậy thì không thấy.
- Nhân vật trong chiêm-bao không thật có, nhưng vì chiêm-bao nên in tuồng là có, cũng như con ma vẫn không thật có, nhưng vì lòng mê-tín và lòng khiếp sợ nên hoá ra có. Đánh đồng-thiếp thấy cái hồn ông bà dưới âm-phủ, nào khác chi những người xem múa rối, mắt phải thôi-miên-thuật, thấy có trâu đi qua ống tre, đó là do tư-tưởng của mình hoá ra, chớ không chi khác.
Có người lại nghi rằng : Không có hồn thì sao ngày nay chúng ta lại sống được. Nghĩ như vậy là chưa hiểu, chớ tôi nói không có hồn là không có cá hồn theo như lối thông thường, nghĩa là cái hồn có mắt, có mũi, có tay, có chân, biết người, biết mình, biết thương, biết ghét kia, chớ không phải tôi nói không có cái gì làm cho chúng ta sống đâu. Cái làm cho chúng ta sống, khi nào cũng vẫn có, sau khi thân chết rồi cũng vẫn có, vì nếu cái ấy không có, thì cái sống cũng không có, làm sao mà sống được ? Nhưng cái ấy, là cái ấy, chớ không phải như cái hồn theo lối thông thường đâu. Trong khi cái ấy làm cái thân chúng ta sống ; thân chúng ta mới theo cảm-giác của loài người mà phân biệt ; Này là thân, này là cảnh, này là mình, này là người ; rồi tưởng-tượng cái ấy có mắt, mũi, tay, chân. Thật ra thì không phải thế ; cái ấy vẫn làm cho thân sống, vẫn làm cho mắt […] nghe, vẫn làm cho ta có tư-tưởng. Nhưng thật ra cái ấy không riêng một thân nào, không riêng một đời nào cả ? Ví như điện khí vẫn khắp cả vũ-trụ, không nơi nào là không có, mà tuỳ theo chỗ dùng của mình, có luồng điện mạnh, có luồng điện yếu, có đèn sáng, có đèn lu ; cái ấy cũng vậy, cái ấy cùng khắp mọi nơi, mà cũng tuỳ theo chỗ hành động của không khí làm cho thân này, khi làm sống một thân khác, rồi tuỳ theo thân mình mà in […] như có mình, có người, có sống, có chết.
LỜI KẾT LUẬN - Muốn cho có đèn sáng, cần phải làm ra luồn điện mạnh, làm ra cái đèn tốt, cũng như muốn được thân trong sạch, muốn được cảnh vui vẻ, cần phải hành động một cách chánh đáng, đó là lẽ tất nhiên ; chớ cái làm cho chúng ta sống đây không thể kêu bằng chi được, gượng mà phải gọi là "TÂM" ; một điều chắc-chắn là không phải cái hồn tự một mình biết thương biết thương biết ghét, biết thấy, biết nghe đâu.
(Trích trong báo VIÊN-ÂM số 4 năm thứ 1)
---Hết---