Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Tàn Tuyết [Can Xue] cùng “thế giới ma huyễn”.

6 trả lời, 2.184 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-03-29 01:12:06meocon_thongminh93>
Nguồn :Tienve.org/
(Người dịch các tác phẩm này là Lưu Hồng Sơn )
1:ĐỨA BÉ NUÔI RẮN ĐỘC
Tướng mạo Sa Nguyên rất bình thường, không thể tìm ra một điều đặc biệt nào ở nó. Khi không nói, gương mặt nó trơ trơ, tuy vậy, cũng không hẳn giống khuôn mặt của người chết.
“Nó lúc nào cũng ngoan ngoãn,” mẹ Sa Nguyên nói với tôi, “nhưng dở một cái là nhất định không ra khỏi cửa, cứ ru rú trong nhà như vậy thì biết cái gì. Vấn đề này xảy ra khi nó sáu tuổi. Hồi đó thừa lúc tôi và cha nó không để ý, nó đã trốn đi, chúng tôi phải đi tìm rất lâu, cuối cùng mới phát hiện nó đang ngủ trong bụi hoa hồng ở công viên, nó nằm ngửa, dang tay dang chân với bộ bất cần. Sau đó, nó nói với chúng tôi rằng cái mà nó nhìn thấy không phải là hoa hồng, mà là rất nhiều rắn, nó còn nói thấy rất rõ cả xương xẩu bên trong của chúng, rồi nó bị một con rắn cắn và ngã lăn ra ngủ. Thật ra, lúc đó Sa Nguyên chưa từng nhìn thấy rắn thật, chỉ thấy chúng qua ti vi, chúng tôi sợ quá, phải tăng cường trông nom không để nó ra khỏi cửa.”
Khi chúng tôi nói chuyện, Sa Nguyên ngồi trong phòng, gương mặt bất động đối diện với cánh cửa tủ gỗ. Tôi ngạc nhiên đến nỗi cứ luôn thò đầu ngó qua chỗ nó.
“Không phải lo, nó đã không nghe được từ lâu, muốn để ngoài tai cũng được. Sau đó có một bác sĩ khuyên chúng tôi đem nó đến nơi có phong cảnh đẹp, để nó tiếp xúc với nhiều người, như vậy tình hình sẽ cải thiện tốt hơn. Chúng tôi đến bãi biển. Ban ngày Sa Nguyên thường đùa chơi cùng những đứa trẻ lang thang khác trên bờ biển, nhưng nó rất dễ mệt mỏi. Chúng tôi vẫn chú ý trông nom nó, nó là đứa trẻ khiến người ta không lúc nào có thể yên tâm được. Chỉ cần mệt, là nó lăn ra ngủ ở bất cứ chỗ nào, hết sức tuỳ tiện. Buổi tối khi rửa chân, nó cũng có thể vừa rửa vừa ngủ. Chúng tôi cho rằng việc rửa chân của nó, thực tế chỉ là một động tác mang tính máy móc, còn não bộ của nó thì đã nghỉ ngơi từ lâu rồi. Sang ngày thứ ba, có một đứa bé con nhà đánh cá chạy vào phòng chúng tôi giơ ngón tay chảy máu lên nói rằng đó là do Sa Nguyên cắn. Chúng tôi hỏi Sa Nguyên, nó cười ngơ ngẩn nói rằng đó là đầu một con rắn, nó không cắn, thì thằng bé kia sẽ cắn nó.
“Chúng tôi ở bãi biển được một tháng, phong cảnh đẹp nơi đây chẳng có ảnh hưởng gì tốt đẹp đối với Sa Nguyên, năm đó nó chín tuổi. Từ đó về sau, năm nào chúng tôi cũng đi du lịch, qua sa mạc, đến ao hồ, vào rừng sâu, tới thảo nguyên; Sa Nguyên vẫn không hề khá hơn, nó ngồi trên toa xe lửa cứ y như ngồi ở nhà, không cả nhìn ra ngoài khung cửa, cũng không nói chuyện với ai, có thể nó gần như không biết đến cuộc lữ hành của mình. Đương nhiên, tôi và cha nó đều biết rằng từ nhỏ nó đã như vậy, không hề quan tâm đến những chuyện chung quanh mình, nói thế nào nhỉ, có lẽ là nó thiếu nhạy cảm đối với sự vật mới. Năm trước chúng tôi phát hiện trên cánh tay phải của nó có nhiều vết thương, khi gạn hỏi, nó dẫn chúng tôi đến một căn phòng trống, bên trong tối đen như mực. Khi nó bật đèn pin lên, chúng tôi nhìn thấy một ổ rắn hoa bên trong chiếc thùng giấy. Cha nó kinh hoàng hỏi, nó nói: ‘Con bắt mỗi nơi một con gom vào đây.’ Thật kỳ quái, chẳng phải suốt ngày nó ở cùng một chỗ với chúng tôi đó sao? Chúng tôi vẫn để ý trông nom nó mà! ‘Chẳng hề có chuyện lúc nào cũng ở sát nách cha mẹ đâu, đó chỉ là hiện tượng bề ngoài thôi.’ Nó lại tuỳ tiện chen vào một câu.
“Sau khi cha nó dỗ cho nó đi chỗ khác, tôi đã tìm một cái cuốc và băm nát mấy con rắn độc nhỏ ấy đi. Khi trở về, chúng tôi thức thâu đêm suốt sáng để đề phòng nó bỏ đi. Nhưng hai ngày sau, trên tay nó lại xuất hiện vết thương mới, nhất loạt đều là hai dấu răng đo đỏ giống nhau. Nó còn nói với chúng tôi: ‘Cha mẹ sao lại phải khổ sở như vậy chứ, cha mẹ không hiểu rằng con chỉ ở bên cha mẹ với cái vẻ bên ngoài. Tuy con ngồi ở đây, nhưng có chỗ nào mà con chẳng thể đi? Rắn rất nhiều, chúng nó thường lạc đường, con chỉ đi gom chúng lại một chỗ, để chúng không bị cô đơn. Đương nhiên việc làm ấy cha mẹ không thấy, hôm qua con tìm thấy một con rắn bên cái tủ sách, chỉ cần con muốn tìm là có thể tìm được. Lúc nhỏ, con sợ bọn rắn ấy lắm, lại còn từng cắn một cái đầu rắn nữa kia, bây giờ nghĩ lại thật buồn cười.’ Nó quay sang nói với tôi như vậy.”
Hôm đó, Sa Nguyên ngồi xoay lưng lại phía chúng tôi, rồi bỗng nhiên nó giơ tay vỗ vỗ vào đầu. Chúng tôi chạy đến, mẹ Sa Nguyên xoay nó quay về phía chúng tôi, vẻ mặt của nó rất bình thản. Tôi lựa lời hỏi rằng nó ngồi một mình ở đây làm gì? Như vậy chẳng phải là buồn lắm sao?
“Lắng nghe.” Nó trả lời câu hỏi của tôi một cách đơn giản.
“Vậy đã nghe được gì nào?”
“Chưa thấy gì cả, rất yên tĩnh. Nhưng đến chín giờ tối, tình hình sẽ khác.”
“Con cứ thờ ơ như vậy, thì cha mẹ biết sống làm sao?” Mẹ Sa Nguyên lại bắt đầu than thở.
“Không vứt bỏ cái gì hết.” Sa Nguyên từ tốn nói, “Con sinh ra là để đi bắt rắn.”
Tôi bắt đầu khuyên mẹ Sa Nguyên không nên quan tâm đến chuyện của nó nữa, theo tôi, thằng bé ấy tuy có hơi kỳ lạ, nhưng trời sinh như vậy, nói không chừng nó sẽ làm nên việc lớn cũng nên.
“Chúng tôi không mong nó làm nên được đại sự gì cả,” mẹ Sa Nguyên nói, “nó cũng như cha nó thôi, đều là người bình thường, nhưng nó lại làm những chuyện đáng xấu hổ, nuôi rắn độc khiến người khác phát khiếp, cuối cùng thì nó muốn làm gì đây? Thế này thì chẳng đáng sợ như sinh ra một con rắn độc hay sao? Chúng tôi không lúc nào được yên, bị nó làm cho khô héo tàn tạ, đáng sợ nhất là bây giờ hầu như nó không bước ra khỏi cửa, nhưng vẫn làm được những chuyện kỳ quái và nó luôn đạt được mục đích.”
Có một hôm, tôi tình cờ gặp mẹ Sa Nguyên từ căn phòng trống bước ra, mặt mũi tiều tuỵ, tay cầm một cái cuốc, khi tôi hỏi, mới biết là bà lại đi diệt ổ rắn, giết được tám con. Mái tóc của bà nhanh chóng phai màu, bước đi già nua lọm khọm. Phía sau bà, là cha Sa Nguyên –- một ông già mắt chớp liên tục. Cuối cùng là Sa Nguyên bước ra, khom lưng, vẻ mặt hiền lành, nó gật gật đầu khi trông thấy tôi và nói:
“Cháu đã tạo được một nơi giết chóc đặc biệt hoành tráng rất thú vị, tám sinh mệnh bị tiêu diệt trong một lúc. Với chúng nó, hoàn toàn không có gì khủng khiếp bằng, điều khiến cháu kinh ngạc là không hiểu tại sao cái tay cầm cuốc lại có thể tự tin như vậy được.”
Tôi hỏi nó rằng có phải chính nó đã dẫn cha mẹ nó vào cái phòng trống ấy hay không. Nó xác nhận, cha mẹ nó đòi đến đó, và nó lập tức dẫn hai người đi, nó luôn có một sự tò mò đối với các hành vi của cha mẹ nó. Khi nó nói những điều này, thì bà mẹ đang ngước lên bầu trời xa xôi, đôi mắt thất thần, còn cha nó thì buông một câu: “Nếu ai quá mẫn cảm, thì cuộc sống của người ấy sẽ gặp nhiều khó khăn, phong cảnh đẹp có thể khiến người ta mở rộng tầm mắt.”
Tôi phát hiện ra rằng, trong ba người bọn họ, thì người ủ rũ nhất là bà mẹ, còn Sa Nguyên thì luôn có vẻ bình thản. Thoáng chốc, tôi bỗng nhiên hiểu ra tất cả, giữa ba người có một thứ quan hệ tế nhị, một thứ kềm chế đặc biệt. Mà chuyện này chính là một minh chứng rõ ràng. Thì ra, Sa Nguyên hoàn toàn không dẫn cha mẹ đến căn phòng trống, có thể nó dẫn họ đến một nơi nào đó, nhưng đây có phải chỉ là bởi tính cách hiền lành của nó?
Tôi nhớ lại lúc Sa Nguyên còn nhỏ. Rõ ràng, nó là một đứa trẻ rất hoạt bát, khuôn mặt biểu cảm. Mẹ của Sa Nguyên rất tự hào, nhưng lại có vẻ bất an, bà từng lặng lẽ nói với tôi rằng Sa Nguyên rất dễ mệt mỏi, đặc biệt là không thể nghe người khác nói chuyện, chỉ cần ai nói chuyện với nó, thì mí mắt nó sụp xuống, rồi lát sau đã ngáy khò khò, “cứ như cây xấu hổ, nhưng nó hoàn toàn không xấu hổ gì cả.” Đến năm tuổi, nó vẫn giữ thói quen ấy, về sau nó mới học cách tự khống chế mình, nhưng đó cũng chỉ là vẻ bề ngoài. Người khác nói chuyện với nó, mới được vài câu, nó đã ngáp liên hồi, nếu nói nữa, thì nó vừa nhìn vừa ngủ. Lúc đó, nó hoàn toàn không chán ghét cuộc sống du lịch, mà ngược lại còn thích thú nữa là khác, vì như vậy sẽ không còn phải nghe người khác nói nữa.
Khi cha mẹ đi ngắm cảnh, nó ngồi một mình, lắng nghe những âm thanh hỗn loạn của các động vật nhỏ phát ra. Nó luôn luôn có thể chỉ ra một cách hết sức chính xác nơi con chuột đồng đang đào hang, nơi nào con rắn kim hoàn đang trườn, có lẽ cả đời nó tập trung vào việc luyện tập loại thính giác đặc biệt ấy, nhưng những thanh âm trò chuyện của con người bị loại ra khỏi thính giác của nó. Nó luyện tập như vậy đến nay đã có thể thông qua những ý nghĩ manh nha để đạt đến mục đích nào đó. Nhìn bề ngoài, nó là một đứa bé tính tình hiền hoà, những đứa trẻ kiểu như nó khiến người ta dễ mất cảnh giác, chuyện đứa bé con nhà người đánh cá bị cắn chính là một ví dụ. Bây giờ thì đến lượt cha mẹ của nó. Cuối cùng nó đối xử với người và vật chung quanh như thế nào, đây thực là một câu đố nan giải. Ví dụ dường như nó xót thương những con rắn nhỏ, nhưng lại xui cha mẹ mình đi tàn sát chúng, việc này thật khó hiểu. Không thể nói rằng phong cảnh đẹp không có tác dụng đối với nó, có thể chính cảnh đẹp đã thai nghén nên loại tính tình như nó, mỗi người đều có những cảm nhận về phong cảnh rất khác nhau. Nói như vậy, nỗi khổ tâm của cha mẹ nó chỉ gợi ra tác dụng ngược lại với kỳ vọng của họ.
Bỗng một hôm, Sa Nguyên không còn cái vẻ trầm tư mặc tưởng như trước nữa, thái độ của nó đối với cha mẹ cũng chuyển từ ngoan ngoãn sang thân thiện. Khi tôi đi, thấy cả nhà ba người bọn họ đều có vẻ rất hoà thuận, trên khuôn mặt mẹ của Sa Nguyên cũng lộ vẻ tươi cười, mười mấy năm qua, người mẹ này đã hoàn toàn bị suy sụp vì con, mà bây giờ, những nếp nhăn trên mặt bà như từ từ giãn ra, bà vui vẻ nói với tôi: “Thằng Sa Nguyên bây giờ đã khôn ra rồi, thử nghĩ xem, tôi đã giết biết bao nhiêu rắn độc vì nó!” Khi bà nói, Sa Nguyên ngồi bên cạnh cười híp mắt phụ hoạ.
Tôi không tin sự việc lại đơn giản như vậy, tôi ngầm cảm thấy rằng vẻ mặt tươi cười của Sa Nguyên kia có điều giả dối. Tuy bây giờ nó không nuôi rắn độc nữa, nhưng ai biết đâu nó lại chẳng bày ra một trò mới gì đó? Tôi quyết tâm nói chuyện thân thiện với nó một chút xem thế nào.
“Cháu không cần tìm chỗ nuôi rắn nữa rồi,” Sa Nguyên trả lời tôi, “chúng ở ngay trong bụng của cháu, đương nhiên không phải là lúc nào cũng nằm im trong đó, mà khi cháu muốn là chúng sẽ đến, nhất là con rắn hoa nhỏ mà cháu thích.”
Tôi chăm chú nhìn cái thân thể ngày càng gầy hao đi của nó, và hỏi nó rằng mẹ nó có biết việc này hay không? Nó nói không cần, vì con rắn nhỏ không chiếm không gian, nếu nó không nói, thì sẽ không có chuyện gì xảy ra, mọi người đều vui vẻ. Tôi lại hỏi nếu như vậy sức khoẻ của nó có bị ảnh hưởng gì không? Nó chăm chú nhìn tôi một thoáng, rồi bỗng nhiên có vẻ mơ màng mông lung, vừa ngáp vừa nói: “Trong bụng ai mà lại chẳng có mấy thứ như vậy? Người ta không biết cho nên mới mạnh khoẻ. Cháu luôn buồn ngủ, chú nói cũng nhiều rồi, cháu rất ít khi nói nhiều như vậy, chú thực là một quái nhân.”
Tôi còn muốn hỏi nữa, nhưng đầu nó đã gục xuống trước ngực, ngủ đứng bên bàn.
Mẹ của Sa Nguyên phấn chấn tinh thần, cho nên trẻ ra rất nhiều. “Xem ra du lịch vẫn là điều cần thiết.” Bà vừa thu xếp hành lý vừa nói. Sa Nguyên cũng giúp mẹ một tay, trông rất vui vẻ. Nhưng lát sau, Sa Nguyên quay lại nôn oẹ. “Chuyện nhỏ,” nó vừa lau đôi môi nhợt nhạt vừa nói, và nó còn thì thầm với riêng tôi một câu: “Ấy là do con rắn hoa quậy.” Rất nhanh chóng, họ ngồi lên xe lửa và lên đường, xe chạy về hướng tây nam, hôm đó gió rất lớn.
Khoảng hai năm sau, họ mới trở về, cả ba đều có vẻ già đi, nhưng vẫn rất hoà thuận, nhìn kỹ cũng không thấy có điều gì bất thường ở họ. Hơn nữa, rõ ràng Sa Nguyên đã mập hơn trước một chút, mặt mũi cũng sáng sủa hơn. Tôi lén hỏi nó chuyện về những con rắn, nó nói rắn vẫn còn ở trong bụng, nhưng nó đã học được cách thích nghi rồi, cho nên bây giờ có nhảy cao hay chạy bộ cũng không có điều gì nguy hiểm cả, đôi khi như vậy lại còn tốt hơn cho sức khoẻ nữa cơ! Tôi hỏi nó tốt chỗ nào, nó lại ngáp dài, than rằng nghe người khác nói chuyện thật là khổ sở. Mẹ Sa Nguyên mời tôi ở lại ăn cơm tối, trong bữa cơm, người đàn bà vui vẻ líu ríu trước đó bỗng trở nên trầm tư, ít nói, hơn nữa cũng không còn tự tin như trước. Cha Sa Nguyên nói: “Chúng ta sẽ không đi du lịch nữa.” Không ai nói lời nào.
Từ đó về sau, cổng nhà họ lúc nào cũng mở toang, cha mẹ Sa Nguyên cũng không còn giám sát hành động của nó nữa, dường như họ đã mất sự hứng thú với việc ấy và có vẻ rất bải hoải. Họ sốt ruột, suốt ngày chăm chăm nhìn đồng hồ, rõ ràng là đang chờ đợi một điều gì đó. “Chờ chết,” Sa Nguyên nói và vỗ nhè nhẹ lên bụng mình, cái bụng lép kẹp như không có thứ gì bên trong. Sa Nguyên nói tình hình hiện nay là tốt, cha mẹ nó cho rằng nó không còn nuôi rắn nữa, nhưng thực tế làm sao mà thay đổi được?
Gió cuối thu từ bình nguyên thổi qua, như hát ca suốt cả ngày. Cái gia đình bí hiểm của Sa Nguyên khiến tôi càng ngày càng khó hiểu. Tôi nhớ mẹ Sa Nguyên mới có năm mươi tuổi, cha nó cũng mới năm mươi lăm, nhưng trông họ thật già nua, cử chỉ hành động của hai người đều chậm chạp khiến người khác nhìn mà lo lắng, hai người bọn họ đều bị xơ cứng mạch máu tim. “Nó đã hại chúng tôi,” cha Sa Nguyên bỗng nói, khuôn mặt đầy vẻ phức tạp, “chúng tôi đã suy sụp nhanh chóng như thế này đây.” Ông nói xong, vẻ mặt lại lập tức trở lại ôn hoà, ánh mắt dừng lại trên bả vai gầy guộc của Sa Nguyên với vẻ yêu thương hiền từ. Ba người bọn họ đều hiểu rõ lòng nhau, không cần nói.
Nói đến chuyện Sa Nguyên bỏ đi, cha mẹ nó mỗi người một phách. Người cha thì kể nó ăn cơm tối xong thì nó nói muốn ghé qua căn phòng trống xem thế nào, vì lâu không vào, không chừng trong ấy đã thay đổi rồi cũng nên. Khi đó, hai ông bà đều không chú ý đến lời của nó, bởi thực ra họ cũng đã chán nản lắm rồi. Sa Nguyên nói rồi đứng lên, liêu xiêu đi về phía cửa, gần đây nó gầy đi trông như cành củi khô. Kết quả là cả buổi tối nó vẫn chưa về, mà người nhà cũng lười đi tìm. “Chuyện này thật là phiền,” cha Sa Nguyên nói, đôi mắt đờ đẫn dán vào kính cửa sổ.
Còn mẹ Sa Nguyên thì tựa như không thừa nhận chuyện nó bỏ đi. “Thằng bé này vốn không đáng tin cậy lắm, chúng tôi đã mỏi mắt trông chừng nó hơn mười năm nay mà không có hiệu quả gì. Nói thế nào nhỉ, nó vẫn cứ nghênh ngang chạy khắp nơi như cũ, mà chúng tôi không thể tìm đâu được. Bây giờ tôi cũng hết hơi rồi, ai biết nó có phải là con tôi hay không, có phải nó luôn luôn ở chung với chúng tôi không? Tôi không cho rằng hôm qua nó bỏ đi luôn, từ trước đến giờ tôi không có cách nào để khẳng định rằng nó hiện hữu hay không hiện hữu.”
Họ nói như vậy, tôi cũng hoang mang. Sa Nguyên là gì? Nghĩ đi nghĩ lại, trong đầu chỉ có mấy cảnh lộn xộn, vài câu kỳ quái, mà định thần lại, thì mấy câu cú ấy cũng biến mất. Về Sa Nguyên, thì ngoài cái tên ra, tôi thực sự cũng không biết gì hơn.
Khi mọi người đều cho rằng Sa Nguyên không tồn tại, thì nó lại quay về, vẫn bình thản như cũ và trông có vẻ rất hiền lành. Nó làm như vậy, cha mẹ nó càng không để ý rằng nó có hiện hữu hay không hiện hữu, bây giờ họ cũng đã thật sự mệt mỏi lắm rồi.
“Vì sao lại có cái tên Sa Nguyên nhỉ?” Tôi bỗng nghĩ ra và hỏi.
“Cứ nghĩ đến điều này là tôi bực bội, không ai đặt cho nó cái tên ấy cả, vậy cái tên ấy từ đâu ra nhỉ?” Mẹ nó ngơ ngẩn nói.


----------------
[/align]Truyện ngắn “Đứa bé nuôi rắn độc” được dịch từ nguyên tác 饲养毒蛇的小孩 [Tự dưỡng độc xà đích tiểu hài] (bản điện tử do chính Tàn Tuyết gửi tặng người dịch).
[/align] 
Đăng nhập để trả lời
0
2:HẸN
 
Hôm nay tôi và anh ta có hẹn. Anh ta là một người cùng kiểu như tôi, loại người đó do tôi tưởng tượng ra. Mấy năm gần đây, tôi hẹn hò với đủ loại người, họ đều là loại người do tôi tưởng tượng ra cả. Trong số các cuộc hẹn ấy, thì có hơn một nửa, tôi không đến, tôi chỉ gặp họ trong đầu. Cũng có khi cá biệt, tôi đến nơi hẹn, sau đó quay về với những món quà kỷ niệm làm bằng giấy sáp. Trên kệ sách nhà tôi, tôi đã xếp đầy những thứ nho nhỏ xanh xanh đỏ đỏ như vậy, và tôi thường ngồi trong đó chăm chú nhìn ngắm chúng, rồi có lúc bỗng nhiên cười “hì hì”. Chồng tôi thường lấy cớ dọn vệ sinh, dùng một cây chổi đặc chế đập tới đập lui trên mặt những món đồ nhỏ ấy.
Anh ta hẹn tôi ba giờ chiều nay đến một hoang đảo, anh ta lại nói thêm rằng, cũng có thể không đến, vì không nhất thiết phải đến, nếu tôi đã đi, có khi còn tệ hơn.
Tôi nghĩ một lát, vẫn quyết định đi, vì không nhất thiết phải không đi, nếu tôi không đi, lại càng tệ hơn. Khi đã quyết định như vậy, lập tức tôi nghĩ ngay đến những món quà.
Trời chiều không ra làm sao, hơi u ám. Một người đàn ông đứng bên kia đường đối diện với tôi, anh ta cầm một mảnh gương vỡ hứng ánh mặt trời chiếu lên bức tường nhà tôi, khiến cho người ta phải chói mắt. Tôi khoác chiếc áo gió màu lông chuột bước ra cửa, lấm la lấm lét nhìn ngó chung quanh một hồi, rồi chuồn ra đường cái, chui vào một chiếc taxi đậu bên đường. Gã tài xế không đợi tôi mở miệng, liền nhanh chóng đưa tôi đến điểm hẹn.
Anh ta không có ở đó, mặt trời chiếu nghiêng nghiêng trên đám cỏ khô, một con châu chấu bay lượn giữa không trung phát ra tiếng kêu “sạt sạt sạt” sau đó rơi xuống đám cỏ. Tôi bị lừa một cú lớn rồi. Vừa có gió là một bên con mắt tôi bắt đầu chảy nước, đây là dấu hiệu của sự lão hoá, mấy năm nay thường như vậy, và mỗi lần đều xảy ra ở mắt trái.
Chiếc taxi đã đi, tôi đành cuốc bộ trở về. Tôi đi và đi, giữa cỏ hoang vô biên vô tận, cơn gió lạnh lùng thổi khiến mái tóc hoa râm của tôi dựng đứng và quất vào má nghe “lựt phựt”.
Tôi không thể ra khỏi hoang đảo vì không có đường, mặt trời thuỷ tinh cũng đã biến mất. Tứ bề hiện ra một thứ ánh sáng màu lục kỳ quái, ánh sáng ấy không biết phát ra từ đâu, bầu trời tối đen như mực.
Tôi cố gắng nhớ lại, và nhớ ra chiếc taxi, rồi cả gương mặt lờ mờ của gã tài xế. Nhưng xe hơi thì làm sao có thể chạy trên biển được nhỉ? Nhưng chẳng phải là tôi đã đến đây rồi sao? Từ nơi xa xôi, vọng đến tiếng sóng biển và tiếng còi canô; định thần lắng nghe, thì lại phát giác ra rằng chẳng có âm thanh nào cả, đó chẳng qua chỉ là ảo giác trong đầu. Chiếc đồng hồ quả quýt của tôi trở chứng, bánh răng rên rỉ kêu “cọt kẹt, cọt kẹt” gấp gáp, lại chảy mồ hôi như người, khiến phần áo trước ngực tôi ướt một mảng lớn.
Trong mông lung, tôi phát hiện anh ta đang đứng đó. Bóng lưng mơ hồ của anh ta đối diện với tôi, toàn thân tắm trong thứ ánh sáng kỳ quái ấy.
“Sao em lại đến?” Vẫn cái giọng trong veo ấy, nhưng hôm nay có vẻ bị cảm.
“Em muốn xem mặt trời mọc” Đôi môi khô khốc của tôi từ từ uốn lượn.
“Anh sẽ biến mất khi mặt trời mọc. Sao em còn đến?” Anh ta lặp lại câu hỏi.
Tôi bỗng nhiên nhớ ra rằng xưa nay mình chưa từng gặp mặt anh ta, ngoại trừ trong căn phòng ấy. Trên tường phòng treo một cái đồng hồ quả quýt. Anh ta luôn luôn gặp tôi đúng vào lúc năm giờ sáng, tình hình ấy đã diễn ra hơn hai mươi năm. Lúc anh ta đến, lưng đối diện với tôi và không hề quay đầu lại. Lưng anh ta rất rộng. Qua năm giờ, tức khắc có tiếng mưa nhỏ giọt trên lá chuối bên ngoài cửa sổ. Anh ta ngơ ngẩn nói mãi một câu: “Nếu lúc này mặt trời xuất hiện, thì con rùa vàng sẽ biến thành chiếc máy bay trực thăng.” Bước chân anh ta rất nhẹ, lúc nào cũng bất ngờ rời xa tôi. Cửa phòng đóng lại, trên cổ tôi hiện lên đầy những nếp nhăn.
“Sợ lỡ cuộc hẹn với anh, nên suốt đêm em không ngủ.” Tôi đến gần anh ta, mày nhướng lên như một cô bé. “Bên ngoài mênh mông, khắp nơi là bóng đen mịt mùng. Em khoác chiếc áo ngủ trắng mỏng, đi qua đi lại, mắt nhìn chăm chắm vào cửa phòng. Em sợ rằng anh đến bất ngờ lúc em ngủ.”
“Anh và em từng đi dạo qua cánh đồng.” Tôi đoán anh ta đang mỉm cười, “Người em nhẹ bẫng, lại còn đi kiễng chân nữa. Em đã từng nói với anh rằng, em sợ giẫm vỡ một cái gì đó. Anh dìu em đi, nhưng vòng tay anh trống rỗng, em nhẹ như một làn khói. Trước bình minh, mùi rơm khô trên cánh đồng nồng nàn, chung quanh tối kịt. Chiếc áo trắng của em lấp loá. Em nói nếu lỡ giẫm làm đau những con nhái thì khổ. Rồi em vừa thì thầm vừa chạy như bay. Anh không thể nào đuổi kịp. Sau đó anh bỏ em lại, quay về bóng đêm thành phố, ở đó anh mới thực sự được nghỉ ngơi.”
“Ánh sáng xanh đã tan biến” Tôi khẽ nói.
Những con voi đi qua đi lại trong rừng, phía xa bầy nai chạy như bay.
Dưới đất có tiếng kêu mơ hồ khiến mặt đất rung rinh.
Cỏ lạnh. Sương rơi.
Đồng hồ của tôi đã hỏng, dây cót lỏng lẻo rối nùi bên trong.
Trong âm u, tôi nhận ra anh. Anh nhẹ nhàng nói với tôi sao môi tôi cong lên đáng sợ vậy, đôi mắt thì như hai chiếc đèn. Anh nói lúc đó anh bỏ tôi, là vì anh rất mệt. Anh không thể không ra đi, trước bình minh, trong thoáng những giọt mưa rơi trên tàu chuối ấy.
“Em cũng rất mệt. Em đi chân trần ra ngoài, bàn chân phồng rộp cả lên.” Tôi len lén tựa vào vai anh, “Anh luôn xuất hiện thật bất ngờ”.
Bờ vai anh trở nên mạnh mẽ và nóng bỏng bên má tôi. Tôi nghe tim anh đập mạnh, máu chảy qua cuồn cuộn.
“Chung quanh không có một tia sáng.”
“Bây giờ là trước bình minh.”
“Voi chạy suốt đêm trong rừng.”
“Anh sẽ biến mất khi mặt trời mọc.”
“Làm sao anh nhận ra em đến? Hơn hai mươi năm rồi, em vẫn tưởng tượng rằng anh không khác xưa. Nhưng anh đã thay đổi hẳn, em vẫn lại nhận ra anh.”
Sương đã rơi, thấm ướt đôi giày vải của tôi. Tôi len lén ôm anh chặt hơn. Cổ tôi nhỏ dài và mềm mại. Tôi muốn hỏi anh chuyện hàng chục năm trước đây, về chuyện anh tìm tôi như thế nào, về chuyện làm sao anh có thể mở cửa phòng đi vào, rồi chuyện anh có chú ý đến cái đồng hồ trên tường không. Nhưng tôi đã quên những điều muốn hỏi, vì sương rơi ngày càng nặng hạt, tựa như một cơn mưa nhỏ khiến quanh người tôi ướt đẫm và lạnh phát run.
“Tất cả đều sẽ tan biến khi mặt trời lên, thậm chí khiến em không kịp thất vọng. Sau đó anh không xuất hiện trong phòng của em nữa. Em đừng đến, bây giờ mọi chuyện đều đã hỏng cả rồi.”
Gò má của tôi bên cánh tay anh dần dần trở nên lạnh lẽo.
“Em vẫn cứ âm thầm hẹn cùng anh trong đầu.” Tôi ấp úng và ngừng run.
“Thành phố rất rộng, nhưng đêm đến vắng lặng không một bóng người. Anh đứng trong bóng đêm gọi em thật lớn, sao em không nghe thấy. Một làn gió núi buổi sớm thổi đến, em ngồi trước cửa sổ chăm chú nhìn gì đó, rồi em đi chân trần ra ngoài, mái tóc ngắn xoã trên vai, trên chiếc áo trắng rơi đầy bươm bướm vàng.”
“Răng của em đang rụng, anh nghe không: một chiếc, hai chiếc, ba chiếc... Em nhìn anh, anh đã trở thành một cái bóng đông cứng và bất động, phấn hồng từ những nếp nhăn trên đôi má em bong ra. Còn cái đồng hồ quả quýt, em vẫn cất trong ngực.”
Một tiếng kêu của loài chim đêm nào đó nghe chói tai. Trái tim anh tê cứng. Máu đang đông lại thành miếng lớn đỏ bầm. Sương trên ria mép của anh kết thành những hạt lấm tấm. Anh nhai những viên băng và nuốt xuống một cách khó khăn, sau đó mấp máy đôi môi tê tái. Tôi đoán anh đang nói:
“Tại sao em tới?”
Mắt anh mở lớn, đầy sương mù mông lung.
Ánh bình minh xuất hiện ở chân trời, bóng anh hoá thành mấy mảnh loang lổ. Tôi không nhận ra anh nữa rồi. Anh so vai, ngồi bên lặng lẽ. Anh thở dài nặng nề, dày vò mãi trái tim lạnh lẽo.
Thành phố sắp phục sinh. Sáng loà và huyên náo.
Tôi và anh sẽ sống mãi mãi.
Chạng vạng, chim sẻ vàng hót trên cây, hai chúng tôi mỗi người mở một khung cửa khác nhau để hoàng hôn vào phòng, và chìm đắm trong mộng tưởng xa xưa.
 
 
----------------[/align]Truyện ngắn “Hẹn” được dịch từ nguyên tác 约会 [Ước hội] (bản điện tử do chính Tàn Tuyết gửi tặng người dịch).[/align] [/align] [/align]
Đăng nhập để trả lời
0
3:BỌT XÀ PHÒNG TRÊN NƯỚC BẨN
 
Mẹ tôi đã biến thành một chậu nước xà phòng.
Không ai biết việc này. Nếu có người nào đó biết chuyện nhà tôi, hẳn họ sẽ chửi tôi là đồ súc sinh, là kẻ mưu sát hiểm độc và ti tiện.
Sáng nay, bà liên hồi la gọi tôi trong bếp, đến nỗi màng tang tôi rát lên.
Từ năm ngoái đến bây giờ, bà cứ ngủ trong nhà bếp. Mà thực ra, không phải là nhà tôi không có buồng ngủ. Nhưng không lúc nào bà quên than phiền với tôi rằng sao nhà cửa lạnh như hố băng, vừa bước vào là mũi dãi lòng thòng. Bà mắng tôi là “đứa ngỗ ngược”, là ngược đãi mẹ già trắng trợn, và cuối cùng kết thúc bằng những tiếng gào khóc thảm thiết.
Một hôm, không biết làm thế nào mà bà lại trèo lên được nóc gác — nơi từ nhiều năm qua bà chưa từng lên — tìm được một cái giường xếp cũ nát. Mặt mũi bà trở nên rạng rỡ vui vẻ như bắt được của quý, rồi ngay sau đó bà đem cái khung giường ấy đặt đối diện với lò than trong bếp.
“Mẹ ơi, cẩn thận kẻo trúng độc khí than bếp lò đấy”.
“Được rồi, con ngoan!” Bà vỗ vai tôi. “Đó không phải là điều mà mày trông đợi hay sao? Điều mà ngày đêm mày mơ tưởng chính là chuyện này chứ gì nữa, tao rõ cả rồi. Mày cứ kiên nhẫn đợi đi, có lẽ sắp được như mong ước rồi đấy con ạ!”
Tôi đỏ mặt, trong miệng lúng búng mấy tiếng không hiểu ra làm sao.
Để thị uy với tôi, trước khi ngủ, bà đóng cửa sổ nhà bếp lại thật mạnh, nghe ầm ầm. Điều kỳ lạ là không khi nào bà trúng độc. Có lần nửa đêm tôi đau đầu trở dậy và hoài nghi rằng không biết có phải bà đã trúng độc chết rồi hay chưa. Tôi khoác áo bước ra ngoài, đến bên ngoài cửa nhà bếp, liền nghe tiếng ngáy rất lớn bên trong, tựa như tiếng một con heo nái nằm trong đó — bà đang ngủ say sưa. Khi ngủ trong bếp, bà luôn nói rằng có một con bọ cạp chích vào đầu, khiến cho một nửa đầu tê dại, sau đó bà trở dậy lục lọi rương tủ, khiến cho tôi suốt đêm phải mất ngủ. Mỗi lần tôi ra hiệu cho bà biết nỗi khổ sở ấy của tôi, thì bà lại đùng đùng giận dữ: “Bây giờ có chuyện đó sao? Ngay cả một sở thích nhỏ xíu của mẹ mày cũng bị tước đoạt, trời cao đất dày ơi!” Sau đó bà gào khóc, rồi xô đẩy và dùng nước bọt bôi cả lên người tôi.
Tôi vào nhà bếp, thấy cái mặt ngái ngủ của bà thò ra từ chiếc chăn đen sì, khạc nhổ và nói: “Hôm nay mày đem lễ vật sang nhà Vương Kỳ Vưu đi, hôm qua tao đã mua rồi, đặt trên nóc tủ lớn ấy”. Bà cười một cách quỷ quái, tựa như đã sắp đặt xong một âm mưu nào đó và chỉ đợi tôi mắc bẫy.
Vương Kỳ Vưu là một trưởng phòng nhỏ trong cơ quan của mẹ tôi, có bộ mặt hết sức hạ lưu, bỉ ổi. Ông ta có một cô con gái, hay nói đúng hơn là một bà cô chưa chồng ba mươi ba tuổi, mặt mũi cũng y hệt ông bố, trên má còn có một cục u nhỏ. Mẹ tôi vô cùng sùng bái ông ta, bà tìm đủ mọi cách để bợ đỡ và nịnh hót lấy lòng ông ta. Nhưng lão ấy làm cao, cứ phớt lờ, có lẽ là chê mẹ tôi vừa già vừa xấu. Sau làm thân mấy lần mà vẫn không có kết quả, mẹ tôi bỗng nghĩ ra một kế là đưa tôi sang nhà lão Vương làm rể. Tôi cùng mẹ đi sang nhà lão, đương nhiên người nhà lão đều biết rõ tôi đến nhà lão làm gì, họ ghé tai nhau xì xầm cười nhạt. Trưởng phòng đang dùng một cây ngoáy tai móc ráy tai, rồi quệt vào một hộp diêm, và cái hộp diêm ấy sắp đầy lên rồi. Bà cô ba mươi ba tuổi ngồi phía sau cái lò lớn, mũi cô ta không ngừng phát ra một thứ tiếng kỳ quái, giống như có rất nhiều dã thú gào rú trong hang núi. Cô ta mở miệng khiến tôi toát mồ hôi lạnh: “Các người đến đây giở trò quỷ gì vậy? Sao hả? Xéo đi! Bệnh trĩ của tôi lại tái phát rồi đấy!” Mẹ tôi quả là một người đàn bà cứng rắn, bà không có vẻ gì là hoang mang lúng túng, vui vẻ tự nhiên ngồi xuống. Lát sau, bà đưa ra một túi măng khô, nói: “Cháu nó có cái này đem biếu cho trưởng phòng.” Sau đó bà kéo tôi khỏi những ánh mắt đang nhìn chằm chằm, hiên ngang ra về. Mấy hôm sau đó, ngày nào bà cũng ba hoa khoe khoang với người ta, ngầm cho mọi người biết “quan hệ đặc biệt” của bà và lão trưởng phòng.
“Con đau chân, mẹ à.”
“Cái gì?” Từ trên giường bà chợt nẩy lên, phá toang cái mạng nhện mới kết hồi đêm; con nhện nhanh chóng buông mình leo lên chiếc giường và biến đâu mất.
“Mẹ cứ la con, chân con đau muốn chết, cứ như có ai đang cưa vào xương. Trong bụng thì cồn cào, không chừng ói cả ra nhà họ.”
“Đừng có làm như vậy với tao!” Bà khua cánh tay lên. Trên cái cổ khẳng kheo của bà có hai cái gì giống như con cá đang nhảy lên. “Tao đã sớm liệu rồi, mà mày cứ chống lại! Mày đem ống nhổ để ở bậc cửa, muốn để cho tao đạp trúng và ngã quay ra đất... Trời đất ơi, chuyện này là sao!” Dừng một lát, bà ra lệnh cho tôi đưa đầu ra trước mặt bà. Bà nắm đầu của tôi, hết nhìn bên trái lại nhìn bên phải, lại còn dùng cái móng tay đầy cáu bẩn chọc vào ót tôi mấy cái, sau đó nhổ nước bọt vào mặt tôi, rồi gào lên: “Âm mưu của mày sẽ không bao giờ thành công đâu!” Nói xong, bà bắt đầu tự đấm ngực, tát tai mình, mãi đến khi hết giận dữ mới thôi. Lúc ấy xảy ra một chuyện.
Khi bà giơ tay lên tự đánh mình, cánh tay đụng vào ly trà đặt trên cửa sổ, chiếc ly ấy do bà đặt ở đó từ đêm trước. Nước trà toé ra, văng lên mặt bà, bà dùng tay áo quệt, mỗi lần quệt, trên mặt bà lại xuất hiện rất nhiều bọt màu trắng, và những nơi bà quệt qua, rõ ràng có một đường lõm xuống.
“Mẹ hãy đi tắm rửa đi, con lấy nước nhé!” Tôi nói giống như có ma quỷ sai khiến.
Tôi đem nước nóng đổ ra chậu gỗ rồi đi ra, núp sau cửa, thấy mẹ tôi vừa pha nước lạnh vừa nguyền rủa rằng tôi có ý muốn làm bà chết bỏng. Sau đó bà im lặng, có lẽ đang thay quần áo. Tôi hồi hộp đến nỗi mặt trắng bệch, toàn thân run rẩy. Tôi nghe bên trong phát ra một tiếng la yếu ớt nghẹt thở, giống như tiếng kêu cứu của người sắp chết đuối, sau đó là sự im lặng hoàn toàn. Từ bậc thềm tôi bật lên, quần áo đẫm mồ hôi, móng tay phát xanh, tròng mắt lồi ra. Khoảng một tiếng sau, tôi mới dùng một cái búa gỉ mở cửa nhà bếp, tiến vào.
Bên trong trống rỗng, không có ai, quần áo lót mẹ tôi thay ra hãy còn đặt bên cạnh giường kia, cả đôi dép lê cũng còn đó. Mắt tôi dừng lại ở chậu nước, nước trong chậu đầy xà phòng đen đúa bẩn thỉu. Nổi trên mặt nước là những vòng bọt sáng óng ánh và toả ra mùi gỗ mục.
Tôi ngồi phịch xuống chiếc ghế đẩu gỗ bật khóc, vì sự dơ dáy của mẹ, vì chiếc cổ khẳng kheo và vì đôi chân quanh năm lở loét chảy nước của mẹ.
Tôi đợi mãi đến trưa mới đi gọi người. Và người ta kéo đến, lao vào như ong vỡ tổ, bước chân “thình thịch, thình thịch” khiến nền nhà như sụm xuống, họ nhìn tới nhìn lui, hoài nghi quan sát đôi mắt sưng húp của tôi, sau cùng họ nhìn thấy nhà bếp. Có một người cúi xuống nhìn nước trong chiếc chậu gỗ và dùng móng tay chọc một cái bọt xà phòng. Đó là một gã nhỏ thó, giống một tên ăn cắp để tóc dài.
“Mẹ tôi tắm xong thì biến mất.” Tôi miễn cưỡng lên tiếng, trong dạ dày có cái gì đó cuộn lên. Con nhện lại kết một cái mạng mới trên đầu tôi. Bọn người kia nhìn nhau cười.
“Trong nước này có mùi gì ấy.” Gã để tóc dài nói. “Biết đâu có cái gì đó tan trong này không nhỉ? Tôi mới chọc thử, có cảm giác rằng đã chọc vào xương sống của một người đàn bà.”
“Hay là chọc vào đùi?” Mọi người thích thú chen vào, cả bọn hả họng cười. Những viên ngói trên nóc nhà nhảy lên, bốn bức tường phát ra những tiếng nứt đáng thương.
Rồi họ kéo đi, cũng như ong vỡ tổ, khoa chân múa tay khoái chí vô cùng vì phát hiện bất ngờ của gã nhỏ thó. Có những người nhịn không nổi, còn đái vãi cả ra hè.
Sau khi họ đi, tôi ngồi ủ rũ một lúc lâu. Trong nồi có cơm nguội nấu từ hồi sáng, tôi xới ra ăn mấy miếng, nghe có mùi xà phòng.
“Tam Mao, Tam Mao, đã đem lễ vật đi chưa?” Tiếng khàn khàn của mẹ tôi phát ra từ đáy chậu gỗ, những chiếc bọt xà phòng dưới ánh đèn lạnh lẽo trừng trợn nhìn tôi.
Tôi loạng choạng chạy ra ngoài, chung quanh tối đen, mấy chiếc đèn đường lập loè như những ánh mắt gian tà.
“Tam Mao, Tam Mao!” Tiếng kêu trong nhà bếp vẫn vang lên, từng tiếng từng tiếng cao dần, dường như đã phát cáu.
Tôi bỗng cảm thấy cổ họng ngưa ngứa, cố ho một tiếng, thì trong miệng phát ra tiếng sủa của chó, không ngừng lại được. Sau khi người ta xúm lại, tôi vẫn sủa dữ và vừa sủa vừa nhảy. Tôi phát hiện một lão già khả ố kỳ lạ, lão tươi cười một cách ngớ ngẩn, lão len lỏi giữa đám người, gã vãi đái, đũng quần ướt sũng. Tôi xông về phía lão, cắn tay lão một cách dữ dội và ngoạm được một miếng thịt. Lão ta như một súc gỗ bị đốn ngã “rầm” xuống trong vũng máu...
 
 
-----------------------------------------[/align]Phụ chú của Hoàng Ngọc-Tuấn: [/align] [/align]Nguyên tác Trung văn của truyện ngắn này có nhan đề là 污水上的肥皂泡 [“Ô thuỷ thượng đích phì tạo bào”] xuất hiện lần đầu trên tạp chí 新創作 [Tân Sáng Tác], số 1, năm 1985.[/align] [/align]Ta có thể đọc truyện ngắn này như đọc một tác phẩm hư cấu mang tính ma huyễn, nhưng cũng có thể đọc nó với con mắt chính trị.[/align] [/align]Ở Trung Quốc, hình ảnh người mẹ bao giờ cũng là hình ảnh tuyệt vời nhất, và Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã ví mình như người mẹ của nhân dân. Lôi Phong, kẻ được Mao Trạch Đông tuyên dương như một anh hùng của bộ đội Trung Quốc, một kẻ tuyệt đối trung thành với Đảng, đã sáng tác một bài hát được phổ biến rộng khắp, với những lời như thế này: “Hát khúc dân ca dâng lên cho Đảng, tôi xem Đảng như người mẹ của tôi.”[/align] [/align]Có lẽ Tàn Tuyết có ẩn ý chính trị khi mô tả hình ảnh người mẹ một cách xấu xa. Trong truyện ngắn này, người mẹ là một kẻ độc ác. Trong truyện vừa 蒼老的浮雲 [Thương lão đích phù vân / Đám mây già trôi nổi], Tàn Tuyết mô tả bà mẹ như một kẻ chuyên đi bắt hồn của kẻ khác (tức là ngược lại với cái hình ảnh “người kỹ sư tâm hồn” mà Đảng dùng để mô tả những cán bộ tuyên truyền chính trị). Trong truyện ngắn 山上的小屋 [“Sơn thượng đích tiểu ốc” / “Ngôi nhà nhỏ trên núi”], bà mẹ là kẻ mang một chứng bệnh kỳ lạ: thù ghét những ý tưởng dân chủ; bà luôn luôn xem ông chồng của bà là người mang tư tưởng “hữu khuynh” sai lầm, và bà khắc nghiệt đến độ ông phải nghĩ đến sự tự tử để được giải thoát. Cũng nên nhớ rằng, khi Tàn Tuyết mới bốn tuổi, chính thân phụ của Tàn Tuyết đã bị quy tội “hữu khuynh” và bị đưa đi lao động cải tạo. Tàn Tuyết đã lớn lên dưới cái ách “con gái của một tên hữu khuynh” và đã có một cuộc sống cơ cực trước khi trở thành nhà văn.[/align] 
Đăng nhập để trả lời
0
4:TAI HOẠ CỦA ĐỜI TÔI
 
Cuối cùng thì tôi cũng tống khứ được con mèo của mình. Tôi nghĩ điều này sẽ có thể giúp tôi bắt đầu một cuộc sống mới. Tôi ngồi bên bàn, mắt nhắm nghiền, suy nghĩ mông lung. Tôi cố gắng định hình lại những cảm xúc rối bời, hỗn loạn của mình. Nhưng đó là ước muốn viển vông: con mèo lại trở về. Nó cứ gào lên không thôi, những âm thanh hãi hùng . Không có một chút nào van nài trong tiếng gào ấy, thay vào đó, nó chứa đầy ác ý . Thậm chí, tiếng gào đó nghe như lời đe doạ . Nó dùng vuốt và răng để cào, để gặm cánh cửa, khiến tôi run lên vì sợ khi thầm nghĩ: Nếu để nó vào, có thể nó sẽ bất thình lình vồ lấy mình và cắn mình cho đến chết thì thôi.
Tôi bắt gặp con mèo co ro trong rãnh nước bên cạnh cửa nhà tôi vào một ngày lạnh giá. Con mèo nhỏ xíu, lông vàng nâu, có điểm thêm hai chấm trắng, mắt ầng ậng nước, toàn thân run lẩy bẩy. Con mèo nhỏ quá, nó còn nhỏ đến nỗi có lẽ không hiểu được vì sao nó lại bị mẹ nó ruồng bỏ. Không hiểu được vì sao thế giới này lại không có một chỗ nào có thể dung chứa nó. Mà có lẽ đúng hơn, nó giả vờ khổ sở như thế để thuyết phục tôi cho nó ở lại. Lúc ấy, tôi như bị chi phối bởi một động lực khó lý giải được. Có thể vì tôi muốn làm một điều gì đó khác thường chăng? Mà cũng có thể là vì tôi muốn có một kẻ đối trọng nào đó trong cuộc sống hàng ngày của mình. Tôi đã giữ con mèo lại. Mang nó vào trong phòng và đặt nó bên cạnh lò sưởi. Cho nó uống sữa, ăn bánh quy và súp cá. Nó ăn rất nhanh. Nó tỏ ra là một con mèo ngang ngược, ngạo mạn. Sau khi ăn hết chỗ thức ăn, nó lấy chân đạp đổ cả bát lẫn đĩa. Nó đi quanh nhà một vòng rồi sau đó sán đến chộp lấy chân tôi. Nó muốn ăn thêm. Tôi cho nó một miếng thịt. Nó vẫn đòi thêm nữa. Hành động đó tái diễn bốn, năm lần. Đến khi no nê, thôi không làm trò đó nữa, bụng của nó đã căng như mặt trống. Tôi muốn chơi với nó, tôi vò mấy tờ giấy thành một quả bóng, rồi buộc một sợi dây vào đó. Tôi đung đưa quả bóng đó trước mặt nó, thử làm cho nó vui lên. Nhưng nó đáp lại tôi bằng một cái nhìn u ám rồi từ từ bỏ đi chỗ khác. Nó nhảy vào trong sọt đựng giấy thải và nằm yên ở đó, một lát sau thì ngủ.
Hết ngày này đến ngày khác, hết tháng này đến tháng khác trôi qua. Ngày nào cũng thế, tôi cố gắng không mệt mỏi để làm nó vui, tôi cho nó ăn những thức ăn ngon lành. Kết quả là nó béo lên từng ngày, bộ lông mỗi ngày một bóng mượt hơn; cũng thế, mỗi ngày nó lại càng đòi ăn nhiều hơn. Nhưng nó không hề biểu lộ, dù chỉ chút mảy may, ý hướng muốn gần gũi với tôi. Vẫn khăng khăng một thái độ như cũ : khi đói thì gào lên. Tôi mà chậm cho nó ăn một chút xíu, nó sẽ chộp lấy chân tôi mà gặm . May thay, những vết cắn chưa bao giờ trầm trọng lắm: chỉ hằn lại hai vết răng mà thôi. Phần lớn thời gian, nó chỉ ngủ trong sọt đựng giấy thải. Thỉnh thoảng, nó cũng lững thững đi ra ngoài, mắt cụp xuống như chán đời, thân thể thì phục phịch, mệt mỏi. Dường như, nó chẳng hề bận tâm đến những gì xung quanh mình – như thể nó đang sống trong một căn phòng mượn ở tạm vậy.
Rồi một ngày, không hiểu vì sao, tôi cảm thấy hình như đã đến lúc: một ý tưởng kỳ quái nảy sinh trong tôi – tôi để cho nó ngủ trên giường của mình. Tôi nghĩ như thế nó sẽ được vuốt ve và quan hệ của chúng tôi, như thế, cũng sẽ trở nên thân thiết hơn. Nhưng khi đặt nó lên giường, con mèo vẫn tuyệt nhiên không có chút gì tỏ vẻ hàm ơn. Vẫn thế, nó kháng cự mãnh liệt, liên tục cào tay tôi cho đến khi tay tôi rỏ máu. Ngay khi tôi vừa lỏng tay với nó, con mèo đã nhanh chóng lẩn đi như một tên trộm và trốn dưới gầm giường. Mắt nó lóe lên, miệng phát ra một tiếng gì đó tục tằn không rõ. Tôi hết sức khó chịu và với lấy cây phất trần bằng lông gà để đuổi nó đi chỗ khác. Nhưng đột nhiên, con mèo trở nên mạnh mẽ, linh hoạt. Trong nháy mắt, nó tót lên mặt tủ chè vốn rộng rãi rồi lẻn xuống dưới ghế đẩu. Nó cố thủ ở chỗ đó, không định rời. Tôi toát hết mồ hôi, thở dài, nghĩ thầm: con quái vật này thật ra vẫn còn có một cảm xúc nào đó đối với căn phòng. Nghĩ vậy, cơn giận dữ của tôi cũng nguôi ngoai. Đâu ngờ ngay khi đó, con mèo nhảy phốc lên vai tôi, điên cuồng cào cấu mặt tôi, vạch trên đó hai vệt máu. Xong rồi, nó lại trốn dưới gầm giường. Tôi ngồi trên giường, kinh hoàng – thấy mình như một quả bóng xẹp hơi. Tôi nghĩ mãi về chuyện này một cách thận trọng. Dường như tôi hiểu ra một điều gì đó, mà cũng dường như tôi chẳng hiểu gì cả. Cuối cùng, tôi vứt cái phất trần xuống bên cạnh mình và giả như đã quên hẳn câu chuyện này.
Bề ngoài, tôi tỏ ra không thèm quan tâm thêm một chút nào đến con mèo nữa. Hằng ngày, tôi chỉ biết làm việc của mình. Tất nhiên, vẫn cho nó ăn và không can thiệp gì cả vào hành động của nó nhưng tôi không còn một ảo tưởng nào về con mèo nữa. Tôi tự nhủ nó chỉ là một con mèo hoang bình thường thế thôi. Mình đã quá đa cảm thế nên đã tự làm phức tạp tất cả. Tuy nhiên, điều này thật sự có phải là những gì đã xảy ra? Chẳng phải tôi đã nhận ra tất cả những đặc điểm lạ lùng của con mèo này rồi sao? Chẳng hạn, nó chả bao giờ đi ra ngoài và chơi bời với những con mèo hoang khác. Nó chỉ ngồi ở nhà, mặt lúc nào cũng lầm lì khó gần. Rồi nữa, cái thói thèm ăn đáng kinh ngạc của nó: nó còn ăn nhiều hơn cả tôi.
Ba ngày như thế trôi qua. Thế rồi con mèo bất ngờ bộc lộ phản ứng vì tôi tỏ ra thờ ơ, thậm chí phớt lờ nó. Biểu hiện của nó nói với tôi rằng: chắc chắn nó không thể dung thứ được cho việc bị xem thường như thế, nó sẽ đáp lại tất cả những sự khinh thường này. Khi tôi không có nhà, nó nhảy lên bàn làm việc của tôi, cào xé các giấy tờ và một số tài liệu của tôi rách bươm thành một đống bèo nhèo. Nó còn đái cả lên giường tôi.
Vừa về đến nhà, tôi đã ngửi thấy mùi nước đái. Tôi tức nghẹt thở đến nỗi ngồi phịch xuống ghế, không động đậy gì được. Tôi cũng thấy buồn nôn nữa. Nhưng tôi không định trừng phạt nó. Tôi biết, nếu làm việc ấy, tôi sẽ rơi vào thế yếu so với nó. Nghĩ mà xem, nếu tôi vụt nó, chắc chắn nó sẽ gào lên điên dại, thậm chí còn trả thù tôi một cách độc ác hơn, xảo quyệt hơn . Nên tôi quyết định kệ nó, muốn đái trên giường thì đái, muốn phá phách trên bàn của tôi thì cứ việc. Tôi cất những tài liệu quan trọng của mình đi. Rồi cả ngày dài, tôi sống chung với mùi nước đái và mang cả cái mùi ấy đến cơ quan. Thật may, không ai để ý. Tôi nghĩ: Thật ra, người ta có thể quen dần với bất cứ việc gì. Không có gì là không thể chấp nhận nếu như người ta đã quyết định phải quen với nó. Khi con mèo của tôi nhận ra những sự phá phách của nó đều chẳng đem lại kết quả nào, nó lại đành chui vào sọt đựng giấy thải, nằm im trong đó.
Ngay khi tôi vừa cảm thấy thỏa mãn với thành công của mình thì tai họa lại một lần nữa giáng xuống. Một đêm, khi vừa chợp mắt, một tiếng gào lạ lùng đánh thức tôi dậy. Chắc chắn đấy không phải là tiếng mèo. Đúng hơn, tiếng kêu có gì đó kỳ bí, siêu nhiên. Không nghi ngờ gì nữa, âm thanh đó phát ra ngay trong căn phòng này. Tôi bật đèn, đứng dậy, quan sát xung quanh. Khi nhìn thấy con mèo đang ngủ, tôi bắt đầu rùng mình. Tôi lấy đèn pin rọi xuống gầm giường một hồi lâu. Tôi rọi đèn pin lên trần nhà, rồi rọi vào bên trong tủ chè và cả chỗ để thức ăn nữa. Tôi kiểm tra khóa cửa và các chốt cửa sổ. Đến khi kiểm tra hết mọi ngóc ngách trong nhà, nơi con thú hoang kia có thể ẩn náu, tôi mới trở lại giường, tắt đèn đi mà thực tình vẫn chưa hết run sợ.
Tôi cứ tưởng tượng miên man, tôi thở dài tuyệt vọng, tôi trằn trọc mãi không thôi. Và cuối cùng, không hiểu bằng cách nào, tôi thiếp ngủ. Nhưng ngay lúc đó, tiếng gào lại cất lên. Chắc chắn nó ở một chỗ nào đó trong phòng này! Tôi nhỏm dậy lần nữa, bật đèn lên và đi thẳng đến chỗ để sọt đựng giấy thải, nơi con mèo của tôi đang ngủ. Tôi nhìn thấy nó đang nằm ngửa say ngủ, bốn cái vuốt giương lên. Nó giả vờ ư? Càng nghĩ lại những hành động trước đây của nó, tôi càng thấy giờ thì nó đã hoàn toàn lộ rõ bản chất. Người ta không thể nào giữ một con vật như thế được. Tôi túm lấy một chân của nó, định quẳng nó ra ngoài. Nhưng lập tức nó cắn tay tôi liên tục. Đến khi tôi phải thét lên và buông nó ra, nó liền chạy vụt vào gầm giường.
Đêm đó, vết thương mà con mèo gây ra làm tôi đau đớn. Trong đau đớn, tôi càng tin chắc hơn bao giờ hết: là nó, con mèo ấy! Chính nó là kẻ đã làm tôi kinh hãi với tiếng gào ma quái của nó. Con quái vật khốn kiếp! Nếu nó căm ghét tôi đến nỗi muốn làm cho tôi chết thì tại sao nó muốn ở lại đây? Để chiếm căn hộ này, hất cẳng tôi ra chăng? Không thể. Nó biết tôi quá rõ chăng? Nó quan tâm đến tôi? Cũng chẳng phải như thế. Tôi chỉ có thể nói rằng nó cứ ở lì chỗ này vì nó có thể tránh mưa tránh nắng được, vì nó có cái để mà ăn, vì nó cảm thấy quá thoải mái. Nhưng chẳng có điều nào nó cho là đủ: nó còn muốn tôi suốt ngày phải quan tâm đến nó. Phải xem nó là kẻ quan trọn. Hễ lúc nào nó hơi không hài lòng một chút, là nó lại tìm cách gây khó dễ cho tôi. Khi nghĩ lại tất cả chuyện này, tôi tự hỏi: nếu hôm ấy, mình không cho nó vào nhà, liệu có thể tránh được chuyện phiền nhiễu này không? Nhưng ai có thể bảo đảm rằng trong đời người lại chẳng có lúc thể hiện một chút nhân từ? Mà khi tỏ ra nhân từ như thế, ai đoán được những chuyện điên đầu do hành động đó gây ra? Hơn nữa, hôm ấy, khi cho nó vào nhà, động cơ của tôi phải chăng thuần túy xuất phát từ lòng trắc ẩn? Liệu có thể nào - trong tận đáy lòng - tôi đã ngấm ngầm tìm kiếm một nguồn an ủi tinh thần? Nhưng thôi, dù sao thì tôi cũng gặt những gì mình đã gieo.
Đêm đó, sau khi cắn tôi, con mèo không gào nữa. Thế nhưng vết thương của tôi trở nên sưng tấy và mưng mủ. Chẳng mấy chốc, tôi sốt cao. Tôi uống cả đống thuốc nhưng chẳng thấy có tác dụng mấy. Tất cả những gì tôi có thể làm là đi bệnh viện để tiêm tĩnh mạch. Vết thương gần như đã bị biến chứng thành viêm thận. Tại nó hết, con mèo trơ tráo ấy! Khi nằm trong viện, tôi nghĩ: Giờ thì không có ai ở nhà cả, cũng chẳng có quái gì để ăn. Nếu nó không có cái gì để ăn, nó không thể trách tôi được. Lỗi tại nó cả. Giờ thì tôi chẳng cần tống nó ra khỏi nhà nữa, nó phải tự tìm chỗ khác mà sống. Nếu không, nó sẽ chết đói. Có thể việc này đem lại điều gì đó tốt đẹp đây. Từ rày, tôi có thể được yên ổn chút ít. Nghĩ như thế, tôi bắt đầu phấn chấn hẳn lên. Tôi cảm thấy bớt căng thẳng khi nằm lại trong viện. Mỗi ngày ở đây, tôi có cảm giác như mình đã trả thù được những hành vi độc ác của con mèo. Nhưng cuối cùng, tôi cũng phải ra viện. Sau mười ngày ở đó, tôi về nhà.
Khi về đến nhà, bụi bặm đã phủ đầy hết mọi chỗ, tôi thấy nó, con mèo ấy. Nó đã gầy rộc người và trông yếu ớt quá đỗi. Nó hoàn toàn nín lặng khi loạng choạng bò ra từ gầm giường. Sau khi đi quanh tôi một vòng, nó lại chui vào gầm giường. Tôi đảo mắt nhìn khắp phòng: mọi thứ vẫn nguyên vẹn. Nhưng cửa tủ lạnh thì mở. Tôi không biết làm thế nào mà nó có thể mở được tủ lạnh. Một nửa gói xúc-xích để ở góc tủ đã biến mất. Có lẽ nó đã dựa vào số thức ăn rất ít ỏi này để cố cầm cự trong mấy ngày cuối. Nhớ lại trước kia nó ăn uống thừa mứa biết mấy, tôi trào nước mắt. Tôi dụ nó chui ra khỏi gầm giường và cho nó ăn mấy chiếc bánh bao mà tôi đã mua cho mình. Tôi vừa ve vuốt, vừa dỗ dành nó bằng một giọng dịu dàng nhất. Ăn xong, nó lại nhảy vào sọt đựng giấy thải và nằm ngủ.
Một nỗi ân hận sâu sắc dâng lên trong tôi. Tôi có ăn năn về những gì mình đã làm không? Tôi có dằn vặt vì những ý nghĩ tàn nhẫn của mình khi nằm trong bệnh viện không? Hay tôi có hối tiếc vì đã giữ nó lại trong nhà ngay từ đầu không? Tôi không rõ. Có lẽ tôi đã rơi vào cái bẫy chính tôi tạo nên rồi.
Tôi quyết định mình sẽ làm hòa với con mèo của mình. Tôi mua những thức ăn mà nó ưa thích, cho nó ăn uống cẩn thận. Chưa đầy mười ngày sau, nó lại trông đẫy đà, lông lại bóng mượt. Dáng điệu của nó lại trở nên bệ vệ, hợm hĩnh. Hãn hữu lắm nó mới đi ra ngoài. Phần lớn thời gian, nó chỉ nằm lì trong sọt đựng giấy thải, giữ một thái độ im lặng đầy kiêu hãnh.
Ngày nào tôi cũng đến bên cái sọt đựng giấy thải và cho nó xem vết thương trên tay tôi. Tôi cứ nói mãi về những đau đớn mà tôi phải chịu đựng vì lòng tốt của tôi đối với nó và về những sự đáp trả của nó đối với tôi. Thậm chí thỉnh thoảng, tôi còn nói cho nó về ý muốn trả thù từng nhen nhóm trong tôi, về tất cả những sự tử tế - và cả sự kỳ vọng nữa – của tôi đối với nó. Đã một thời gian dài, tôi không có một trải nghiệm nào như thế này đối với con người. Vì sao? Vì tôi đã mất đi hứng thú đối với con người. Tôi cần một bạn tri kỷ như con mèo này, một bạn tri kỷ không phải thuộc loài người như tôi. Chúng tôi sẽ nương tựa vào nhau. Tôi cần nó để có bạn đồng hành trong cái thế giới hoang phế này. Vì nó, tôi đã thay đổi cách sống của mình – điều mà tôi chưa từng làm vì bất cứ người nào, bởi tôi vốn là kẻ có khuynh hướng lập dị và tự kỷ. Còn ai có thể làm được như tôi – cả ngày làm việc trong mùi nước đái của mèo? Tôi nói ra tất cả những điều ấy với con mèo không phải để mong sự đền ơn từ nó, mà vì tôi muốn sống thân ái với nó. Tôi không muốn nó có thái độ thù địch. Tôi muốn nó động lòng vì tôi, cho dù chỉ một chút. Nếu không thì cũng nhịn nhau một chút; nếu như nó chưa quen với việc biểu lộ sự động lòng đối với tôi, thì chung sống thuận hoà với nhau cũng được chứ sao? Tôi không muốn nó hành hạ tôi như trước đây nó đã làm.
Tôi là kẻ cô độc trong thế giới này. Tôi không có họ hàng hay bè bạn, thế nên mối quan hệ mà tôi đã tình cờ thiết lập được với nó đã trở thành toàn bộ cuộc sống của tôi. Rõ ràng rằng nếu mối quan hệ này biến thành một mối thù địch vĩnh viễn, tôi sẽ thất vọng đau đớn! Hơn nữa, nơi chúng tôi sống nhỏ quá – chỉ có một căn phòng này. Nếu chúng tôi trở thành kẻ thù của nhau thì rốt cục chuyện gì sẽ xảy đến? Tôi tiếp tục nói lảm nhảm. Tôi nói với nó về cuộc sống mỏi mệt của tôi. Tôi nói về tất cả những cay đắng, khổ sở mà tôi phải chịu đựng trên thế gian này. Tôi chực bật khóc khi nói những điều đó. Tôi hy vọng có thể vớt vát được một chút cảm thông từ nó. Tôi cũng hy vọng quan hệ của chúng tôi ít nhất cũng có thể thay đổi để trở nên tốt đẹp hơn. Rồi kết quả cuối cùng thế nào? Bạn có thể đoán được. Kết quả là chẳng có gì thay đổi hết. Dùng lời lẽ để lay động nó thật vô vọng giống như thể người ta mong tóc mọc trên một cái đầu ghẻ chốc. Ban đầu, khi tôi trút cả nỗi lòng ra với nó, nó chẳng buồn giấu cái vẻ khinh khỉnh: nó nghe một cách lơ đễnh. Chẳng mấy chốc, nó duỗi chân ra ngủ khì. Nó đáp lại tôi như thế đấy!
Sau khi tôi về nhà được một tuần, con mèo thật sự ở một trạng thái bứt rứt, không yên. Lúc đầu, nó chỉ nằm trong sọt đựng giấy thải rên gừ gừ như thể sắp sửa nổi xung lên. Sau đó, suốt cả đêm, nó lấy vuốt cào chân giường tôi nằm. Khỏi cần nói, bạn cũng hiểu âm thanh ấy khó chịu đến mức nào. Nó khiến tôi đêm nào cũng rơi vào ác mộng. Tôi ngờ nó đang lên cơn động tình, nó là con mèo đực mà. Nói chung, nó cần phải ra ngoài. Bên ngoài cũng có cả một lũ mèo hoang đang gào rú. Tôi ra khỏi giường, lấy một cái roi tre. Tôi muốn xua con mèo ra khỏi nhà để nó thỏa mãn cơn động tình của nó, cũng để khiến căn phòng bớt ngột ngạt. Tôi không ngờ nó cố thủ dưới gầm giường, không chịu rời. Nó không nhúc nhích bất chấp tôi vụt mạnh thế nào đi nữa. Cứ như thể nó không nghe thấy sự kích thích nào từ bên ngoài. Cứ như thể nó không phải thuộc về loài mèo. Tôi vừa trở lại giường nằm thì nó lại bắt đầu cào cào chân giường. Sau mấy ngày, cái chân giường trở nên thảm hại đến nỗi tôi không dám nhìn nữa. Nó đã tạo hai cái hõm khá sâu ở chân giường. Còn tôi thì vẫn tiếp tục chiêm bao thấy những cơn ác mộng giữa những tiếng cào loạt soạt ở chân giường. Ngày nào đến chỗ làm, mặt mày tôi cũng xám nhợt.
Có lẽ con mèo thấy cào chân giường thôi là chưa đủ. Một đêm, giữa lúc đang gặp ác mộng, chân tôi bất ngờ có cảm giác như bị cứa bởi một dụng cụ nào đó rất sắc. Giật nảy mình, tôi bật dậy, nhìn thấy con mèo nhảy từ giường xuống. Nó đã làm rách một mảng da ở gan bàn chân tôi.
Tôi đã chạm đến giới hạn cuối cùng của sự chịu đựng hay chưa? Tôi có phải tiếp tục chịu đựng điều này nữa hay không? Tôi đang tự hỏi mình những điều đó. Câu trả lời ư? Tôi nên tiếp tục chịu đựng. Chứ tôi có thể làm gì khác? Bây giờ con mèo đã chiếm ngự cả tâm hồn tôi rồi. Nếu tôi giết nó, khoảng trống rỗng mênh mông trong lòng tôi giống như một chiếc xe lu sẽ cán phẳng đời tôi mất. Bây giờ, nếu thân xác tôi chịu đựng vài vết thương, nếu tinh thần của tôi chịu đựng vài phiền nhiễu, thì đã sao? Mà, thêm nữa, luôn có những điều mà tôi có thể làm: đi giày lúc đi ngủ, quấn chăn quanh mình cho thật chặt. Nếu nó có bất ngờ tấn công vào đầu tôi, tôi sẽ đội mũ bảo hiểm. Bao giờ mà chả có những giải pháp.
Và thật thế, tôi mặc quần áo, đi tất, đi giày, đội mũ bảo hiểm lúc lên giường ngủ. Tôi không dám tắt đèn vào ban đêm, tôi chỉ lấy một tờ báo để che ánh đèn. Con mèo không cào tôi nữa nhưng nó cũng chẳng ưa gì ánh sáng trong đêm. Có lẽ ánh đèn khiến thần kinh nó bị kích thích. Nếu tôi không tắt đèn đi, nó sẽ lục tung các hộp giấy, thùng hòm trong nhà – làm rơi, làm vỡ những vật dụng như bình trà hay những tấm gương. Sau hai đêm phá phách lồng lộn, nó lại nhảy lên giường tôi, rít gào. Nó cào cào chiếc mũ bảo hiểm của tôi. Nó định cắn tôi nữa. Tôi sợ hết hồn. Tất cả những gì tôi có thể làm chỉ là tắt đèn đi.
Đêm đầu tiên tắt điện, không có chuyện gì xảy ra. Đêm hôm sau, nó chạy ra ngoài rồi trở về cùng với hai con mèo hoang. Hai con mèo này rượt nhau quanh phòng rồi quần lẫn nhau. Chúng nó giằng co nhau rất dữ dội, làm mọi thứ trong phòng đảo lộn hết. Chúng gào lên không thôi những âm thanh khiếp đảm. Đến lúc rạng đông, hai con mèo này mới bỏ đi. Đêm thứ ba, chúng lại tái diễn hành động của mình.
Tôi nghĩ: hơn một năm qua, con mèo của tôi thường chỉ sống khép kín. Nó không thích giao du tình ái: nó không ra ngoài. Như thể nó là một kẻ khổ tu vậy. Bây giờ, nó đã lôi cuốn được những con mèo hoang khác vào nhà và làm loạn, thế nhưng nó vẫn đứng ngoài những trò phá phách của lũ mèo đó. Nó cũng không bỏ đi cùng bọn chúng. Hình như nó có những động cơ sâu kín hơn và mục đích của nó đơn giản chỉ là làm rối loạn cuộc đời tôi – gây khổ sở cho tôi. Nó muốn biến nhà tôi thành sân chơi cho lũ mèo hoang mặc dù nó chả buồn gia nhập vào cái đám đó. Nó chỉ đứng bên lề quan sát với một vẻ khoái trá ác ý .
Sau một vài ngày, số mèo hoang vào nhà tôi từ hai đã tăng lên đến năm. Tôi vừa tắt đèn đi đã nhận thấy trong phòng mình lúc nhúc những bóng đen không ngớt lục xục xung quanh. Cảnh tượng thật khiếp đảm. Bây giờ, con mèo của tôi không còn đứng trên bàn hay trên giường nữa mà trở lại sọt đựng giấy thải, nằm ngủ trong đó như thể không có chuyện gì xảy ra cả. Tuy nhiên, tôi không biết làm sao để nghỉ ngơi được vì khi lũ mèo hoang nhận thấy tôi không đuổi bọn chúng đi, bọn chúng càng phá phách hơn. Cuối cùng, chúng vọt lên giường tôi vật nhau, con nọ cắn xé con kia, rít lên tru tréo buốt hết óc: đúng là kinh hoàng. Khi sức chịu đựng của tôi đã đên mức tột cùng, tôi đứng dậy, bật đèn lên, lấy một cái búa và nhắm vào đầu một con mèo đen. Với tất cả sức lực của mình, tôi giáng cây búa xuống đầu nó. Con mèo ngã lăn, co giật vài cái rồi chết. Những con mèo khác sợ đến nỗi cuốn xéo hết. Run rẩy sợ hãi, tôi túm xác con mèo chết lên và đem vứt nó ra bãi rác cách nhà khoảng trăm mét. Khi trở về nhà, đầu tôi nặng trịch như quả bí ngô. Tôi muốn đập đầu vào tường. Từ sọt đựng giấy thải, con mèo của tôi lạnh lùng quan sát tôi. Nó đã nhìn thấy hết. Mọi chuyện. Nó đang tự cười mỉa.
Sáng hôm sau, dĩ nhiên, tôi lại đi làm với khuôn mặt xám xịt. Những ngày này, ai ở cơ quan cũng nói về tôi. Họ bảo sao tôi gầy khủng khiếp như thế. Những người khác đùa cợt thẳng thừng vào mặt tôi, bảo rằng chắc là tôi vừa có chuyện tình ái gì với một ả hồ ly tinh. Làm sao tôi có thể kể cho họ những chuyện này? Nếu kể, chắc gì họ không nghĩ tôi đến từ hành tinh nào khác hay có vấn đề về tâm thần? Nhưng một người ở cơ quan đã bám lấy tôi, và nài nỉ tôi kể chuyện hồ ly tinh. Gã nói ai cũng thèm được nghe chuyện ấy, vì thế tôi không thể để cho họ thất vọng. Tôi thây kệ gã. Gã ngồi phịch xuống bàn làm việc của tôi, nép sát vào tôi, làm tôi bối rối quá đỗi. Lúc ấy, mặt tôi chắc đã tối sầm lại. Nghĩ đến nguồn cơn của sự xúc phạm này, tôi càng căm con mèo của tôi hơn. Tôi sẽ dứt khoát rũ bỏ nó. Làm thế nào để nó không trở về được, vĩnh viễn. Tôi không còn chút băn khoăn nào về tình trạng tâm lý của mình nữa. Nếu rơi vào trạng thái trống rỗng ư? Thì cũng mặc kệ. Suy cho cùng, điều đó còn tốt hơn nỗi nhục nhã như thế này.
Tôi bình tĩnh lập nên một kế hoạch trong đầu. Nhìn bề ngoài, cảm xúc của tôi không biểu lộ gì. Trên đường về nhà, tôi mua loại cá rán nhiều mỡ mà con mèo của tôi vẫn thích ăn. Trong lúc nó đang vui vẻ xơi con cá, tôi lấy một cái túi vải bố chụp lấy nó rồi buộc chặt túi lại. Tôi bắt xe bus đi ra ngoại ô. Có lẽ nó biết chính xác tôi đang nghĩ gì trong đầu. Suốt cả quãng đường, nó không kêu một tiếng nào. Tôi bắt đầu dao động. Nhưng ngay khi vừa nhớ lại những sự nhục nhã mà tôi phải chịu đựng vì nó, tôi lại lấy được sự mạnh mẽ trong quyết định của mình. Giống như một nhân vật phản diện trong truyện cổ tích, tôi treo nó lên một cái cây bên đường. Rồi tôi vội vã bỏ chạy như một tên đào tẩu, thầm nghĩ: Sẽ có ai đó nhìn thấy cái túi này và thả nó ra.
Và như thế, màn kịch trước đây đã kết thúc. Mọi việc bình lặng trong hai ngày và rồi con mèo lại quay về. Như các bạn đều biết, tôi không cho nó vào nhà. Chuyện gì sẽ xảy đến trong tương lai? Liệu có ai có thể cho tôi biết chuyện gì sẽ xảy đến sau đó? Còn tôi, tôi chỉ biết một điều, rằng ngay cả việc phải tưởng tượng ra những gì mà tương lai sẽ đem đến, tôi cũng không thể chịu đựng nổi nữa. Không thể.
 
 
--------------[/align]Nguồn: Can Xue, “The Bane of My Existence”, bản dịch từ tiếng Trung của Karen Gernant và Zeping Chen, tạp chí Words Without Borders, 3-2007.[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
5:CHÔN GIẤU
 
Chú tôi bảy mươi ba tuổi, ở gần nhà tôi. Ông cao gầy, tóc bạc trắng, nhưng tinh thần xem ra hãy còn minh mẫn lắm. Ðôi mắt chú rất có thần, chỉ phải cái không được tập trung. Chú không thích giao thiệp với ai, thấy tôi ông thường tránh và cứ ngỡ tôi không trông thấy, thế là ông lảng lảng rồi biến mất. Dù trong nhà hay ngoài đường, lúc nào ông cũng như vậy. Trông một người đầu đã bạc trắng mà lại có những cử chỉ như thế, tôi thấy tức cười, nhưng cũng không thích “vạch trần” ông ra làm gì. Chuyện ấy, lâu rồi, tôi cũng thấy quen.
Chú vốn không phải là người như vậy. Tôi còn nhớ lúc mình bảy, tám tuổi gì đó, chú còn để tôi ngồi lên vai kia mà. Năm tháng vô tình, không ai biết điều gì đã khiến chú trở nên một người như bây giờ. Tôi nghe thím nói, mấy năm gần đây, ông bỗng sinh ra một cái thú kì lạ, là đem những thứ nho nhỏ trong nhà mang đi cho người ta. Nhưng cho ai? Không ai biết. Quan hệ xã giao của chú vốn rất hẹp, già rồi cũng chẳng qua lại với ai. Nhưng chuyện này cũng khó nói, vì biết đâu ông có bạn bè bí mật ở đâu đó cũng nên. Người ta sống đến bảy mươi ba tuổi, tất phải có một số bí mật gì đó chứ.
Những thứ trong nhà mà ông mang đi, thực cũng chẳng có giá trị đặc biệt gì. Ví dụ một cái tách trà, một cái chân đèn, một ngòi bút máy, một cái đèn pin, một quyển sách lịch sử, một đôi giày da dê. Những thứ ấy có một đặc điểm chung là đều có “niên đại” xưa lắc.
Cái chứng “ghiền” ấy của ông lâu lâu lại tái phát một lần. Lúc ông sắp đem cái gì đi thì trông vẻ rất trịnh trọng và lo lắng. Ông vội vàng gói ghém cẩn thận, bỏ vào một cái túi lác, rồi gấp gáp đi ra, và nghĩ rằng chẳng ai thấy mình (mắt chú tôi cận nhẹ). Nếu ai nhắc đến cái túi trên tay, thì ông nổi xung thiên lên, rồi sau đó thề thốt, kiên quyết chối bay chối biến. Vì thấy cũng chẳng có gì to tát lắm, nên thím cũng lờ cho qua. Cho đến một hôm, mấy đứa cháu mách với bà nội của chúng rằng, ông xách cái túi lên bãi tha ma trên núi, thì thím mới bắt đầu lưu tâm. Bà nghĩ, ông ấy lên bãi tha ma như vậy thì hẳn không phải đến nhà bạn bè, hay là ma? Chẳng lẽ bọn ma quỉ bắt ông mang những thứ ấy đến cho chúng? Bà là người mê tín nên rất muốn biết rõ chuyện này, nhưng lại không dám hỏi ông. Bà biết ông sẽ giận.
Cuối cùng thì mâu thuẫn cũng nổ ra. Lúc tôi đến nhà thím, chú đã bỏ đi. Thím khóc lóc kể lể với tôi rằng gia đình xảy ra chuỵện. Nguyên là hai hôm trước, chú đem cái đồng hồ vàng mà ông đang đeo cho đi. Cái đồng hồ ấy mua mất những hơn một nghìn đồng, ông đeo chưa đầy hai năm. Khi bà hỏi, ông cũng ậm ờ cho qua chuyện, nhưng đến lúc không kìm được nữa, ông hét lên: “Mất rồi!” Lời ông như tiếng sét nổ bên tai, khiến bà như chết điếng, một lúc lâu sau mới định thần trở lại được. Rồi đó thì giận suốt một ngày một đêm. Còn chú thì mặt lạnh như tiền. Mái tóc bạc ngày thường được chải chuốt gọn gàng, giờ thì rối như tổ cu, ánh mắt âm u và không nói không rằng. Sớm hôm sau, ông bỏ đi, chỉ đem theo mấy bộ quần áo và vài đồng giắt lưng.
“Ông ấy có thể đi đâu nhỉ?”. Bà thím ngơ ngơ ngẩn ngẩn hỏi tôi.
Tôi vắt óc cũng không thể nghĩ ra. Cuối cùng thì những bạn bè bí mật của chú ở đâu? Nếu không có bạn thì ông đến đâu? Thím hối hận rằng mình không thấy được sự nghiêm trọng của sự việc, lẽ ra bà phải bám ngay theo để xem ông làm gì. Nhưng bà lười. Bây giờ thì ông bỏ đi rồi, một ông già bảy mươi ba tuổi, thân thể lại không lấy gì làm khoẻ khoắn như vậy, lại lận lưng có mấy đồng bạc, lang thang ra ngoài thì không biết chuyện gì xảy ra đây? Bà càng nghĩ càng sợ, ngồi khóc sướt mướt. Chúng tôi bàn tới bàn lui, chợt nhớ đến lời đứa cháu và nghĩ rằng đó là một manh mối. Chúng tôi đợi nó tan học về, rồi sẽ hỏi nơi nó nhìn thấy ông nội.
“Ngã sáu”. Nó nói, “lúc đó trường chúng cháu đi dã ngoại ở đó, nhìn ông nội có vẻ hoang mang, bối rối thế nào ấy, thấy bọn cháu, ông rẽ vào rừng rồi không thấy đâu nữa. Chỗ ấy chỉ có người chết với mồ mả, ông nội đến đó làm gì?”
Tôi quyết định đến ngã sáu xem thế nào, biết đâu lại rõ chuyện của chú cũng nên. Tuy mấy nãm về đây, không hiểu vì sao ông chú của tôi lại xa lánh mọi người, nhưng tôi vẫn nhớ cái cảnh khi tôi “cỡi ngựa cao” trên vai ông. Thời ấy, chú khéo léo và nhanh nhẹn khiến cho người khác rất an toàn. Cho nên, dù bây giờ ông không quan tâm đến tôi nữa, tôi vẫn lo lắng cho ông, chứ không phải hoàn toàn vì bà thím. Và so với lúc trước, bây giờ tôi lại càng thích chú hơn. Ông không quan tâm đến người khác hẳn có ẩn tình gì đó.
Vào một ngày nghỉ, tôi đi xe buýt đến ngã sáu. Bãi tha ma nằm phía sau cánh rừng nhỏ, cây cối rậm rạp và gần như không có lối đi, tôi chui qua đám cành lá um tùm ấy và một lúc lâu sau mới thoát khỏi cánh rừng ấy. Vừa thò đầu ra, thì trước mắt bừng sáng, trên khu đất bằng phẳng mênh mông là những tấm bia mộ dựng đứng không theo hàng lối nào cả, mỗi mộ một kiểu, cái này lấn cái kia chạy đến cuối chân trời với vẻ ảo não. Tôi đến đây làm gì nhỉ? Tôi cũng không biết. Tôi đi tới đi lui trong bãi tha ma, rõ ràng tìm thấy một cái hố mới đào, bên trong trống rỗng. Nơi này không có chỗ nào có thể tránh gió che mưa được. Ông chú của tôi chắc chắn không thể ở đây lâu.
Không hiểu sao, trên đường trở về, tôi có dự cảm rằng chú đã trở về nhà. Bãi tha ma, những ngôi mộ, cái hố mới đào, mùi đất bùn mới… Suy nghĩ của tôi cứ nhảy múa như con nhái xanh trong đầu.
Chưa đến nhà chú, tôi đã nghe tiếng cười của thím. Chú đang gục đầu ngồi trong phòng, dưới chân là một bao lớn đồ đạc, trên vỏ bao còn lấm bùn đất mới. Thím đang cúi xuống lật xem những đồ đạc ấy, miệng cứ lải nhải không thôi. Những đồ đạc ấy chính là những thứ mà mấy năm nay chú mang từ trong nhà đi, toàn bộ ở đấy và đã hư hỏng cả rồi. Vẻ mặt chú hết sức chán chường và mệt mỏi, ông không buồn nhướng cả mắt lên nữa.
“Ông ấy làm mất cái đồng hồ vàng rồi”, thím nói, “ổng bỏ nó vào bao lẫn lộn với mớ đồ đạc này, có thể đã đánh rơi giữa đường mất rồi. Người đâu mà chẳng cẩn thận gì cả”.
Trông thím rất vui vẻ, bà không còn đau lòng vì cái đồng hồ vàng ấy nữa. Bà cho là chú đã đem những đồ đạc mang đi trở về, chứng tỏ cái sở thích kì quặc của ông không còn, tuy mất một cái đồng hồ vàng, nhưng chuyện ông quay về là điều tốt và là điều quan trọng nhất. Bởi vậy, bà hết sức vui vẻ.
Cái sở thích của chú quả thực là đã không còn nữa, ông không mang những đồ đạc trong nhà đi, nhưng tình hình của ông lại không mấy lạc quan. Vẻ mặt ông vẫn như cũ, mà trong lòng thực ra càng ngày càng bất cận nhân tình.
Lúc tôi đến nhà, ông không còn vẫy gọi tôi nữa, dường như ông hoàn toàn không nhận ra tôi nữa vậy. Ông đi qua đi lại trước mặt tôi và chỉ nói chuyện với thím. Mà không chỉ đối với tôi, ngay cả con trai, con dâu, thậm chí cả đứa cháu của ông, ông cũng có thái độ như vậy. Một hôm tôi đến nhà, đứng ngoài cửa, tôi nghe bên trong ông nói:
“Cái thằng ấy tại sao lai không rời mắt khỏi tôi thế nhỉ? Bà nói nó đến bãi tha ma tìm tôi, ấy là nó chỉ muốn thỏa mãn sự tò mò xấu xa của nó. Thằng ranh ấy từ nhỏ đã như vậy, tôi biết tỏng bụng nó rồi”.
Tôi đẩy cửa bước vào, chú tỏ vẻ rất khó chịu, cúi đầu không nói tiếng nào. Bà thím qua cơn thất thần, kéo tôi ngồi xuống và hỏi liên thiên. Lúc này cậu con trai của chú thím đã trở về, một gã phất pha phất phưởng, nói năng tùy tiện. Nó ghé lại gần tai tôi nói:
“Cha tôi nói anh đã nhặt cái đồng hồ vàng của ông ấy, anh thật là xui xẻo, hê hê!”
Mặt tôi phình lên như màu gan lợn, lập tức đứng dậy định bỏ đi, nhưng bà thím cố sống cố chết níu lại. Bà nói:
“Việc gì phải tin vào những lời nhảm nhí của ông ấy, ai mà tin được lời của một ông lão kì quái điên điên khùng khùng như ông ấy chứ?”
Chẳng lâu sau, chú đuổi cả vợ chồng thằng con đi. Thím khóc lóc nỉ non, cô con dâu thì đứng ở cửa cổng mà phát thề rằng sẽ không bao giờ bước vào cái nhà này nữa. Ông chú từ trong nhà xông ra, chân không cả xỏ dép, chỉ mặt con trai và con dâu chửi bới oang oang, ông còn nói một câu khó nghe rằng “giặc trong nhà khó đề phòng”. Bộ dạng ông cứ như một lão du thủ du thực.
Nhưng điều khiến người ta không thể hiểu nổi là chú không hề để ý đến tài sản của mình. Ông cứ tự tiện đem cái áo khoác mà thím đã mua cho quẳng vào chậu, làm cho nó trở nên vô cùng bẩn thỉu. Chú lại còn mang radio vào nhà cầu, nói là để nghe nhạc, sau đó quên luôn, vặn vòi nước ra và để nó chảy tràn lên cả cái đài. Kết quả, cái đài hư. Ông nói với thím, trước đây sao mình ngu thế không biết, coi những đồ đạc ấy quan trọng đến như vậy, ngày nào cũng đeo một gánh nặng.
Khi tôi đến nhà, chú làm bộ bắt tay tôi, cứ như tôi là khách mà lần đầu tiên ông gặp.
Thím già đi nhanh quá, ánh mắt đờ đẫn, vô hồn, trí nhớ ngày càng kém. Đồ đạc sắp xếp trong nhà cũng đã hơi lộn xộn và phủ đầy bụi bặm, cái cảnh thảm đạm đã hiện ra trước mắt, dường như thím đã buông xuôi. Bà nói với tôi, nếu hồi đó cứ để cho chú mang cái đồng hồ vàng đi, không càu nhàu gì với ông, thì bây giờ tình hình hẳn là khá hơn. Bà thường thông minh hơn sau khi mọi việc đã xảy ra. Không biết tình hình cuộc sống trước mắt phải như thế nào, làm sao với con ngươi khó hiểu như chú đây? Nói đến đây, bà cảm thấy mình đã lỡ miệng, vội vàng nói thêm rằng, thật sự bà không muốn đấu tranh với ông, chưa bao giờ bà nghĩ đến điều đó, bà chỉ muốn bảo vệ chú thôi.
“Cháu bảo ông ấy đã đào một cái hố à?” Bà bỗng nhiên hỏi tôi, mắt ánh lên vẻ kì lạ.
Rồi không đợi tôi trả lời, bà tiếp:
“Cháu nghĩ xem, đã bao nhiêu nãm nay, cứ đem từng món đồ mình đã dùng chôn giấu đi như thế, phải gan lắm ấy chứ. Thím muốn yên mà ông ấy cứ như vậy, thật không thể hiểu nổi. Bây giờ biết tính sao với chuyện này? Mang tất cả đồ đạc trong nhà mà chôn đi cả, không tiếc rẻ thứ gì, cũng không thèm nhìn ai nữa, rồi còn làm ầm ĩ cả lên, cứ như lão quái vật ấy. Một người bình thường làm sao có thể như vậy được? Cháu nghĩ có đúng không?”
Bà đau khổ cực độ, vẻ mặt khó đăm đăm; tôi không biết phải làm sao, đành trầm ngâm.
“Chào cháu, cậu đoàn viên thanh niên!” Ông bước đến nói với tôi, mái tóc trắng bù xù dựng đứng, trông có vẻ kì quái. Gần đây ông thường gọi tôi là đoàn viên thanh niên, tôi nói với ông rằng tôi đã bốn mươi tuổi rồi, ông ngạc nhiên kêu lên: “Nhanh vậy sao? Thật là ngày tháng như tên bay! Mới ngày nào cháu còn là đứa bé cởi truồng đó mà. Chú biết tính cháu khó thay đổi, cháu đến đây ngó ngó nghiêng nghiêng, có phải là muốn kiếm ít đồ đạc không?”
Bà thím đeo bộ mặt thểu não, mong ông đi ngay cho khuất mắt. Nhưng chú không đi, lại còn kéo ghế ngồi trước mặt tôi, nói là muốn tâm sự.
“Anh chàng này,” ông vỗ vỗ vai tôi nói, “làm hàng xóm với các bác dễ chừng đến mười mấy nãm rồi ấy nhỉ? Khi đó cậu hãy còn cởi truồng chạy lông nhông khắp nơi, thường bị ta cho ăn đòn đau…”
“Nó là cháu của ông”. Thím lạnh lùng ngắt, “đừng giả vờ nữa”.
“Chú không đánh cháu, ngược lại chú còn hay đặt cháu ngồi lên vai chõi trò “cưỡi ngựa” nữa, cháu rất thích chú”. Tôi nhẹ nhàng nhìn vào mắt ông.
“Bố láo! Hai đứa chúng bay hùa làm một từ lúc nào thế hả? Mở miệng ra là cùng một giuộc. Chúng bay mưu tính với nhau những gì? Thật ra, mày muốn đến đây kiếm đồ đạc chứ gì?” Ông giận dữ đứng lên, đi vào nhà.
“Thấy chưa, ông ấy như vậy đấy, làm thím không còn mặt mũi nào mà nhìn người ta nữa!” Bà lại khóc, vừa khóc vừa liếc trộm xem trong phòng ông chú có động tĩnh gì không.
Tôi nói với thím rằng, có lẽ chú mắc chứng tinh thần phân liệt, tốt nhất là mời bác sĩ khám xem thế nào, chưa chừng chú mắc bệnh già lẫn cũng nên, hành vi ngang ngược của chú như vậy khiến người ta phải lo lắng. Tôi nói vậy, nhưng trong lòng cũng không tự tin cho lắm, và thầm ngờ rằng không biết mình có sai sót chỗ nào hay không, tại sao cứ nhất định rằng ông chú có vấn đề? Bà thím nghe kiến nghị của tôi, lập tức ngưng khóc, vẻ mặt sầm xuống. Bỗng nhiên bà liếc một cái, ánh mắt ấy khiến tôi run cả người.
“Cháu đi đây”. Tôi ngượng ngùng đứng dậy nói.
Thím quay mặt giả lơ.
Rõ ràng trong lòng bà, tôi là một đứa tiểu nhân chính hiệu! Tôi rũ đầu buồn chán, tự dặn lòng rằng không nên dẫm chân vào cái mớ thị phi này nữa. Đúng vậy, tôi phải xoá hình ảnh chú khỏi đáy lòng mình, tôi không muốn đóng vai một thằng hề nữa. Lúc này tôi mới nhớ ra; bà thím cứ thổi phồng tình cảm của mình, thứ đàn bà này thích kiểu ấy, ví nó khiến bà thỏa mãn. Hai người họ đúng là một đôi trời sinh.
Tôi vẫn thường gặp chú trên đường, bây giờ thì ông không tránh né gì nữa. Chỉ có điều làm như không thấy, cứ đi thẳng. Có lúc tôi nghĩ, cũng có thể mắt ông cận thị ngày càng nặng. Thím thì ngược lại, lúc nào cũng tránh mặt tôi, tôi biết bà còn giận. Con người là như vậy, muốn làm việc tốt nhưng lại khiến người oán giận. Chi bằng cứ bàng quan ngay từ đầu, không thèm quan tâm đến ai là xong.
Một hôm, chú và thằng con đánh nhau. Ông túm lấy ngực thằng con, thằng con thoi một quả khiến ông già văng ra, ông lại xông lên muốn xách tai thằng con, nó không muốn làm ông bị thương nên bỏ chạy. Ông đuổi theo nó một quãng xa, mái tóc trắng phất phơ trong gió lạnh. Cuối cùng ông đứng lại, chửi bới rầm trời, nắm tay dứ dứ về phía thằng con chạy, cứ như một lão anh hùng. Tôi nghe những người chung quan nói, chỉ vì cậu con trai muốn về thăm cha mẹ cho phải phép, ý muốn duy trì quan hệ với ông bà, nhưng chú không cho cậu ta vào nhà, quát tháo om sòm, nói giặc tới nhà. Sau đó, thím mở cửa, cậu con trai mới được vào. Ông lại chửi chó mắng mèo. Thằng con giận quá, cãi ông một tiếng, thế là ông vác gậy đánh nó, không ngờ phang nhầm bà thím chạy ra đỡ đòn cho con, thế nên cả ba đều nóng tiết lên. Kết quả là cảnh mà tôi vừa chứng kiến. Trong cuộc giằng co này, chú bị thương nhẹ ở mặt, ông không đứng vững nữa, xô đến góc bàn, trán sưng tấy một cục rớm máu. Còn bà thím bị một gậy của ông, cũng khập khiễng mất mấy ngày.
Tôi đã không quan tâm đến chuyện gia đình chú nữa. Nhưng một lần ra ngoại thành công tác, vừa ngang qua cánh rừng, tôi bỗng thấy chú đang đi trước mặt, hình như ông đã ngã ở đâu đó, quần còn lấm đầy đất cát, tóc tai bờm xờm, bộ dạng một ông lão lụ khụ. Ông đang vào rừng, đi về phía những ngôi mộ. Tôi đâm tò mò, lén theo phía sau.
Ông lúc đi lúc dừng, có vẻ như đang trầm tư, hoặc tựa hồ như đang phân vân. Ông đi vòng vòng quanh những ngôi mộ, cuối cùng đến cái hố mà tôi đã từng thấy.
Tôi đứng mé rừng nhìn theo, chỉ thấy ông hì hục đào bới liên hồi, hình như muốn mở rộng cái hố ra thì phải. Đào một chập, ông lại dùng giỏ tre dồn bùn đất đã đào ra đắp lên miệng hố, đó là công việc hết sức nặng nhọc. Giày ông ngập trong bùn, tay hình như cũng rộp phồng lên, vì tôi thấy ông liên tục nhổ nước bọt vào lòng bàn tay. Làm một đỗi, ông thấm mệt, trèo từ dưới hố lên, ngồi nghĩ ngợi trên một tảng đá lớn. Trên trời có con quạ bay ngang, cất tiếng kêu quái dị “quạ, quạ”. Lòng tôi tràn ngập sự thương hại, tôi đến cạnh, hai tay đặt lên vai chú. Ông giật mình, quay lại, thấy tôi, trên mặt lộ vẻ khinh thị, nói:
“A, ra là đoàn viên thanh niên! Không lúc nào mày tha cho tao. Chỗ này cách nhà cũng không xa mấy, nhưng đừng đến nhiều, đến rồi thì không trở về được đâu. Ấy, tao nói trật rồi, không về được là người khác kia, mày nói coi, kích cỡ cái hố này như thế nào? Được chứ hả? Trong bụng mày chắc đang nghĩ, tao vẫn đang giả vờ, giả vờ cho mình xem. Tao cũng biết thế là không hay, không có tác dụng gì, đúng là đánh chết cái nết vẫn còn. Bây giờ mày đã thấy, màn kịch của tao đã khép. Chúng ta đi thôi.”
Trên đường đi, ông luôn miệng oán trách bà thím, rằng bà đã hại ông khiến ông phải một thân một mình chạy đến một nơi thế này. Lúc trước thì ông còn im lặng trong nhà, bây giờ ông đã thành một con quạ. Tất cả những chuyện này đã chôn kín từ lâu, khi đó thằng con ông mới sinh, bà thím nhờ người ta mua một chiếc vòng vàng đeo vào cổ nó. Ông nhìn cái vòng ấy, càng nhìn càng ngứa mắt. Một bữa, thừa lúc ẵm thằng nhỏ ra ngoài chơi, ông lấy cái vòng giấu đi, sau đó lén đem chôn ở cái hố này. Bà thím khóc mờ mắt. Từ đó về sau, ông thường đến bãi tha ma xem, vì sợ người khác đào cái hố của ông, trộm cái vòng vàng ấy. Sau đó, ông khuân tất cả những đồ đạc đã chôn về nhà, chỉ trừ có chiếc vòng, ông đã bán nó cho một cửa hàng ven đường. Chuyện này không oán bà ấy thì oán ai đây? Những lời này không phải để tôi nghe, mà là ông tự lẩm bẩm.
“Vì chú không có ai để trút giận.” Tôi nhắc ông.
“Mày bớt lo chuyện không đâu đi!” Ông giận dữ, “sao mày cứ bám theo tao mãi thế hả?”
Những người hàng xóm nói, nhà ông bây giờ đã nhếch nhác lắm rồi, bên trong bẩn kinh khủng, đồ đạc bừa bãi, trong bếp thì ngập lên những bát đũa chưa rửa. Ông chú vẫn nghĩ vơ nghĩ vẩn, trong bếp nuôi một đàn gà, lại không được nhốt kĩ nên chúng ỉa vãi khắp nõi. Bà thím càng ngày càng không muốn dọn dẹp nữa, có khi ra đường mà còn chưa rửa mặt, mắt mũi hãy còn đầy những ghèn rỉ, khi nói chuyện với người ta thì dùng tay quẹt, móc. Bà đã hoàn toàn biến thành một người khác. Nhưng quan hệ giữa hai người họ hãy còn tốt, cứ như chưa từng bao giờ cãi nhau vậy. Có lúc tôi thấy chú đi bộ ra xa nhà, vừa đi vừa ngẫm nghĩ, thấy tôi, ông vẫn lặp lại câu nói cũ:
“A, đoàn viên thanh niên!”
Tôi nghĩ bụng, vở kịch của ông phải đến bao giờ mới chấm dứt đây? Mà rốt cuộc thì ai đang diễn kịch?
Tôi lại đi qua bãi tha ma, thấy cái hố chú đào đã khá sâu. Ông vẫn cứ đào, thật là cái số khổ. Lúc tôi đến nhà, thằng con ông ngăn lại, coi bộ rất hùng hổ, hoa chân múa tay, nói:
“Lão vô lại ấy muốn chôn mẹ tôi cùng lão ta, anh có hiểu không? Mẹ tôi đã bị lão ta bỏ lâu rồi, sắp chết rồi! Bây giờ ngay cả hình dáng tôi mà bà ấy còn không nhớ, nói gì đến cháu với chắt. Tôi gặp bà ngoài đường, tôi gọi mẹ, bà lắc đầu, mặt lạnh như tiền. Vì đâu mà ra nông nỗi này, chẳng phải là do cái lão vô lại ấy đã khiến bà trở nên như vậy sao? Có lần, qua cửa sổ nhà bếp, tôi thấy lão vô lại cầm chổi vụt mấy con gà, khiến lông lá chúng bay loạn cả lên! Tôi cũng đi ngang qua chỗ cái hố, lão ấy đã đào sâu lút một người rồi, mà vẫn còn đào rộng thêm, chắc là muốn chôn hai người. Cứ rỗi ra là lão ấy lại đi đào, sức vóc còn khoẻ lắm, cứ nhảy lên nhảy xuống, lại còn hát khe khẽ nữa cơ chứ. Hành động của lão khiến người ta đến khiếp! Lão ấy làm cho chúng tôi thấy, vậy rút cục là có ý gì? Anh nói coi?” Nó trợn mắt nhìn tôi, cứ nắm tay tôi lắc lắc.
“Không có ý nghĩa gì cả”. Tôi bất đắc dĩ trả lời nó.
Tôi nghĩ, trên thế gian này, kể sao cho xiết những chuyện vô nghĩa. Ông chú đã vào ma giới thì nhất định ông ấy sẽ làm đến cùng điều mình muốn, không ai có thể can thiệp được. Mà ai có thể phán chắc rằng chuyện nào có lí, chuyện nào là vô lí?
Mắt bà thím ngày càng yếu, chắc là bị đục thủy tinh thể. Có lẽ do bà không giữ gìn vệ sinh, nhìn điệu bộ bà đi trên đường, thì biết rằng thế giới này, bây giờ trong mắt bà đã biến thành những cái bóng.
“Chào thím.” Tôi lên tiếng.
“Mày còn đang ở đây a?” Giọng bà dường như trách móc, không biết bà có nhận ra tôi không nữa.
Chuyện chú đào hố, ai nấy đầu biết cả rồi, chắc là thằng con ông loa ra. Người ta kéo đến bãi tha ma xem cái hố, rồi bị mê hoặc thở dài.
Ít lâu sau, cái hố ấy đã đọng đầy những nước mưa, có người thấy chú nhảy xuống ấy, nước ngập đến tận cổ. Lúc đó trời rất lạnh, ông cứ run lẩy bẩy.
“Ông ấy đang tắm nước lạnh, thật là một ông già kì lạ.” Người đó nói.
Kết quả, chú lãnh một tháng bệnh. Bà thím cũng không thèm mời bác sĩ bác siếc gì, chỉ dùng độc một loại thảo dược sắc cho ông uống. Nghe đâu khi uống thứ thảo dược đó, nước tiểu của chú hóa thành duy một màu xanh.
Khi tôi vào nhà chú thím, hai người đang ngồi như tượng bên mép giường, vẻ mặt cứ như không trông thấy ai. Mùi trong nhà bốc lên khiến người ta thật muốn nôn, bọn gà qué thì đang bay nhảy tán loạn dưới bếp. Tôi cố đi thật nhẹ, giày quẹt khe khẽ lên sàn gỗ. Nhưng tiếng động ấy đã khiến họ kinh động. Ông chú giật nẩy lên, bà thím thì quơ cây chổi cản tôi lại rồi chỉ tôi quát lớn:
“Cút ngay! Mày vào đây ông ấy sẽ chết! Mày không thấy hay sao, hả thằng mù kia?”
Mắt bà đầy u ám, rõ ràng là không trông rõ tôi, mà chắc bà chỉ thấy một cái bóng tiến vào nhà. Tôi để ý thấy bà đi chân trần, có lẽ bà không tìm thấy dép.
Tôi vội vàng rời khỏi nhà chú, chợt nghe tiếng la hét của chú vọng ra từ cửa sổ, tôi đứng lại.
“Lại là thằng ãn cắp hả? Không sao, đừng làm nó giận, đó là chuyện thường xảy ra. Ta đang cố gắng dần dần thích nghi. Có kẻ cho là ta đào cái hố ấy cho ta, bọn họ hố rồi! Ta không chịu chôn chung chỗ với mấy người đó đâu, ta muốn hỏa táng, ta đã viết rõ trong di chúc như vậy. Thằng nhãi ấy đúng là không có mắt, rõ ràng thấy hai người bọn ta ngồi trong nhà thế này, mà còn muốn đến ãn cắp, không biết đầu óc nó ra làm sao nữa.”
Chú vờ như không biết tôi nghĩ gì, thực ra tôi mới là người không biết chú nghĩ gì. Dù có cố gắng đến đứt hõi, tôi cũng mãi mãi không thể bắt được tư duy của chú.
 
Lưu Hồng Sơn dịch 2-2006
 
Đăng nhập để trả lời
0
6:SƯƠNG MÙ
 
Từ khi sương mù rơi đến bây giờ, mọi thứ chung quanh đều mọc ra bao nhiêu là lông lá lượt thượt và chúng không ngừng nhảy múa. Muốn nhìn một cái gì đó cho rõ, tôi phải căng mắt cả ngày. Mắt mũi vì vậy mà đau muốn chết. Khắp nơi đều là thứ sương mù chết tiệt này, ngay cả phòng ngủ cũng tràn ngập, chúng như làn khói dày ùa vào. Chúng xâm chiếm cả không gian và thời gian, khiến vách tường ướt nhem nhép. Ban ngày thì còn cố mà chịu được, chứ đến đêm thì thật chịu không nổi với nó. Chăn bông ngấm đầy nước, nặng trình trịch, cứng đờ, lại còn phát ra tiếng kêu “bạch, bạch”, thử sờ tay vào thì lạnh run lên. Mọi người trong nhà đều đổ về phía nhà kho, trong đó chất đầy những bao tải sũng nước. Trong xó nhà kho đặt một cái lò đang toả ra hơi nóng bừng bừng. Mẹ khoá trái cửa lại, mọi người ngồi dồn cả vào một chỗ, ai nấy đều nóng chảy cả mồ hôi. Và cứ như vậy cho đến tận sáng.
“Tôi rất thích cái thứ màu vàng này, chúng khiến cho tôi ăn uống khoẻ hơn rất nhiều”. Cha rướn cổ nói, cục yết hầu to tướng trên cần cổ chạy lên chạy xuống, trên yết hầu còn lún phún một nhúm lông đen. Rồi còn nghe thấy cả tiếng “lắc cắc” từ các khớp xương của ông, cái mông lép của ông vung vẩy, lắc lư rồi biến mất trong sương mù.
Nhà tôi cả thảy có năm người, hàng ngày đều ăn uống và xem ti vi cùng một chỗ với nhau. Chúng tôi là một gia đình hoà thuận. Sáng hôm đó, tôi mở cửa, thấy mặt trời hoá ra màu xanh nhạt và được bao bọc trong một lớp lông rất dài, thì ra hồi đêm sương mù rơi nhiều chưa từng thấy. Nguyên hình của những người trong nhà bỗng nhiên biến đâu mất, hoá thành những cái bóng mông lung chập chờn; mà ai cũng trở nên nóng nảy, cổ quái, thậm chí là quá quắt. Như mẹ, ngày thứ hai, kể từ khi sương mù rơi, tuyên bố bỏ nhà ra đi. Nguyên nhân, theo như lời bà, là do một loại đau khổ sinh lí không thể chịu nổi. Sau khi mẹ bỏ nhà đi, chân của cha biến thành hai cái gậy gỗ, suốt ngày khuấy chọc bùn nước, phát ra tiếng kêu “choạp, choạp, choạp”. Ông lại còn huýt sáo một bài hát quen thuộc nào đó nữa chứ. Hai ông anh trai thì lại phát cuồng lên, lục lọi rương tủ, chui vào gầm giường ngang nhiên nuôi chuột. Họ cố làm ra vẻ bí hiểm, sợ người khác biết, cho nên họ xem tôi như cái gai trong mắt, nhất tề quay về tôi mà gào rống, doạ nạt. Tôi chỉ còn nước chui vào tủ quần áo mà trốn. Trong tủ đồ rất nóng nực, mùi long não cực khó chịu, lại nghe bên ngoài họ la hét điên cuồng, làm vỡ không biết bao nhiêu là kính. Tôi thực sự thương cho hai ông anh đó, họ bị bệnh thoái hoá xương, hơn hai mươi tuổi mà không thể đi đứng gì được. Để phòng họ rước hoạ vào thân, cha lấy một sợi dây, một đầu buộc hai anh em vào với nhau, còn đầu kia giắt vào lưng của ông, rồi kéo họ lê lết trên đất cát. Bây giờ, thái độ của họ rất khác thường, trở nên hung hăng càn rỡ như vậy đấy; tuy nhiên, trong lòng thực vẫn sợ hãi, họ làm vỡ kính là một cách để làm yên ổn lòng mình.
Tôi mải đi tìm mẹ. Tôi biết, bà không bỏ nhà đi thật, nhất định là bà chỉ quanh quẩn đâu đây thôi. Vì mỗi đêm, khi chúng tôi vào nhà kho, vẫn nghe thấy có tiếng người vào phòng, ăn sạch số cơm còn thừa. Một lần nọ, tôi ăn no ẳng bầu, lê cái cái chân ướt rượt ra cổng, thấy trên dây nho treo một cái nơ hình bướm cũ sờn bạch phếch, trông chẳng khác gì một con chuột chù. “Đó là khi con còn nhỏ, mẹ đã giúp con cài lên đầu, chuyện xưa thật là thương cảm”. Cha chớp mắt, chọc cái chân gỗ vào tường nghe “khụp, khụp”, nói. Mặt trời bị hơi nước nuốt, trông như một vành trăng non. Có một người tất ta tất tưởi, từ cây nho băng qua giẫm lên thềm đất.
“Mẹ?”. Tôi nắm lấy một ống tay áo sũng nước.
“Tìm một quả trứng. Mẹ nuôi hai con gà mái trắng, bọn nó đẻ lang khắp nơi. Mẹ bỗng hay mình lạc trong rừng. Trong đó có một vách núi cao hiểm, lũ lụt sắp kéo về rồi”. Bà giằng tay áo thoát khỏi tôi, huơ huơ hai cánh tay, vội vàng bỏ đi. Tứ chi trong quần áo của mẹ mềm xẹo, như có mà như không vậy. Ai biết nhỉ! Hoặc giả bên trong bộ đồ kia chả có gì ráo? Hoặc giả, thứ mà tôi túm được không phải là đồ của mẹ? Tất cả những gì bà nói, toàn là những chuyện tôi không còn nhớ, đã hai mươi năm nay bà không nuôi gà, tại sao phải cứ một mực nhớ lại?
Như vậy, trong bộ đồ kia hẳn không phải là mẹ. Tôi nhớ rằng, mẹ là một người rất mập, thường chảy mồ hôi dầu vào ban đêm, nếu không nhỏ mấy giọt mỡ đó, thì không biết kết cục bà sẽ ra sao.
“Mẹ của con,”, cha vừa huýt sáo vừa nói, “đang đào giun đất bên núi ấy! Chứng cuồng tưởng của bà ấy lại lên cơn đây mà. Bà ấy mắc bệnh này đã hơn hai mươi năm, lúc kết hôn, bả cố giấu giếm cha. Đợi sương mù tan hết, cha sẽ đi một chuyến để tạo dựng đại sự nghiệp. Trong đầu cha có vô số cách kiếm được nhiều tiền. Bọn chúng kêu chiêm chiếp như lũ gà con, biết đâu thật lâu về sau, trong số ấy có một vài con sẽ lớn lên”.
Ông khom lưng, đứng lên ngồi xuống, đứng lên ngồi xuống phía sau cửa, nên trông không được rõ cái đầu.
“Cha?”
“Ta đang sưu tập những đồ đồng, đây cũng là tâm nguyện nhiều năm của ta, có lẽ một khởi điểm mới sẽ bắt đầu từ đây. Các người? Hừ! Bao nhiêu lần ta bị các người cười giễu thiếu điều không có đất mà chui xuống, phải ngồi trong nhà xí mà tấm tức khóc thầm. Tình trạng này đã diễn ra hàng chục năm nay rồi, ta chỉ cần ngầm thể hiện một chút tài năng và kế hoạch của ta, thì cái chứng cuồng loạn của các ngươi sẽ bùng lên, bọn nguỵ quân tử các người”.
Mẹ ngã chúi dưới một gốc cây già, hai tròng mắt đảo tới đảo lui như đồ sành. Tôi chạy đến đỡ cái thân thể nhỏ bé gầy guộc và nhẹ hẫng của bà lên, thấy mặt bà từ từ xám lại.
“Trên cái hốc ở vách núi, mẹ thấy một quả trứng, con xem này!”. Tôi hoảng hồn nhìn những ngón tay chẳng có gì ngoài mấy cái móng nhỏ mà bà chìa ra, cổ họng rít chặt từng cơn. “Mẹ đuổi theo mấy cái bóng trắng lấp loáng đó, mệt đến đứt cả hơi đi được”.
“Sương mù làm mắt mẹ hỏng mất rồi, mẹ không nhìn thấy con”. “Bên rừng cây đó, có mấy bóng người, con không cảm thấy sao?”
“Con làm sao cảm thấy được, mắt con bị mờ mất rồi”. Tôi giận dỗi rút tay ra khỏi nách bà, chỗ ấy ấm áp như dưới cánh gà vậy. Bỗng nhiên một giẽ xương sườn của bà đứt gãy, kêu “rắc rắc”.
“Đó chỉ là một giẽ xương sườn”. Cái mặt xanh xám của bà nhăn nhăn nhó nhó rồi từ từ mất hút bên gốc cây.
Cuối cùng thì cha cũng động tay động chân. Ông đục đẽo trong phòng cả đêm. Đến sáng thì đóng xong một cái rương gỗ to đùng. Ông muốn dùng dây cọ mà ràng cái rương gỗ ấy lại, nhưng buộc ngang buộc dọc gì cũng đều chẳng đâu vào đâu. Ông sôi gan, lấy chuỳ sắt đập tan cái rương gỗ, ngoác họng gào lên: “Cái túi du lịch của ta quăng chỗ nào rồi? A, quân trộm cắp, đồ phá gia chi tử. Ta đã chịu đựng 40 năm nay… trả lại cái túi du lịch của ta!”. Ông đuổi theo anh trai tôi, xông ra ngoài rồi không thấy trở lại. Sau đó, anh trai cho tôi hay rằng, cha hoàn toàn chẳng đi du lịch du liếc gì cả, ông đang ở trong một cái miếu hoang gần nhà và sống bằng nghề lượm ve chai. Ông rất khoái chí, suốt ngày cầm một cái quản đồng thổi ra một thứ âm thanh chối tai, rồi lại còn xạo với mấy cô gái rằng mình là một người đàn ông đơn chiếc. Thật ba hoa quá, anh trai giận ngắt lời ông, rồi giấu cái đồng hồ vào người. Cái đồng hồ ấy chính là của mẹ, thế mà anh tính mang nó bán cho hàng đồ cũ đặng mua rượu mang đến miếu uống. Anh còn rêu rao rằng sẽ suốt đời sống với người cha thân yêu.
Sáng sớm, tôi bị tiếng ồn ào của lũ quạ đánh thức, thấy mẹ đang men theo chân tường tìm kiếm cái gì đó. Bà ngồi xuống đất, cái mặt vàng võ như chúi vào đất. Bà đang cố sức nhìn cho rõ. Hai tròng mắt cứng đơ đảo ngang đảo dọc trong hốc mắt.
“Con gà mái trắng đã về chưa?”
“Mẹ ngửi thấy một thứ mùi gì đó ở đây, nó toả ra từ đất. Cả buổi sáng mẹ đều làm việc này. Nếu không phải là mấy đám sương mù này… trong mỗi cánh hoa ngọc lan… vẫn còn mấy con sâu mập ú đó. Buổi sáng thức dậy, mẹ phát hiện không thấy cái trứng ấy nữa, chính là cái mà mẹ đưa cho con xem đó. Đó là thật phải không? Mẹ nhặt được trong một cái bụi gần một gốc cây già. Mẹ nhớ là có tất cả ba con gà mái trắng, một con có cái cổ lốm đốm rất khó thấy, còn hai con kia thì trắng muốt”.
“Cha của con,”. bà lại nói “là một cái áo khoác, khi đó ông ấy mặc cái áo ấy và ngay cả khi ngủ cũng không cởi ra. Một đêm, mẹ đánh bạo đưa tay thử sờ vào cái áo ấy, phát hiện ra rằng bên trong trống không. Mãi nhiều năm sau mẹ mới rõ chân tướng của sự tình”.
Tôi quyết nói về chuyện cái đồng hồ đeo tay của bà, tôi phí sức kể lể, trong đầu trống rỗng. Tôi không thể nói ra chuyện mình muốn nói được, dù một chút. Lời của tôi thốt ra đọng thành những giọt hồ dính trên bâu áo. Tôi liên tục dùng những câu hỏi, câu cảm nhằm “quan trọng hoá vấn đề”, nhưng tất cả đều vô dụng, mẹ đã ngủ mất rồi. Khi tôi ra sức lay mạnh vai bà, khí thế hăng hái hỏi: “Mẹ đã hiểu chưa?” thì trên cái mặt xanh xám của bà đầy những sâu bọ màu đen bò lên.
Một vòng tròn trắng xam xám bên cửa bốc lên, lập lờ. Đó là một đám sương mù rất dày.
 
Nguyên tác: "Vụ"
Lưu Hồng Sơn dịch 9/2005.
 
Đăng nhập để trả lời
0
7:ĐÀO NGUYÊN NGOÀI CÕI THẾ
 
Câu chuyện Đào nguyên trong truyền thuyết xa xưa lưu truyền khắp làng. Nhưng trong làng, ai cũng mù mờ, thậm chí là mù tịt về nó. Trong chuyện này, chỉ có ông Tư Tề là người có uy tín nhất. Ông Tư Tề giờ đã hơn 90 tuổi, thân thể già nua co rút lại chỉ còn chừng hơn mét, nhưng ông lại để bộ râu dài cả thước và trắng như tuyết. Khi ông Tư Tề đặt cái ghế có lưng tựa bằng tre vào giữa sân phơi lúa, ngồi vào đó và châm tẩu thuốc lên là bọn trẻ con lại chạy đến vây quanh ông, có mấy đứa ngịch ngợm còn kéo cả râu của ông. Cứ như lời kể của ông Tư Tề thì bọn trẻ con thấy cái thế giới ấy cũng chẳng có gì hay ho, lại có vẻ nặng nề buồn chán nữa là khác. Chẳng qua đó cũng chỉ là một xã hội nhỏ, ở đó, đàn ông cày ruộng, đàn bà dệt vải, họ sống hoà bình, không có chiến tranh và loạn lạc mà thôi. Thứ mà bọn trẻ thích là cái đu bay thần kì cơ. Nghe nói cái đu bay ấy được treo dưới một cành tùng rất to ở tít trên đỉnh núi. Không biết ai có thể trèo lên đến tận ấy để treo nó lên, nhưng chắc phải là một người thợ khéo lắm. Sợi dây dùng để treo đu bay được bện bằng những sợi gai, mà loại gai ấy bây giờ không còn ai thấy nữa. Sợi dây được xâu qua những vòng sắt rắn chắc vừa to vừa sáng, tấm ván đặt chân được làm bằng gỗ đàn xanh rất đẹp. Khi đu có thể bay lên đến giữa trời và lúc đó nó sẽ phát ra những tiếng rít khiến trời rung đất chuyển. Người dưới chân núi nghe không thể chịu nổi, nếu đang làm đồng phải vứt nông cụ phục xuống đất bịt tai lại, còn những người đang ở trong nhà thì vội vàng đóng chặt hết cửa rả lại. Ai cũng cho rằng, thứ âm thanh đó thật “kinh khủng”. Cuối cùng, có hai đứa bé bướng bỉnh trèo lên cái đu bay ấy. Có người thấy bọn chúng đu bay lên lưng trời một lúc rất lâu, rồi biến mất luôn. Sau đó, người ta phát hiện sợi dây đu bay đã bị cắt đứt bằng một lưỡi dao bén. Chiêu Sơn là dãy núi lớn trải dài qua mấy huyện, người mất tích trong ấy kể chẳng có gì là lạ. Nhưng có một cách giải thích rất kì quái, người ta nói sợi dây đu bay ấy không phải do hai đứa trẻ cắt đứt, mà là do “ý trời”. Đã là ý trời thì phải tìm thấy thi thể của hai đứa bé ấy chứ, đằng này, cả làng đã sục xạo suốt hai ngày mà vẫn chẳng thấy tăm hơi gì. Những kẻ nghĩ như vậy cứ khăng khăng nói, biết đâu bọn trẻ bỗng phát “kì tích” trên không. Nhưng mà kì tích đó là thế nào nhỉ? Bọn chúng mọc cánh bay lên mây chăng? Hay là bọn chúng đã được đại bàng rước đi rồi? Vì bị mọi người chế giễu nên những kẻ ấy mới không tiếp tục suy diễn nữa.
— “Nếu các cháu chia nhau vào núi tìm cho kỹ, có khi còn thấy vết tích của chiếc đu bay ấy đấy!”. Tề Tứ Tiết lim dim, nói.
Có một thằng bé mười lăm tuổi, thân thể gầy gò, tính tình trầm lặng, không nhập bọn với mấy đứa trẻ kia. Nó ngụ trong một cái miếu cạnh gốc cây, sống bằng nghề làm thuê. Xế chiều mỗi ngày, khi ông Tư Tề ngồi trên sân phơi lúa kể chuyện Đào nguyên, nó đều đến lắng nghe. Mỗi khi bọn trẻ kia kêu lên “A! A!” kinh ngạc vì câu chuyện mà ông Tư Tề kể, thì nó chỉ nhếch mép cười nhạt, ánh mắt loé ra những tia sáng như mắt mèo đêm.
— “Thức ăn ấy à! Trồng cái gì ăn cái đó, nuôi thứ gì ăn thứ đó. Khoai lang, bắp, đậu, thậm chí có cả lúa gạo, heo, dê, gà, vịt nhan nhản. Lại còn cả một trường học được dựng trên mỏm đá, phía dưới là hang sâu”.
— “Có cả trường học! Có cả trường học!” Bọn trẻ cùng hô vang.
— “Trong trường học, cái gì cũng có, trừ đu bay. Loại đu bay này đã bị cấm rồi”. Ông Tư Tề vừa nói vừa mở to mắt, nham hiểm nhìn bọn chúng.
— “Ông Tư Tề gạt người! Gạt người!". Bọn trẻ la ó, nhao nhao chạy đến giật râu ông già.
Ông Tư Tề vừa tránh, vừa đưa hai tay che chở cho bộ râu trắng của mình. Ông chưa kịp ngồi yên, bọn chúng lại hất ông ngã xuống đất, chổng cả vó lên trời. Có hai đứa còn ngồi lên người ông.
Sau một trận huyên náo, đầu tóc ông già đã bê bết đất cát, bọn trẻ mới dần dần tản đi. Ông Tư Tề đặt lại cái ghế dựa, giận dữ phun ra một bãi nước bọt, rồi lại ngồi xuống châm thuốc. Lúc này ông mới bắt đầu quan sát thằng bé ngồi đối diện. Nó tên Đài, cũng đang nhìn ông. Bốn mắt gặp nhau. Không khí có vẻ căng thẳng.
Ông Tư Tề đợi Đài đến nói với ông điều gì đó, hoặc đưa ra những chất vấn nghi ngờ cũng được. Nhưng cái tên Đài lang thang kia lại chẳng khi nào đến gần ông hơn, mà nó cũng không bỏ đi, cứ như muốn đánh nhau với ông Tư Tề vậy. Nó khiến ông phát chán lên. Ông Tư Tề nhớ rằng, bốn năm trước, Đài mới lưu lạc đến đây, ban đầu có cả hai cha con, trong một đêm mưa bão, hai cha con lướt thướt náu trong miếu. Rồi có lẽ bị trúng lạnh nên cha nó mắc bệnh chết. Từ đó, Đài nương náu trong miếu, ban ngày đi làm việc vặt cho người ta, rồi ăn uống luôn ở nhà chủ, tối về ngủ trong miếu.
Ông Tư Tề muốn ngồi ở sân phơi lúa đến khuya mới trở về. Ông ngu gà ngủ gật nghe muỗi kêu vo ve, trong đầu hiện ra vô số những cái đầu ngựa, những con ngựa ngẩng đầu lên trời hí lên những tiếng kinh người. Ông Tư Tề giật mình tỉnh lại, hoang mang nhìn tứ phía, nhưng giữa đồng không mông quạnh chẳng có ai ngoài một người: Đài. Bữa nay, có gì đó hơi khác. Khi ông Tư Tề tỉnh mộng, ông còn thấy một bóng đen lạ. Người đó chạy đến chỗ Đài ngồi, hai người chụm lại thì thầm với nhau gì đó. Đôi mắt già nua của ông Tư Tề trong đêm như bị một màn sương che phủ, đương nhiên ông không thể nhìn rõ. Ông không tiện đứng lên quan sát vị khách không mời mà đến kia và ngồi im chờ đợi. Ông đoán, đã đến lúc rồi đây.
Quả nhiên, sau khi người ấy biến vào bên con đường nhỏ. Đài tiến về phía ông Tư Tề.
— “Mới rồi là anh Bảy đến thúc giục cháu. Bây giờ ông kể “nguyên uỷ” cho cháu biết đi!”— Đài nói.
Ông Tư Tề há miệng nhưng không nói ra tiếng. Ông cảm thấy, những bí mật giấu tận đáy lòng trong tám mươi năm trước bị ông nghiền nát, bây giờ đang từ từ sống lại và đến lúc phải bộc lộ trước mặt thằng bé này. Ông nhìn hình bóng mông lung mơ hồ của Đài, trong lòng vừa khen ngợi, lại vừa có chút bực bội. Hình như Đài không để ý gì đến trò bịp bợm che mắt bịt tai người ta của ông, đi thẳng luôn vào vấn đề, mà nó cũng thật kiên nhẫn. Trước mặt Đài, ông Tư Tề trầm ngâm rồi trôi vào kí ức lúc nào không hay. Ông nhớ lại bao nhiêu năm qua, ông đã truyền bá những câu chuyện về Đào nguyên ở làng này như thế nào. Đến bây giờ, cả nam lẫn nữ, già lẫn trẻ ở đây đều hết lòng tin tưởng và thuộc nằm lòng cả một số chi tiết nhỏ về cái xã hội ấy ra sao. Vậy nói rõ “nguyên uỷ” là nói làm sao? Ông Tư Tề nghĩ, “nguyên uỷ” là chuyện đã qua không thể nhớ lại. Nó không từ trong lời kể của ông nội ông, cũng không phải do cha của ông kể lại. Nó hình thành từ sự từng trải của chính bản thân ông, vì không muốn nhớ lại nên trong cuộc đời đằng đẵng bao nhiêu chuyện, nó đã bị lãng quên rồi, bây giờ có muốn, cũng không thể nhớ nổi. Nhưng ông không cam tâm, ông làm dịu sự bất mãn trong lòng bằng cách ra sức truyền bá những câu chuyện vụn vặt, tào lao. Trước đây không lâu, ông còn nghe một đứa cháu của ông nói với người ta rằng “Nhất định là Đào nguyên vẫn tồn tại, ông thử nghĩ xem, dãy núi này lớn như vậy, trong đó giấu cái gì mà không được. Nếu những gì chúng ta không thấy, mà lại nói rằng nó không tồn tại thì có quá tự phụ không?”. Lúc đứa cháu nói câu này, ông Tư Tề đứng bên cạnh, bất giác đỏ mặt.
— “Cháu biết rồi, chuyện đó rất khó nói, ông nhất định là rất khó nói. Nhưng cháu quyết tâm làm một cuộc điều tra. Ông có cảm thấy bất ngờ không?” – Thằng bé nói với vẻ đắc ý.
— “Có gì mà bất ngờ! Tục ngữ có câu “Nhìn đứa trẻ ba tuổi có thể biết được cả cuộc đời của nó”. Từ ngày cháu đến làng này, ta đã chờ cháu quyết tâm rồi. Thời gian trôi nhanh quá, tiếng mưa bão ngày ấy bây giờ vẫn còn văng vẳng bên tai ta. Hai năm nay ta vẫn không rõ, cuối cùng là mình đang mộng hay đang tỉnh. Nếu cháu lại vẫn không hành động thì ta không đợi đến ngày đó đâu!”
Giả như có ai nghe được cuộc đối thoại này, chắc cũng không người nào hiểu họ đang lảm nhảm cái gì. Nhưng một già, một trẻ kia thì lại quá rõ nhau rồi. Tuy nhiên họ hiểu nhau thế nào thì thật khó nói, bởi đây là lần đầu tiên họ nói chuyện với nhau. Ông Tư Tề ngồi đó, lần đầu tiên ông thấy cuộc đời của mình thật sự sắp kết thúc. Một đôi chân trai trẻ đã chiếm chỗ và thay ông đi tiếp. Xem ra không có chuyện gì có thể dễ dàng mà quên được. Hôm qua, giữa đường đi đến nhà xí vẫn còn nghe những âm thanh đó rất lâu. Thoạt đầu, ông ngỡ là ảo giác của mình. Nhưng ngay đó, ông thấy thầy Viễn Phố , một ông già 70 tuổi, cũng dừng lại hướng sang phía nhà xí chăm chú lắng nghe. Thầy Viễn Phố cũng là người rất thích nói chuyện Đào nguyên. Ông Tư Tề chạy đến chỗ thầy Viễn Phố, hỏi ông ta có nghe thấy gì không. Ông này đang hoang mang, chìa ra bộ mặt cáu kỉnh kì quái và nói rằng, ông ta đang hít thở không khí trong lành từ núi thổi ra. Ông Tư Tề không hiểu ông ta muốn che giấu điều gì. Những người trong làng không làm cho ông cảm thấy được an ủi phần nào. Ông muốn quên chuyện đáng xấu hổ này đi nhưng ngày đêm không yên với nó. Đó cũng là nguyên nhân mà xế chiều mỗi ngày ông đều kể cho bọn trẻ nghe những câu chuyện xa xưa. Sau đó, khi đang ở trong nhà xí, ông vẫn nghe tiếng lào xào trên những cành tùng, không hiểu những âm thanh ấy có ý nghĩa gì.
Đêm ấy, khi Đài về miếu, anh Bảy đã đợi nó được một lúc. Trên đất có ba mẩu thuốc, cửa đã bị anh ta đạp hư vì nóng ruột chờ đợi.
— “Tốt nhất là không nên mang cái gì để dễ rút lui. Mày thử nghĩ, nếu cứ chần chừ, ông ta đi mất thì việc thành được sao? Bao nhiêu người đã kiên quyết làm tới nơi mà còn…”
Anh ta cứ lải nhải mãi. Đài đóng cửa đứng im bên trong cho anh ta đứng bên ngoài. Sau, anh Bảy đến cửa sổ ngó nghiêng một hồi, không thấy động tĩnh gì, anh ta mới lặng lẽ trở về.
Đài nằm trên cái giường được ghép bằng những mảnh ván cửa bị phá lúc nãy, khắp người như có lửa đốt bắt đầu hành hạ nó một cách đáng sợ. Có lẽ phải đi làm một việc, một việc khó nói và rất có thể nó phải mất mạng vì việc đó, việc này lại có liên quan đến ông Tư Tề. Cũng bởi ông Tư Tề thận trọng nên nó chưa có căn cứ hành động. Lúc cha sắp chết, rõ ràng có chuyện muốn phó thác cho Đài. Ông ôm cứng lấy nó, mắt trợn to, chắc là vì muốn nói nhưng nói không được. Ông chết đi sống lại mấy lần, cố sức lắc lắc hai vai Đài, nhưng vẫn không thốt nên lời. Cuối cùng, ông ú ớ mấy tiếng rồi bi phẫn nhắm mắt. Qua năm, Đài đã hiểu rõ về truyền thuyết Đào nguyên. Ít lâu sau, nó dần dần biết rõ vì sao cha phải mang nó từ quê hương xa xôi trèo đèo lội suối đến nơi đây. Lúc đó nó cảm thấy tương lai mình không có gì sáng sủa cho lắm, cho nên quyết đem hết tâm sức ra để xây dựng sự nghiệp ở nơi này. Từ đó nó chú ý học hỏi những điều xung quanh. Khi ấy, đôi mắt trợn to đỏ như máu của cha trân trối khẩn thiết nhìn bắt nó phải suy nghĩ đau cả đầu. Nhưng Đài nghĩ không ra vì chẳng còn manh mối. Đài nắm chặt tay, đập lên tấm ván mấy cái, bất giác hét to một tiếng như cha nó. Ngọn đèn dầu trên cửa sổ nhảy nhót mấy cái rồi tắt ngấm, ánh trăng chiếu lờ mờ. Có một cái bóng từ từ tiến đến trước cửa sổ, trông như một đứa bé. Đài có cảm giác cái bóng ấy đang nhìn mình.
— “Là anh Bảy hả? Anh về đi! Ở đây không có chuyện của anh”. – Đài cố ý nói như vậy cho đỡ sợ.
— “Ông là Tư Tề đây! Mau mở cửa cho ta đi!”
Ông Tư Tề phải nhón gót mới có thể ngồi lên giường. Trong bóng tối, Đài cảm thấy ông ta hơi dị dạng, trông như một con khỉ già, chỉ có cái mùi thuốc trên người ông ta là nhắc nhở cho nó sự tôn nghiêm. Ông vươn những ngón tay khẳng khiu, lạnh lẽo nắm chặt cổ tay Đài. Đài hắt hơi liền mấy cái, toàn thân ớn lạnh.
— “Cháu vẫn chưa hiểu”. – Đài nói.
— “Cháu sẽ hiểu ngay đây, chỉ cần cháu giúp ta một tay, ta sẽ nhớ lại ngay”. – Ông Tư Tề vặn vẹo thân thể, xương xẩu trong người lão kêu lốp rốp.
— “Cháu đặt chân ta lên giường cho ngay đi, ta không tự cử động được nữa rồi!”
Đài ngồi xổm, ôm hai cái cẳng như hai que tăm đặt lên giường. Nó lại có cảm giác, ông già này chẳng khác gì một con khỉ.
Ông Tư Tề dựa vào cái gối trấu của Đài, nặng nề thở hổn hển, duỗi thẳng hai chân. Rồi, ông vẫn nắm chặt lấy tay Đài, rồi lúc khoan lúc nhặt kể cho Đài nghe. Khắp nơi đều là âm thanh đó. Giữa sân phơi lúa, đầu ông quay tứ phía. Dù phía hang hốc, ao chuôm, những ngôi nhà trong làng, hay giữa đồng lúa, giờ đây đều nghe thấy thứ âm thanh đó. Cuối cùng, ông đã rõ, nhất quyết đêm nay nhớ lại chuyện đã quên, để có thể truyền đạt cho Đài. Khi đó, ông và nó, cả hai người đều sẽ nhẹ nhàng thoải mái. Còn bây giờ, ông phải nhờ Đài bóp chân cho ông, bởi chỉ như vậy, ông mới tin chắc rằng mình đang tỉnh.
Khi xoa bóp cho ông, Đài đụng đâu cũng thấy những xương là xương, hai cái chân của ông chẳng có tẹo thịt nào. Ông già run lên, luôn miệng kêu “Dễ chịu quá! Dễ chịu quá!”
— “Chuyện cái đu bay là do ông bịa ra phải không? Nếu ông là đứa bé đã ngã ấy, thì tại sao trên người ông không có thương tích gì? Mà ông cũng chẳng bay lên trời, ngày nào cũng có mặt trong làng”.
— “À, à, à! Ta đang nhớ đây! Ta nhớ… Ta nhớ… Cháu không nghi ngờ gì cái thế giới Đào nguyên chứ?”
— “Sao cơ !? Chẳng phải là cha cháu vì nó mà mang cháu đến nơi này hay sao? Cháu còn nhớ một đêm ở trên đường, giữa đồng hoang, có ba con sói đuổi sau lưng hai cha con cháu. Cha con cháu đều nghĩ là chết chắc rồi… Ơ này, ông không thích nghe chuyện này à?”
Dưới ánh trăng, Đài thấy bộ râu của ông Tư Tề trắng như tuyết. Ông đặt một tay lên bộ râu, mắt từ từ nhắm lại. Đài đang phấn khởi, ráng đấm bóp cho ông, từng động tác đều rất nhịp nhàng. Đột nhiên, chân ông cứng đờ ra và lạnh dần. Đài ngừng tay, hai giọt nước mắt đọng trên khoé mắt.
Việc ông Tư Tiết chết trong buồng của Đài khiến người làng xôn xao bàn tán. Ngày đưa tang, Đài không đi, nó sang làng bên làm thuê. Ai cũng giận dữ và cho Đài là đứa vô lương tâm, hạng lang thang, thật uổng công ông Tư Tề đã tin tưởng nó.
Từ đó, trong làng, Đài lủi thủi một thân một mình, chẳng ai thèm để ý đến nó. Bọn trẻ con thấy bóng nó là chạy xa. Chúng còn nói, trên người Đài có “quỉ khí”, nhiễm vào người là thoát không nổi. Đây dĩ nhiên là do người lớn nói như vậy với chúng.
Sau một thời gian, làng lại đưa ra một người khác có sự hiểu biết nhất về Đào nguyên. Đây là một bà già 75 tuổi, có thâm niên sống cùng một chỗ với heo. Bà được gọi là bà Mao. Và mỗi xế chiều, bà lại đến ngồi ở sân phơi, chỗ của ông Tư Tề trước kia, bọn trẻ lại chạy đến vây quanh để nghe bà kể chuyện. Bọn chúng không thấy được sự thay đổi diễn ra trong làng.
— “Đúng là Đào nguyên nằm trong dãy núi lớn này. Hãy nhìn ngọn núi kia xem, nó thật là to lớn, to đến nỗi không ai có thể nói là to bằng nào”.— Bà Mao gõ tẩu thuốc, nói.— “Nhưng điều quan trọng nhất ở đây là không phải là cái đu bay, mà là một cái cối xay bằng đá”.
— “Một cái cối xay bằng đá à!” Bọn trẻ, đứa nào đứa nấy tròn xoe mắt.
— “Cũng có hai đứa bé cả ngày chạy quanh cái cối đá ấy, ngắm nghía nó. Về sau mất tích. Cái cối đá thì to như thế, người ta nghi rằng bọn chúng đã bị nghiền vụn rồi lẫn vào trong lương thực và bị người ta nuốt cả vào bụng rồi”.
Bọn trẻ con lặng thinh. Đám khói mà bà Mao nhả ra trở thành một mê hồn trận.
Đài đứng xa cười nhạt. Nó nghĩ bụng, bà Mao và ông Tư Tề đúng là mỗi người một vẻ. Những lời mê hoặc giả trá ấy khiến bọn trẻ bướng bỉnh không dám đụng đến một sợi lông chân bà. Đài ngạc nhiên là, tại sao trước đây mình không phát hiện được rằng, trong làng này lại có một bà già ghê gớm như vậy. Sau cái chết của ông Tư Tề, Đài thấy con đường phía trước của mình ngày càng mờ mịt. Nó thường thức thâu đêm, ngồi trên giường trầm tư mặc tưởng rất lâu. Nó nghĩ, sao 80 năm trước, ông Tư Tề không biến mất mà vẫn ở trong làng này. Đầu đuôi sự việc, cuối cùng là như thế nào đây? Nó càng nghĩ càng thấy sự di truyền thật đáng sợ, nhất là loại di truyền như kiểu giữa ông Tư Tề và nó. Bây giờ, Đài chăm chú nhìn bà Mao, cái bà già 75 tuổi ấy, trong lòng bất giác hơi run sợ, nghĩ, chẳng lẽ bà ta nhìn thấy tận mắt sao?
Bà Mao đang nhìn Đài. Bà ngồi yên chờ Đài đến. Đài chần chừ chậm chạp tiến lại gần. Lần đầu tiên nó thấy một bà già có mái tóc trắng rậm như vậy. Nộ khí khiến cho mặt bà sưng lên, trông như sư tử.
— “Thằng bé kia! Oán hận không hay ho gì đâu. Hãy cúi đầu nghe theo số mệnh đi!”— Bà vừa nói, vừa phì phèo với khói thuốc.
— “Nhưng phải cho cháu biết chút manh mối chứ, sao lại cháu tối rối như trong bụng trống thế này… Hay là cha cháu và mấy người có hẹn với nhau từ trước?”
— “Mi nhớ đến đâu rồi?”.— Bà nghiêm mặt, gõ gõ tẩu thuốc. — “Chớ có nghĩ lung tung. Hạng như cha mi, ai hẹn hò gì? Nói chơi, mi không thích, chứ ông ta như con chó bị đuổi cùng đường mới lao vào làng này”.
Nghe bà già nói, trước mắt Đài hiện ra hình dáng tàn tạ của cha, muốn xua đi cũng không được.
Đài cúi đầu trở về. Nó nghĩ, mùa thu đã đến, đêm bắt đầu trở nên mát mẻ. Nhưng bà Mao ngày nào cũng vẫn ngồi giữa sân phơi lúa đến thâu đêm. Bà ta đợi cái gì xuất hiện thế nhỉ? Buổi sáng, nó đi qua làng bên, ngang qua sân phơi, thấy bà già ngủ gà ngủ gật trên ghế, cái tẩu thuốc lăn dưới đất. Đài lạnh suốt xương sống khi nghĩ đến cái loại tín niệm ở làng này, sao nó lại thâm căn cố đế đến thế. Đến chỗ quẹo, vào miếu, nó nghe anh Bảy kêu réo phía sau liên hồi. Nhưng nó không quay lại. Nó biết anh Bảy thúc giục nó, nhưng nó vẫn chưa quyết tâm. Bữa trước, nó đã vào núi xem một lượt, lúc đó anh Bảy chỉ một cửa hang sâu, bảo nó chui vào. Nó nghĩ ngợi mãi vẫn chưa chịu chui xuống khiến anh ta tức giận chửi: “Đồ hèn”. Vào nhà, chợt Đài loé lên ý nghĩ, sao không ở lại? Ở lại làng này, không phải là có thể hiểu hơn chuyện mà mình vẫn hoài nghi hay sao? Khắp làng, ai cũng bàn quanh mỗi một chuyện. Biết đào đâu ra nơi thứ hai như vậy? Nó mở cửa sổ, nghe tiếng anh Bảy đang réo gọi ngoài đồng. Âm thanh đó, lúc cao lúc thấp, thật không có gì dai dẳng và gàn bướng hơn. Khi ấy, nó đã hiểu di chúc của cha.
Đêm đó, trăng sáng như một mâm bạc lớn. Thoạt đầu là tiếng gõ cửa của bà Mao, rồi trên cửa sổ xuất hiện mấy cái bóng lắc lư. Đài vội chạy ra khỏi buồng, thấy ngoài miếu, trong bóng đêm, cả làng đều kéo đến, năm ba người một nhóm. Họ đang bàn tán oang oang, thấy nó ra, ai nấy im bặt. Bên cạnh miếu, tiếng kêu của anh Bảy nghe rõ mồn một.
Đài chần chừ một lát, cuối cùng theo anh Bảy rẽ vào con đường nhỏ. Tiếng bàn tán dậy lên phía sau, cứ như đang đuổi theo. Nhưng, nó thử quay đầu lại thì thấy họ vẫn đứng im, bất động.
Hai chân Đài bắt đầu run lên, răng lợi khua lách cách. Anh Bảy chạy phía trước, được một quãng lại dừng lại chờ nó và an ủi nó rằng, Đào nguyên không phải là nơi đưa người ta vào tử lộ, rằng nó sẽ đường hoàng quay về nếu biết thuận theo mọi người. Cũng như tình trạng của ông Tư Tề, sự việc xảy ra đêm đó hoàn toàn biến mất trong kí ức của Đài. Anh Bảy vào núi không quay lại, nghe nói đã đi mất rồi. Năm tháng trôi qua, Đài cũng trở thành một ông già. Đài không thích kể chuyện, ông chỉ ngồi thừ ra giữa sân phơi, đem chuyện Đào nguyên giấu vào đáy lòng. Bọn trẻ con chơi đùa bên cạnh sân phơi, không đứa nào đến gần ông. Ông nhẹ vỗ đầu gối, trong lòng tự hiểu mình cũng đã trở thành kẻ quyền uy của câu chuyện ấy.
 
 
-----------[/align]Nguồn: http://book.sina.com.cn/nzt/1089868904_canxuezixuanji/index.shtml [/align] [/align]
Đăng nhập để trả lời
0