Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

MẠO MUỘI THẮC MẮC VỀ VĂN BẢN MỘT BÀI THƠ

0 trả lời, 35 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-02-16 06:28:12sweet>
Mạo muội thắc mắc
về văn bản một bài thơ



     
      Rất mạo muội vì đụng đến một chuyện đã định hình, đã quen thuộc, đã được mọi người, mọi "nhà" (nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo dạy văn, nhà thơ, ...) chấp nhận.
    Ấy là bài Tống biệt hành của Thâm Tâm. Theo văn bản lâu nay, bài thơ có 22 câu. Có sách in liền không chia khổ hoặc chỉ để riêng bốn câu cuối thành một khổ như cuốn Thơ tình tiền chiến, NXB Đồng Nai, 1994. Có sách chia làm hai khổ: khổ đầu 10 câu, khổ sau 12 câu, như Thơ Việt Nam 1930 - 1945, NXB Giáo dục, 1992. Có sách để 5 khổ, khổ đầu sáu câu, 4 khổ còn lại đều bốn câu, như Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân, NXB Văn Học (in lại), 1988; Văn lớp 11, NXB Giáo dục, 1999. Có sách cũng chia 5 khổ nhưng cho sáu câu vào khổ thứ hai, như Giảng văn chọn lọc Văn học Việt Nam (Trần Đình Sử tuyện chọn), NXB Hà Nội, 1998 trang 228. Có sách cho mười câu đầu vào một khổ, 3 khổ còn lại bốn câu mỗi khổ, như Văn lớp 11, NXB Giáo dục, 1991; Thơ với lời bình của Vũ Quần Phương, in lần thứ hai, NXB Giáo dục, 1994.
    In liền không phân khổ thì không nên. Các trường hợp để một khổ sáu câu (các khổ còn lại, bốn câu), có gì đó hơi gợn:
    - Về mặt kết cấu bài thơ, tự nhiên có một khổ sáu câu thì hơi lạ. Chẳng lẽ là một "thủ pháp"? để làm gì? Nếu học sinh hay người đọc thắc mắc e cũng khó lí giải cho thật thông.
    - Về mặt vần, các nhóm bốn câu: bốn câu đầu, câu 7 đến câu 10, câu 11 đến câu 14, câu 15 đến câu 18, câu 19 đến câu 22 đều rất chặt chẽ. Chữ "dưng" ở câu 6 cho hợp vần với bốn câu đầu hay với bốn câu tiếp sau đều gượng ép. 
    - Về cấu tứ, bốn câu đầu nói về tâm trạng người tiễn và tâm trạng người ra đi trong chiều tiễn biệt; bốn câu 7 - 10 nói lên quyết chí của "li khách". Câu thứ 5, Đưa người, ta chỉ đưa người ấy, có vẻ gần với bốn câu đầu. Câu thứ 6, Một giã gia đình, một dửng dưng..., có vẻ gần với bốn câu tiếp theo. Tuy nhiên, nhìn chung cả hai câu không thấy gắn bó gì mấy với mạch "tâm trạng" của bốn câu trên. Có người nói cần lưu ý: ở câu đầu và ở câu năm đều "Đưa người, ta...". Nếu vậy, với các câu 11 và 15 cùng "Ta biết người buồn..." thì thế nào? Sao không đưa vào cùng một khổ? Nếu vì "dửng dưng" mà gắn vào mạch "chí nhớn" ở bốn câu sau thì có lẽ cũng hơi gượng. Có người giải thích: "Đoạn thơ như nói lên niềm thất vọng của người tiễn: Không, ta không tiễn con người mắt đầy hoàng hôn này. "Ta chỉ đưa người ấy..." phải là con người kiên quyết, dửng dưng,..., dám dấn thân "con đường nhỏ" chí nhớn chưa thành thì không nói chuyện trở lại,...". Nhưng quyết chí "không bao giờ nói trở lại và "mẹ già cũng đừng mong" không nhất thiết phải "dửng dưng". Chắc hẳn người tiễn chẳng "lập trường", chẳng "lên gân" quá thế; chả nhẽ "biết người buồn" chiều hôm trước và sáng hôm nay mà còn "hắc" vậy ư, dẫu là trong ý nghĩ!
    Trường hợp để khổ đầu mười câu cùng 3 khổ bốn câu thì có vẻ hợp lí ở chỗ: dồn "tâm trạng" và "quyết chí của người đi" vào một khổ, dành ba khổ còn lại cho cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ liên quan đến các người thân của li khách. Song, về mặt vần thì như đã nói ở trên; về mặt ý thì mười câu đầu ấy có chỗ không liền mạch, xét theo cách phân khổ toàn bài. Phân khổ như vậy, không được cân xứng về ý cũng như về kết cấu.
    Trường hợp phân thành hai khổ 10 câu và 12 câu xem ra cũng "dễ coi". Tuy nhiên, vẫn vướng ở chỗ: khổ đầu có những chỗ chưa ổn lắm như đ• nói; khổ sau thì tám câu trên chỉ nói tới mối ràng rịt với "chị" và "em", không có bóng dáng "mẹ" (không thể kể là "mẹ" đã được nói tới ở cuối khổ trên), "mẹ" chỉ góp mặt vào "thà coi" trong các câu cuối bài thơ. Trường hợp này, giá tách bốn câu cuối ra một khổ riêng có khi lại hay hơn.
    Hơi văn hai câu 5 và 6 có chút hơi hướng "kể". Cảm thấy hai câu này có vẻ "buông". Cái sự nhấn mạnh "ta chỉ đưa người ấy" có vẻ như không để làm gì và cái tâm trạng "dửng dưng" có vẻ mâu thuẫn với tâm trạng "người buồn" ở dưới có thể liên quan đến hai câu khuyết chăng? Dấu chấm lửng cuối câu 6 phải chăng có một ý nghĩa nào đó. Có thể chăng các câu 5, 6 thuộc một khổ bốn câu mà hai câu sau bị "khuyết"? Lí do thì đã bị "thất lạc", tỉ như bị kiểm duyệt của chế độ thực dân. Một ghi chú trong "Thơ với lời bình" (trang 78) có viết rằng bài thơ còn bốn câu nữa nhưng các tác giả Thi nhân Việt Nam đ• cắt đi (cho bài thơ toàn bích). Không biết với trường hợp nêu ở trên thì sao? Có thể có hai câu nữa bị gác lại. Hoặc cũng có thể hai câu đã bị "rơi" từ trước... Sau năm 1945, trong một thời gian dài bài thơ không được nói đến. Sau này, khi bài thơ được "lên ngôi" thì tác giả mất đã lâu và những người có thể am hiểu về văn bản trước đây chắc cũng không còn. Văn bản bài thơ coi như không có vấn đề gì.
    Dù thế nào, theo thiển ý, bài Tống biệt hành của Thâm Tâm cũng nên viết thành sáu khổ với 5 khổ bốn câu, riêng khổ thứ hai chỉ hai câu. Và có thể nêu tồn nghi, nếu những ý kiến trên kia có chỗ khả thủ.
        
           Tống biệt hành
  Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Nắng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? 

 
  Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một gĩa gia đình, một dửng dưng...

 - Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

  Ta biết người buồn chiều hôm trước,
Bao giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cùng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

  Ta biết người buồn sáng hôm nay;
Trời chưa mùa thu trong lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...

  Người đi? ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Viết thêm:
Nhân đây, xin thêm một lần mạo muội: lạm bàn về cách hiểu ba câu cuối của bài thơ.
    Trong cuốn Văn học và học văn của Hoàng Ngọc Hiến, NXB Văn học, 1997, có những lời bình như sau (trang 210):
"Khổ kết thúc bài thơ: 
    Người đi? ừ nhỉ, người đi thực!
  Mẹ thà coi như chiếc lá bay
  Chị thà coi như là hạt bụi
  Em thà coi như hơi rượu say.
Về ba câu cuối có hai cách hiểu khác nhau: (người ra đi) thà coi (mẹ) như chiếc lá bay hay (bà) mẹ thà coi (người con ra đi) như chiếc lá bay, và vân vân... ở câu I người tiễn dương thầm nghĩ về người đi thì ba câu tiếp theo hiểu như là người tiễn "nhập cảm" vào người đi để ném ra ba chữ "thà" sẽ tự nhiên hơn hiểu như là người tiễn lần lượt "nhập cảm" vào "mẹ", "chị" và "em" và lần lượt buông ra ba chữ "thà". Với cách hiểu thứ nhất, có chút gì đó "nhẫn tâm", "khinh bạc" ở người ra đi, điều này ở một "người đàn ông" xem ra có thể chấp nhận được. Với cách hiểu thứ hai, "nhẫn tâm" và "khinh bạc" được gán cho "mẹ già", "chị gái", "em thơ", điều này khó chấp nhận về mặt đạo đức cũng như về mặt mĩ học".
   
      Trên đây là những cảm nhận sắc sảo và tinh tế. Tuy nhiên, còn có thể có những cách hiểu khác:
    - (Người tiễn đặt mình vào tâm trạng) người đi tự nhủ " (Thôi thì) mẹ thà coi (ta) như chiếc lá bay", và vân vân... để "yên tâm" mà rứt áo ra đi, để đỡ ân hận. Hiểu như thế thì có lẽ đỡ "nhẫn tâm", đỡ "khinh bạc chăng?
    - Người tiễn, cám cảnh người đi và các người thân của y, tự nhủ (Thôi thì bà) mẹ thà coi (con mình) như chiếc lá bay", và vân vân ... (không phải "nhập cảm" mà "đồng cảm" nhưng không biết an ủi như thế nào). Cách hiểu vậy, có thể là "nhẫn tâm" một chút, nhưng không "khinh bạc".  
 
Hải Phòng, 7/1999

(Văn nghệ TPHCM 26/8/1999)
 
Đăng nhập để trả lời
0