Việt Nam giàu đẹp
Việt Nam, bắc giáp Trung Quốc, tây giáp Lào và Cam-pu-chia, đông và nam trông ra biển cả như một bao lơn trên Thái Bình Dương. Nước ta ở Đông Nam á, là một đầu mối giao thông quan trọng từ ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương.
Chạy dài từ Hà Giang đến Cà Mau, hình chữ S, cùng với các đảo và quần đảo, tạo thành một dải đất nước Việt Nam giàu đẹp.
Việt Nam là một trong những nơi loài người xuất hiện sớm nhất. Trên đất nước ta, mấy nghìn năm trước đây, đã có người nguyên thủy sinh sống. Nước ta gồm 54 dân tộc anh em chung sống hòa hợp. Mỗi dân tộc có những sắc thái riêng về văn hóa, vật chất và tinh thần, góp phần làm cho Tổ quốc tươi đẹp trăm màu, nghìn vẻ. Từ thời vua Hùng dựng nước đến nay, dân tộc Việt Nam đã đoàn kết chiến đấu vô
cùng anh dũng chống giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ đất nước.
Nước ta ở vùng nhiệt đới gió mùa, có ánh nắng chan hòa, có lượng mưa dồi dào. Một số nơi vùng núi cao khí hậu có tính chất ôn đới.
Núi non của ta hùng vĩ. Rừng của ta trải ra trùng trùng điệp điệp. Các đỉnh núi cao là Phăng-xi-păng 3143 mét, Pu Ta Leng 3096 mét, Pu Luông 2985 mét, Lang Cung 2913 mét, Tây Côn Lĩnh 2431 mét, Pu Xai Lai Leng 2711 mét, Ngọc Lĩnh 2598 mét, Chử Yang Sin 2405 mét...
Rừng và đất rừng chiếm hàng chục triệu héc-ta, rất giàu lâm sản. Rừng nhiệt đới Việt Nam có tới mấy nghìn loài thực vật là một kho tài nguyên quý báu. Rừng của ta cũng phong phú với hàng nghìn loài chim, hàng trăm loài thú.
Trong những năm gần đây, rừng nước ta bị tàn phá nghiêm trọng. Tuy vậy vẫn còn những khu thiên nhiên được bảo tồn như ở Cúc Phương, Sa Thầy, Cát Tiên, Phong Nha... Tại những nơi ấy cho đến nay các nhà khoa học thế giới vẫn còn phát hiện được những loài thú mới gây sửng sốt cho giới động vật học, như bò rừng, sao la, gà lôi lam...
Sự phong phú về các chủng loại này lại càng đa dạng hơn do nước ta còn giữ lại được những khu rừng già nhiệt đới và cận nhiệt đới. Đấy chính là nơi còn hội tụ những hệ động vật của nhiều nước và nhiều khu vực lân cận. Trong khi ở nhiều nước, do sức ép của quá trình công nghiệp hóa đã khiến cho nhiều loài động vật bị đe dọa dữ dội hoặc bị tuyệt chủng, thì tại các vùng đất bao la của rừng già Việt Nam vẫn còn nhiều loài động vật đang sống thành bầy đàn.
Một điểm đặc biệt là hệ động vật cũng như hệ thực vật vốn rất cổ xưa ở Đông Nam á. Trong khi ở Châu Œu, bắc Châu Phi và cả một số phần lãnh thổ khác của Châu á, tuổi phát triển liên tục không bị gián đoạn do tác động của thời kỳ băng hà của các loài động vật chỉ đạt khoảng vài vạn năm, thì tuổi các loài động vật ở Việt Nam ta phải nói tới hàng triệu năm. Chính cái khoảng thời gian được phát triển liên tục hàng triệu năm này đã tạo ra sự phong phú của thiên nhiên nước ta hiện nay.
Mạng lưới sông ngòi của ta chằng chịt với hàng nghìn con sông lớn nhỏ ở khắp đất nước
là nguồn nước, thủy lực, thủy sản dồi dào, giao thông đường thủy thuận lợi.
Miền Bắc có sông Hồng dài 500 ki-lô-mét với hai phụ lưu lớn là sông Đà 543 ki-lô-mét và sông Lô 277 ki-lô-mét. Sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam dài hơn 600 ki-lô-mét hợp thành sông Thái Bình Miền Trung có sông Mã dài 426 ki-lô-mét, sông Cả dài 379 ki-lô-mét Miền Nam có sông Đồng Nai dài 500 ki-lô-mét, cùng với các sông La Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ tạo thành một mạng lưới sông ngòi chằng chịt.
Sông Mê Công phần chảy qua nước ta dài 220 ki-lô-mét, chia làm hai nhánh: sông Tiền và sông Hậu và đổ ra biển Đông theo chín dòng nên gọi là sông Cửu Long.
Đồng ruộng bao la của nước ta thích hợp với các loài cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp. Những đồng bằng châu thổ mầu mỡ của ta rộng hàng trăm nghìn héc-ta ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam, được các dòng sông bồi đắp phù sa, hàng năm liên tục mở rộng, là những cánh đồng trù phú trồng lúa và cây hoa mầu. Những cao nguyên thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nổi tiếng là Tây Nguyên cao hàng nghìn mét, với những dải đất đỏ mênh mông, và những cánh đồng cỏ bát ngát.
Hơn 3260 ki-lô-mét bờ biển nước ta gồm những cảnh đẹp nổi tiếng thế giới. Những bãi tắm đẹp, hàng năm đón khách du lịch bốn phương đến, và nhiều cảng, vũng thuận lợi cho tàu cặp bến: Trà Cổ, Bái Tử Long, Hạ Long, Sa Huỳnh, ạ Loan, Nha Trang, Cam Ranh, Vũng Tàu, Ba Hòn, Hà Tiên...
Biển nước ta có hải sản dồi dào. œớc tính lòng biển ta có khoảng 2000 loài cá. Trong đó có khoảng 100 loài cá ngon và nhiều loài làm thuốc. Thực vật biển có hơn 600 loài tảo. Trong đó nhiều loài là đặc sản.
Đất nước ta giàu khoáng sản: dầu mỏ và khí đốt, than, sắt, đất hiếm, thiếc, chì, kẽm, đồng, crôm, thủy ngân, ăng-ti-moan, bô-sít, ni-ken, a-mi-ăng, vàng, vôn-phơ-ram, a-pa-tít. Trong đó có những khoáng sản có trữ lượng lớn như: dầu khí, bô-xít, đất hiếm...
Sa Pa mờ sương
Tây Bắc nước ta có Sa Pa xanh rờn quanh năm, mây núi hữu tình và thơ mộng. Có ba đường dẫn đến thung lũng thiên nhiên có cảnh trí thần tiên này là: từ thị xã Lào Cai vào, từ Lai Châu xuống và từ Bình Lư (Sơn La) sang.
Khí hậu Sa Pa mát mẻ, quanh năm phải đắp chăn. Giữa những ngày hè Hà Nội và các nơi khác 30 - 36oC, thì Sa Pa chỉ 15 - 22oC là cùng. Ban đêm còn trở lạnh nữa. Mùa đông, nhiều đêm ở Sa Pa nước đóng băng, và tuyết rơi như hoa thàn mát rụng.
Sa Pa không giấu vẻ hồng hoang, cổ sơ của mình. Chính cái thung lũng thiên nhiên đã
ưu ái dành cho ta này, chính cái vẻ hoang sơ kia, mới có thể sinh ra rừng già, toàn những loại cây thông tre, dùng làm cột buồm, nghiến cho gỗ rắn và bền... Sa Pa có những cánh rừng bạt ngàn pơ mu, có cây cao 15 - 20 mét, gốc tới hai người ôm mới xuể. Xẻ ra, gỗ pơ mu trắng nuột nà, có vân như mây, có hương thơm ngát, không bao giờ bị mọt đục hay mối xông, nếu làm tà vẹt hay cột nhà, chôn dưới đất hàng trăm năm không mục nát. Vùng núi non giàu đẹp này còn là một kho thuốc phong phú, gần như vô tận: hoàng liên, hà thủ ô, xuyên khung, tục đoạn, thảo quả... Nơi đây cũng là xứ sở của nhiều thứ hoa lạ. Hồng bạch, tường vi thắm hồng, bất tử trắng, vàng, đỏ... đẹp không thua gì hoa ở Đà Lạt. Còn phong lan thì có đến vài ba trăm loài khoe sắc, đua hương, đầy quyến rũ. Bên sườn Phăng-xi-păng, những cây đại thụ khoác áo phong lan từ gốc tới ngọn.
Những con đường mòn quanh co uốn lượn, những hàng cây sa mu, pơ mu, nghiến,... suốt năm tháng rì rào cùng gió lạnh, dòng Thác Bạc chênh vênh và nõn nà như tuôn chảy từ trời xanh xuống. Chiếc Cầu Mây bắc qua hai bờ suối quanh năm bồng bềnh mây trắng, lúc nào cũng như thực như mơ. Và rừng núi đá với những cái tên mộc mạc mà gần gũi thân thương: Hòn Bố, Hòn Mẹ, Hòn Cối Xay, Hòn Yên Ngựa... không biết có tự bao đời, mà trên đó người xưa đã chạm khắc nào hoa văn, hình thú và những dòng chữ rất đẹp. Rồi động Thủy Cung, cổng Trời, hang Gió, bàn cờ Tiên...
Ngọn Phăng-xi-păng 3143 mét, chỉ ngày đẹp trời mới thấy, còn thì chìm trong mây trắng. Những đêm có tuyết, dãy núi sáng lên ánh bạc. Ban ngày tuyết tan tạo thành vô vàn con suối nhỏ, róc rách như bản nhạc rừng êm ả.
Sa Pa - một quần thể du lịch đầy hấp dẫn. Xưa nay biết bao người mơ ước được đặt chân tới chốn này.
Những viên ngọc châu trên biển biếc
Tên vịnh Hạ Long ra đời từ một truyền thuyết đẹp, được bà con chài lưới trong vùng kể cho con cháu nghe mỗi đêm trăng sáng lênh đênh trên sóng nước. Thuở ấy lâu rồi, giặc ngoại xâm với những đoàn thuyền chiến ồ ạt tiến vào vùng cửa biển này. Thế trận bên ta đang muôn ngàn lần nguy ngập, trời bỗng nổi mây vần vụ. Một đàn mẹ con rồng vàng xuất hiện, mang theo vô số ngọc châu lóng lánh thả xuống biển, biến thành muôn ngàn đảo lớn, đảo nhỏ như những bức trường thành ngăn cản các chiến thuyền giặc. Giặc tan, rồng mẹ ở lại luôn vùng biển biếc hữu tình này. Vậy là vịnh có tên Hạ Long từ đó. Còn chỗ rồng con xuống nước và chầu về mẹ, được gọi là Bái Tử Long, chỗ phía dưới cùng đàn rồng xuống là Bạch Long Vĩ (nay là bán đảo Trà Cổ).
Những hòn đảo nhấp nhô trên sóng biển, mang trong mình nhũ đá nghìn năm, và tiếng thánh thót của những giọt nước tạo nên âm thanh như những bài ca rì rầm kể lại chuyện xưa của những viên ngọc châu do rồng thả xuống.
Hạ Long kỳ thú nằm ở phía biển Đông Bắc nước ta, là một cảnh đẹp quyến rũ. Trên khắp một vùng biển rộng là những núi đá lớn nhỏ nhấp nhô đủ mọi hình dáng. Tưởng chừng như đây là một bức tranh của thiên nhiên được vẽ bằng một thứ bút son mầu nhiệm. Tài liệu năm 1927 của ngành du lịch Pháp nhận xét: "Những cảnh đẹp thiên nhiên của Đông Dương gợi lên khá nhiều tính tò mò của du khách. Vịnh Hạ Long nằm trong vịnh Bắc Bộ cho ta một cảnh đẹp không thể nào quên, chắc chắn là đẹp nhất thế giới". Đúng thế, do sự tạo lập đặc biệt của thiên nhiên nên Hạ Long vừa thơ mộng vừa hùng vĩ. Một cảnh đẹp khó nơi nào sánh được.
Các đảo giữa vịnh Hạ Long tuy là một vùng núi đá trải rộng trên mặt biển, nhưng thiên nhiên xếp đặt thật khéo: có cụm núi chụm nhau; có chỗ giăng dài ra như bức trường thành; lại có những hòn nằm riêng lẻ. Cách tạo dáng của những hòn núi cũng nhiều dạng; có hòn trông như một cánh buồm no gió của một con thuyền ra khơi; có hòn với dáng hình ông bụt đang ngồi suy tư; có hòn mang hình thù như một tháp canh. Đảo đá mỗi hòn một vẻ với những hình dáng kỳ diệu.
Hạ Long đẹp cả bốn mùa. Vào tiết xuân, những hòn đảo xa xôi như bị chìm trong mây trắng. Mùa hạ, những cánh buồm nâu, buồm trắng trôi nổi, và biết bao nhành san hô ngũ sắc, vùng rong biển làm đổi màu nước ùa đến trong tưởng tượng của du khách.
Có nhiều đường dẫn đến thăm vịnh Hạ Long. Đi tàu thủy từ Hải Phòng ra Móng Cái thì chỉ sau chừng một giờ, sẽ hiện ra vịnh Hạ Long tráng lệ. Từ Bãi Cháy vượt qua vịnh Hòn Gai là đến dãy đảo phía nam rồi từ hang Đầu Gỗ đến hòn Nót. Hoặc là đi qua vùng phía đông nam tới hòn Cửu Giữa, đến Vũng Tàu Đắm nằm trên lạch Chim Thăng Ca. Phía đông Vũng Tàu Đắm có thể tới hòn Rồng, hang Trống, nhà Trò hay hòn Con Gái. Đi giữa cái bao la của trời cao biển rộng nơi này, du khách được sống những giờ phút lâng lâng, xao xuyến trước sắc nước mây trời của Hạ Long. Có những lúc đang giữa mênh mông mặt nước,
bỗng hiện ra sừng sững trước mặt khách một vách núi như bức tường chắn. Có lúc khách đang hồi hộp như thể đường đi bị tắc nghẽn thì lại hiện ra một vùng biển mới với những hòn núi lạ. Cũng có lúc con thuyền phải lách qua một lạch nước hẹp như một dòng suối giữa hai vách núi để rồi rẽ trái hay rẽ phải vào một vùng nước non kỳ vĩ. Sự khép mở lạ lùng này của thiên nhiên Hạ Long tạo cho người đi trên vịnh "mỗi bước" lại phát hiện những điều mới lạ, mà luôn được khám phá như thể đọc một bài thơ tuyệt tác. Có lần vua Lê Thánh Tông qua đây, đã tức cảnh vịnh những vần thơ:
Hải thượng vạn phong quần ngọc lập, Tinh la kỳ bố thúy tranh vanh...
Tạm dịch:
Trên biển chen nhau, ngọc vạn hòn Như quân cờ biếc xếp chênh vênh.
Thiên nhiên đã miệt mài bao đời để tạo nên những núi - đảo lớn, nhỏ quyến rũ sức tưởng tượng của du khách: cái thì mang dáng dấp con người, cái khác lại giống con chim đang sải cánh, hay con trâu, con ngựa... Trong số các hang động và hòn núi đẹp của Hạ Long phải nói tới hang Đầu Gỗ, mà sách vở xưa ghi là Độc Canh. Hang này cách bờ Bãi Cháy 12 ki-lô-mét, đã có một thời người Pháp gọi là hang Kỳ Lạ. Mà kỳ lạ thật. Thoạt tiên mới bước vào cửa động, ta có cảm tưởng như lạc vào một cung điện nguy nga tráng lệ. Các nhũ đá chỗ thì như hàng cột chạm rồng, chỗ như bầy voi phục; chỗ này là bàn thờ với đủ lư hương, cây đèn nến; chỗ kia là phòng khách có bàn ghế hẳn hoi... Phía trong cùng có tầng đá xếp ngang, leo lên đó mà nhìn thì cứ như đứng trên bao lơn của một hội trường. Lại thêm ánh sáng mặt trời chiếu vào hang, làm cho cái gì cũng biến thành năm sắc như ráng mây mà ta thường thấy ở chân trời lúc ban mai. Có lẽ do chính điều này mà hang thường được người xưa gọi là "Ngũ Thể Tường Vân động", tức là Năm Sắc Mây Lành.
Hạ Long không những chỉ đẹp mà còn là một vùng biển giàu có của nước ta. Đó là vùng than chạy từ Kế Bào đến Cẩm Phả dài chừng 200 ki-lô-mét. Trên các hòn núi có nhiều sơn cầm, dã thú như chim cu xanh, cu đất, gà ri, kỳ đà, chồn, sơn dương... Hải sản của Hạ Long có nhiều loại quý: bào ngư, trai ngọc, hải sâm, đồi mồi... Trên các hòn núi, có vô số loài cây thuốc đã và đang được khai thác. Người Quảng Ninh nói rằng, ai chưa biết hát bao giờ, đến Hạ Long sẽ biết hát; và ai chưa biết làm thơ, đến Hạ Long sẽ làm được thơ. Hạ Long kỳ diệu như thế đó.
Vùng núi hoa mẫu đơn
Non nước Tiên Du (Bắc Ninh) hôm nay vẫn còn đó, nhưng hình sông thế núi từ trăm năm cũ, đã được Đại Nam nhất thống chí ngợi ca: "Đoái trông có đất tốt Tiên Du, núi đẹp Phật Tích ứng thế, ở phương nam núi Phượng Lĩnh bọc vào, sông Ngưu Giang án đó, ngưng lại vuông tròn, nước trong leo lẻo huyền hư, núi cao vòi vọi sáng lóa. Bên trái mạch nước vòng quanh, bên phải núi trắng chầu phục".
Núi Phật Tích không chỉ là nơi giàu lịch sử về đạo Phật, mà còn là thắng cảnh du lịch. Cùng với đất tranh làng Hồ, đất của năm chục làng quan họ vớ những lời ca thương nhớ: "Người về em những khóc thầm - Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa". Cảnh sắc núi Phật Tích làm giàu thêm vùng Kinh Bắc văn hóa. Đường lên núi Phật Tích đẹp như tranh. Trèo lên 81 bậc đá bề thế, lên đỉnh núi lộng gió gặp bầu
trời rộng mở khoáng đạt tầm mắt. Đỉnh núi còn một khối đá vuông, mặt đá phẳng lì mát rười rượi. Tương truyền có chàng tiều phu tên là Vương Chất lên núi đốn củi, bắt gặp hai cô gái đẹp ngồi say sưa đánh cờ. Chàng ngả rìu mải mê xem nước cờ tiên. Tan cuộc, một cô gái tủm tỉm cười với chàng trai và bảo: "Kìa cán rìu đã mục rồi!". Chàng tiều phu vội vã nhìn xuống, thì đúng như vậy. Ngẩng lên, đã thấy hai cô gái bay bồng bềnh về nơi những đám mây trắng như bông. Vương Chất xuống núi, thì làng xóm đã đổi thay. Hỏi ra, đã bảy thế hệ trôi qua...
Tiên Du cũng là một trong những vùng đất mà người ta nói đã xuất xứ câu chuyện tình Giáng Tiên bén duyên Từ Thức vào mùa hoa mẫu đơn nở. Tận đến nay, Phật Tích vẫn là vùng trồng nhiều hoa mẫu đơn. Sườn núi, vườn nhà, sân nhà... mẫu đơn thắm thiết buổi xuân về. Khách du lịch đến Phật Tích vãn cảnh, thưởng hoa, bồi hồi nhớ về một vùng đất thơ mộng, với những công trình trải qua chín thế kỷ dâu bể, vẫn còn giữ lại những di tích quý.
Chùa Phật Tích xưa kia được xây dựng ở sườn nam núi Phật Tích. Đây là công trình kiến trúc, tạo hình nổi tiếng, quy mô đến ba trăm nhà. Tượng A Di Đà đá xanh là một tác phẩm
quý. Phật ngồi xếp bằng, tay vòng trước bụng, nét mặt đôn hậu. Nếp áo như sóng lượn, chứng tỏ nét tài hoa của bàn tay nghệ nhân. Cùng với tượng A Di Đà, còn có tượng Hộ Pháp, tượng Kim Cương và tượng đầu người mình chim. Những tượng ngựa, tê giác, sư tử... dáng vẻ sinh động, to như thật, bố trí hài hòa trên sân chùa. Trải qua các thời Lý, Trần, Lê đã có thời hưng thịnh được tu bổ và mở mang. Bấy giờ có lúc chỉ riêng số phục dịch, trông nom cũng đã đến bảy chục người. Vua Trần Nhân Tông vãn cảnh núi Phật Tích để lại tập thơ Bảo hoa dư bút, còn Chu Văn An viết những câu thơ man mác: "Tiếng sênh đâu vắng tá. Hiu quạnh vùng sông núi xưa...".
Qua những cuộc chiến tranh, nhiều công trình kiến trúc bị tàn phá hoặc bị hư hại, nhưng Phật Tích vẫn là một nơi đi về của những ai yêu mến đất tiên du ngoạn. Dòng sông uốn khúc, thế núi cheo leo, những lớp tường ghép của chùa bền vững với thời gian, những bức tượng còn sót lại, vẫn hấp dẫn lạ thường với khách du lịch gần xa.
HàNội - trái tim cả nước
Hà Nội là đất nghìn năm văn vật. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về đất này và gọi kinh đô là Thăng Long. Từ đó, Thăng Long là kinh đô của nước Đại Việt rồi Việt Nam.
Từ thuở mang gươm đi mở cõi,
Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long.
(Huỳnh Văn Nghệ)
Đó chính là nỗi lòng của mọi người Việt Nam đã gắn bó tâm hồn mình với một mảnh đất cội nguồn hằng gìn giữ bao dấu tích về quá trình trưởng thành của dân tộc.
Từ năm 1010 đến cuối thế kỷ 18, Thăng Long có lúc gọi là Đông Đô (đời Hồ), Đông Kinh (đời Lê). Sang đầu thế kỷ 19, nhà Nguyễn dời đô vào Huế. Thăng Long trở thành trấn lỵ của trấn Bắc Thành (tương đương miền Bắc ngày nay). Năm 1831, đời Minh Mạng bỏ các
trấn, lập ra các tỉnh, thì Thăng Long thành tỉnh lỵ của tỉnh Hà Nội.
Hà Nội là nơi gặp gỡ của nhiều đầu mối giao thông. Và Hà Nội có nhiều danh lam thắng cảnh: núi Voi, núi Trúc (phía trên vườn Bách Thảo), núi Lài (gần Cổ Loa), gò Thất Linh (gần lò bát Thanh Trì cũ), sông Hồng, hồ Thuyền Quang, hồ Bảy Mẫu, hồ Hoàn Kiếm, hồ Trúc Bạch, hồ Tây.
Thăng Long vốn là đất của sông và hồ. Nhiều phố của Hà Nội ngày nay là hồ nước của Thăng Long ngày xưa. Sông Hồng chuyển dòng để lại một đoạn dòng làm "tặng vật", đoạn dòng cũ ấy chính là hồ Hoàn Kiếm. Hồ Hoàn Kiếm xưa rộng mênh mông, giữa hồ có hòn đảo Ngọc Sơn (gọi tắt là đảo Ngọc) vốn là một doi đất giữa sông xưa. Thuở trước hồ Hoàn Kiếm rộng mãi tới Hàng Đào, và có tên là Lục Thủy, bởi nước hồ bốn mùa xanh ngắt. Tới thế kỷ 15, hồ có tên Hoàn Kiếm do sự tích Lê Lợi trả gươm. Chuyện kể rằng Lê Lợi khi còn ở Lam Sơn có bắt được một thanh gươm. Gươm ấy luôn ở bên ông trong suốt mười năm chinh chiến. Khi dẹp xong giặc Minh, vua Lê về Thăng Long, một hôm ngự thuyền dạo trên hồ Lục Thủy, bỗng có con rùa nổi lên. Nhà vua rút gươm ra trỏ thì rùa liền đớp ngay thanh gươm rồi lặn xuống. Như vậy là vua trả gươm cho trời. Chính vì lẽ đó hồ có tên là Hoàn Kiếm, gọi tắt là hồ Gươm. Sau thủy quân dùng hồ này làm nơi luyện tập nên có thêm tên là Thủy Quân Hồ.
Ngày nay, khu vực quanh hồ, đã thành tên là Bờ Hồ, là nơi người Hà Nội dạo chơi, đón gió ngày hè.
Hà Nội có hồ Tây ở giữa tây bắc thành phố, rộng tới năm trăm héc-ta. Người ta cho rằng hồ này là một đoạn sông Hồng cũ còn sót lại sau khi đổi dòng. Nhưng theo sự tích Hồ Tinh thì đây là hồ Xác Cáo. Chuyện rằng, nguyên nơi này là núi đồi, có con cáo tu luyện nghìn năm tới trú ẩn và làm hại người. Long Thần dâng nước phá hang cáo, bởi thế đất sụt thành hồ vùi chôn xác cáo. Còn theo sự tích Tiếng chuông đồng đen thì hồ có tên là hồ Kim Ngưu. Đồng đen là mẹ vàng cho nên khi đánh chuông, tiếng chuông ngân vang sang Tàu, Con trâu vàng bên Tàu nghe, liền vùng chạy đi tìm. Tới đây nó quần mãi nên đất sụt thành hồ, thế rồi nó ẩn ở dưới hồ. Thời Lý, Trần hồ này đi vào lịch sử với tên Dâm Đàm(1) tức mù sương. Thuở ấy nơi đây còn rậm rạp, cây cối
um tùm, còn có cả mãnh thú như hổ, báo... Sang đời Lê mới đổi tên là Hồ Tây.
Hồ Tây là thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội. Từ thời Lý, Trần, các vua chúa đã lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát, giải trí như cung Thúy Hoa, điện Hàm Quang (nay là chùa Trấn Quốc), cung Từ Hoa (nay là chùa Kim Liên làng Nghi Tàm)... Từ lâu, Hồ Tây đã
đ
i vào thơ ca lộng lẫy:
... Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Thế kỷ 16, ông nghè Thái Thuận, nhà ở mé
bờ nam hồ, từng có thơ vịnh Hồ Tây (lời dịch):
Sớm theo Cửa Bắc chuông cùng dậy, Chiều đợi Hồ Tây chim rủ về.
Thế kỷ 18, Nguyễn Huy Lượng đã làm nên bài phú bất hủ: Tụng Tây Hồ phú.
Ngày nay, nhà thơ Tố Hữu cũng có những vần thơ ngợi ca vẻ đẹp Hồ Tây:
Đêm qua trăng sáng Cổ Ngư,
Trăng đầy mặt nước, trăng như mặt người. Trăng tươi mặt ngọc trên trời, Ngẩn ngơ trăng ngó mặt người như trăng.
Mồng năm Tết năm Kỷ Dậu (1789), sau trận đại thắng Đống Đa, đánh đuổi quân Thanh, Nguyễn Huệ cùng một số tướng lĩnh đi chơi xuân Thăng Long để thưởng thức cảnh đẹp đất đế đô ngàn năm văn vật. ạng đi quanh hồ Tây, đến tận Nghi Tàm, Nhật Tân xem cành đào, giò quất.
Các bô lão nghênh đón vị khách phương Nam lừng lẫy chiến công. Các cụ biếu Nguyễn Huệ và các tướng đi theo những cành đào tuyệt đẹp. Nguyễn Huệ ngắm hoa rồi xúc động nói:
- Hoa đào đúng là mùa xuân điểm tô cho cảnh sắc Thăng Long đã đẹp càng thêm đẹp.
Dạo quanh hồ Tây, lúc về, một viên quan tâu với Nguyễn Huệ: - "Tây" Hồ trùng với tên "Tây" Sơn khi dùng
để
chỉ triều đại mới, nay xin được đổi tên. Nguyễn Huệ lắc đầu gạt đi:
- Tây Hồ là cảnh đẹp đầy tự hào của đất
Thăng Long, Bắc Hà. Phải giữ nguyên! Khách Tây Sơn, cảnh Tây Hồ là duyên kỳ ngộ, cảnh chẳng phụ người sao người lại phụ cảnh!
Nằm trong lòng hồ Tây có Nghi Tàm khoáng đạt, đẹp một vẻ đẹp thiên nhiên. Người xưa đã liệt danh tám cảnh đẹp Tây Hồ thì Nghi Tàm đã chiếm hai. Đó là Bến Trúc Nghi Tàm và Đồng Bông Nghi Tàm. Trong thơ Nguyễn Huy Lượng, cảnh Nghi Tàm vẫn đầy sức sống:
Chày Yên Thái nện trong sương loảng choảng,
Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co.
Hà Nội có quảng trường Ba Đình. Có nhà sàn, nơi ở và làm việc của Bác Hồ. Có lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh, nơi yên nghỉ vĩnh hằng của vị Cha Già vô vàn kính yêu của các dân tộc Việt Nam.
Cúc Phương Vùng đất rừng quý giá
Cúc Phương mang trong lòng một bộ sưu tập của nhiều thế kỷ về sinh cảnh thiên nhiên; vừa phong phú, thơ mộng lại vừa hùng vĩ. Hãy nên ít nhất một lần đến với Cúc Phương.
Với diện tích hơn 250 ki-lô-mét vuông, nằm gối trên địa phận của ba tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa, rừng nguyên sinh Cúc Phương còn đủ tính chất khu rừng nhiệt đới năm tầng, giàu có về động vật, thực vật nhiệt đới một cách kỳ lạ. Những dải đá vôi bao quanh trùng trùng điệp điệp, mây sớm sương chiều đã tạo khung cảnh bề thế cho khu "vườn" bao la này. Cảnh quan Cúc Phương hấp dẫn du khách với tất cả sự phong phú của nó. Hơn hai trăm loài thực vật bậc cao với nhiều thế hệ khác nhau là nơi họp mặt điển hình của các loài thực vật vùng Đông Dương. Cúc Phương cũng quy tụ một luồng thực vật di thực từ vùng
nhiệt đới khô ấn Độ, Mi-an-ma đến "sinh cơ lập nghiệp" trong khu vườn mênh mông này.
Bộ sưu tập thực vật của vườn quốc gia này khó mà kể hết tên cỏ cây. Những tên gọi quen thuộc ở xứ sở quê ta: kim ngao, chò, gie, giẻ, mun, cẩm hương, táu, gụ... Du khách đến Cúc Phương không chỉ ngắm nhìn cảnh đẹp mà còn gặp những cổ thụ lạ. Leo lên sườn núi, luồn lỏi qua những ngách đá lô nhô, ta bắt gặp cây chò nghìn tuổi cao hơn 50 mét sừng sững ngút trời xanh, gốc rộng 16 người ôm mới xuể. Còn cây chò chỉ, cao tới 70 mét, thân lớn dựng đứng 60 mét xòe tán lá một vùng, cũng đến tuổi 1000 năm. Cây kim giao bên đường mòn, thân gốc xù xì cổ kính. Gỗ kim giao đi vào câu chuyện huyền thoại: đũa ăn tiện từ gỗ quý này có thể phát hiện ra thức ăn bị nhiễm độc. Khách thăm vườn hôm nay, khi ra về được tặng hoặc mua vài đôi đũa chuốt từ gỗ kim giao làm kỷ niệm cuộc "hành hương" về thăm rừng nguyên thủy. Còn cây gù hương kia, một vùng bao quanh thơm ngát hương đưa, và cây sấu cổ, thân bạnh ra xù xì như thành quách rêu phong, vòng gốc 60 mét, ngang tuổi cây chò.
Càng đi sâu vào rừng, càng trập trùng cây lá. Dây leo quấn quít, khi như những con trăn uốn lượn, khi tỏa ra như những vòi bạch tuộc. Càng lên cao, càng thấy ngợp mắt bởi những đỉnh núi ngút ngàn và hùng vĩ. Đây là đỉnh Mây Bạc, bốn mùa mây trắng như bông bao phủ, còn đây là đỉnh Kim Giao bồng bềnh trong sương và hơi núi, gió lộng quanh năm. Mùa mưa mùa nắng, hoa rừng nở bên bờ khe, trên thảm cỏ. Đặc sắc nhất là phong lan. Có đến 50 loài phong lan quý. Nhiều loài màu sắc kỳ lạ. Có loài nở hoa cả bốn mùa. Những chùm phong lan treo trên cành cao như những chùm đèn, sáng cả một góc rừng. Và bướm lạ bay về. Không biết hoa nhiều hay bướm nhiều nữa. Những đàn bướm khổng lồ, sặc sỡ đủ màu bay lượn trong nắng. Có lẽ, trong các bộ côn trùng, thì bướm là bộ đặc sắc nhất. Những loài bướm mang tên thơ mộng như bướm "nàng tiên", bướm "phượng hoàng", màu sắc, hoa văn của cánh bướm làm say mê cho những ai sưu tập về loại côn trùng này. Cũng không ở đâu phong phú động vật như ở Cúc Phương. Hơn hai trăm loài động vật có xương sống, trong đó chim chiếm đến 140 loài, thú 64 loài, bò sát 36 loài, còn lại 17 loài lưỡng thê và một số loài cá. Những động vật quý hiếm là niềm vui cho các nhà khoa học hiện đại nghiên cứu: cu li, lợn rừng, hươu sao, cheo cheo, vẹc quần trắng,
chồn, trăn gấm, báo gấm, sơn dương, khỉ vàng, tắc kè, phượng hoàng đất, gà lôi, chim trĩ, công... Đặc biệt hai loài động vật còn lại rất hiếm ở các nước là sóc bay và thằn lằn bay. Sóc bay có bộ cánh là màng da mỏng căng bởi bốn chân, từ trên cao lấy đà lượn xuống thấp. Đường bay có thể vài trăm mét, luồn lách khéo léo qua các dây leo chằng chịt và những thân cây san sát. Thằn lằn bay ở Cúc Phương màu xanh mướt, cánh như sóc bay. Khách dễ lầm tưởng là những chiếc lá liệng từ những lùm cây rậm là là giữa tầng không. Chim Cúc Phương mỗi buổi sớm mai hay chiều buông hót vang lừng làm thành một dàn ca bách thanh sống động. Những chim vẹt lộng lẫy, những vàng anh thanh tao không hiếm ở vùng đất vườn quốc gia này.
Cúc Phương mang trong lòng cả những suối nước nóng. Con suối Thường Xung nước nóng đến hơn 37 độ C là một dòng chảy quý giá của vườn rừng này. Cúc Phương không chỉ tồn tại sinh cảnh động, thực vật tươi sống, mà còn giữ nguyên những di chỉ hoang sơ của đất nước. Những hang động kỳ thú với nhũ thạch mơ mộng như trong thần thoại. Bản thân tên các hang động cũng làm bất cứ ai chẳng quản ngại ngần chân cứng đá mềm vãn cảnh: động Trăng Khuyết, động Vui Xuân, động Chua, động Thành Minh, động Con Moong... Riêng động Người Xưa (hang Đăn) đường vào vòng vèo, cheo leo và leo cao 223 bậc thang, đến nơi gặp gió hun hút, tạo dựng không gian sinh sống của người cổ xưa thời đồ đá. Những chỗ ăn ngủ, trú mưa, tránh nắng còn đây, vết tích một số đồ dùng hơn 7000 năm cũ còn đó, như ba ngôi mộ cổ, như tầng vỏ sò ốc, như rìu, nạo, sao không làm rung động người đời sau? Du khách ham chuyện dã sử, sẽ được người dân địa phương niềm nở kể chuyện sự tích Quèn Voi. Truyền thuyết xưa đã nhắc đến thuở người anh hùng Quang Trung hành quân ra Bắc đánh giặc ngoại xâm, đã cùng binh sĩ và đàn voi trận nghỉ chân ở nơi đây. Vết chân voi còn như in dấu một thời chinh chiến, trên thảm cỏ, trên bờ khe, nên dân chúng đặt tên là Quèn Voi.
Cúc Phương, một vùng đất rừng biết bao quý giá, mang trong lòng cả một bộ sưu tập của nhiều thế kỷ về sinh cảnh thiên nhiên.
Trong lòng biển Việt Nam
Vùng biển Việt Nam bao quanh phần lục địa phía đông và nam nước ta, có bờ biển dài hơn 3260 ki-lô-mét, với diện tích rộng hơn một triệu ki-lô-mét vuông.
Nguồn lợi khoáng sản biển của ta có nhiều loại, hiện nay còn chưa đánh giá được đầy đủ, nhất là khoáng sản đáy biển và nguồn muối, nguồn năng lượng thủy triều vô tận...
Dầu khí đã được tìm thấy trong các bồn trũng ở thềm lục địa phía Nam, ở độ sâu không lớn, thuận lợi cho khai thác; một số khu vực được coi là có triển vọng như ở vịnh Bắc Bộ và ven bờ miền Trung.
Sa khoáng ven biển đã phát hiện thấy ở nhiều nơi; các mỏ lớn và trung bình trữ lượng ước tính từ vài chục nghìn tới vài triệu tấn tập trung nhiều ở miền Trung. Các khoáng sản phi kim loại với trữ lượng lớn, có giá trị nguyên liệu công nghiệp và vật liệu xây dựng nằm ở ven biển miền Trung như cát thủy tinh, pha lê có chất lượng tốt. Ngoài ra, còn có cao lanh, đá quý, đá xây dựng. Những mỏ than bùn trữ lượng lớn hàng triệu tấn có ở ven biển Nam bộ. Các khoáng sản nội sinh như sắt, vôn-phơ-ram, mô-líp-đen đã phát hiện thấy ở ven biển Hà Tĩnh, Khánh Hòa, Bình Thuận.
Nguồn lợi hải sản vùng biển nước ta bao gồm cá biển và các đặc sản biển nhiệt đới. Thành phần cá khai thác bao gồm cá tầng trên, cá tầng gần đáy và đáy, trong đó có các loại cá bản địa như cá trích, cá nục, cá cơm, cá hồng, cá phèn, cá mối, cá lượng... và cá di cư theo mùa từ vùng khơi vào như cá ngừ, cá thu, cá chim, cá nhám...
Thường gặp ở vùng biển nước ta có cá nhám hoa, cá nhám chó dài từ một đến hai mét. Những loài cá nhám lớn thường được gọi là cá mập. Cá mập lam có thể dài tới tám mét, lưng màu lam đen, bụng trắng. Cá mập trắng dài tới mười mét. Cát Bà, Nha Trang, Hà Tiên... là những nơi cá nhám và cá mập thường xuất hiện.
Cá nhám và cá mập là nguồn lượng kinh tế quan trọng. Thịt cá nhám ăn được. Gan cá nhám rất lớn, chiếm từ 10 đến 15% trọng lượng
cơ thể cá và có tới 50% dầu. Dầu này rất giàu vi-ta-min A và D. Vây cá nhám là mặt hàng cao cấp, các tia vây là thức ăn quý hiếm, được khách sành ăn ưa chuộng.
Bờ biển nước ta có nhiều loài cá nóc. Trong gan và ruột nhiều loài cá nóc chứa một chất độc chết người, gọi là chất tê-tơ-rô-đô-tô-xin. Các bác sĩ dùng chất tê-tơ-rô-đô-tô-xin để gây tê tại chỗ, giúp người bệnh nằm trên bàn mổ chịu được những cơn đau trong lúc phẫu thuật.
ở
nhiều nước trên thế giới hiện nay người ta
đ
ang nghiên cứu chất tê-tơ-rô-đô-tô-xin để chế
biệt dược điều trị các khối u.
Tôm biển là nguồn lợi quan trọng thứ hai sau cá. Ngoài tôm he, còn có tôm hùm, tôm moi, tôm võ.
Nhiều loài cua biển được dùng làm thức ăn hàng ngày. Người ta đã chiết ra được chất sa-xi-tô-xin từ một số loài cua biển. Việc sử dụng chất này đang ở giai đoạn thử nghiệm, nhất là hướng điều trị các khối u ác tính.
Trong các đặc sản có thể kể: trai ốc biển, rùa biển, hải sâm, mực biển.
Các vùng biển của ta như Cô Tô, Vĩnh Thực, Cát Bà, Biện Sơn, Hòn Mê, Hòn Mát, Côn Đảo... có nhiều trai ngọc. Trai ngọc sống ở vùng đảo Cô Tô là loài cho ngọc trai có chất lượng cao.
Trai ngọc thích sống ở vùng biển nước mặn, giàu rạn đá và đảo san hô. Trong các vùng đá san hô người ta thường gặp loài trai khổng lồ. Loài trai này vỏ có thể nặng vài chục ki-lô-gam và dài gần một mét, lớn nhất hiện nay.
Các sản phẩm của trai ngọc đều có giá trị. Thịt trai là một thứ thực phẩm quý. Vỏ trai dùng khảm đồ mỹ nghệ. Và ngọc trai óng ánh nhiều màu sắc đẹp, vừa dùng làm thuốc vừa là vật báu làm đồ trang sức.
Bào ngư sống suốt dọc bờ biển, những nơi có rạn đá ngầm, có nơi chúng tập trung thành bãi lớn như bãi Cô Tô (Quảng Ninh), bãi Kỳ Lợi (Kỳ Anh, Hà Tĩnh).
Bào ngư là một hải sản có vị ngon ít loài sánh kịp. Về giá trị dinh dưỡng, người ta cho rằng bào ngư là một trong những đặc sản đứng đầu hải vị.
Vỏ bào ngư còn có tên là cửu khổng, vì mỗi chiếc vỏ có một hàng từ bảy đến mười ba lỗ, nhưng thường là chín lỗ thông khoang áo, như chín ô cửa sổ, mở ra thông với môi trường nước bao quanh, đó là chỗ để cho bào ngư thở. Vỏ bào ngư là một vị thuốc làm sáng mắt.
Nhiều người còn gọi thạch quyết minh, nghĩa là chất đá làm sáng mắt.
Nhiều đảo và quần đảo của ta có đồi mồi. Từ tháng năm tới tháng mười là mùa gió tây -nam thổi mạnh, dịp này về đêm trăng thường sáng vằng vặc, đồi mồi hay lên đảo đẻ trứng. Những con đồi mồi mai dài tới 80 hay 90 cen-ti-mét thi nhau ngoi từ dưới nước lên, lết tấm thân nặng nề vào sâu trong bãi cát đào hố để đẻ. Đồi mồi thường lấy chân bới cát thành hố, đẻ trứng vào rồi lại bới cát lấp lại. ở trứng đồi mồi vùi trong cát được mặt trời ấp nóng, chỉ sau vài ba chục ngày là có một đàn hàng trăm đồi mồi con ra đời.
Thịt đồi mồi nướng có vị ngon đậm đà của thịt bò thui chấm tương gừng. Có người đã từng ví thịt đồi mồi ăn mềm như thịt gà và đậm ngọt như thịt trâu. Trứng đồi mồi trắng bóng, tròn xoe như quả bóng bàn, ngon như trứng gà. Ngoài giá trị sử dụng thịt và trứng, đồi mồi còn cho vảy sừng có vân nâu rất đẹp dùng làm đồ mỹ nghệ, làm thuốc.
ở biển Việt Nam đồi mồi có từ vịnh Bắc Bộ tới đảo Phú Quốc.
Hô-lô-tu-ri-a là giống hải sâm gồm nhiều loài sống ở bờ biển nước ta. Hiện nay đã biết hàng chục loài; phổ biến nhất trong vịnh Bắc Bộ là loài hải sâm hmác-ten-si sống ở vùng nước dưới triều.
ở Việt Nam, Nhật Bản và Trung Quốc hải sâm từ lâu đã là món ăn quý, chẳng thế mà hải sâm được liệt vào hạng hải sản tiến vua. Người ta ví hải sâm không kém nhân sâm, có tác dụng bồi bổ và kéo dài tuổi thọ...
Từ loài hải sâm sti-cô-pút da-pô-ni-ca, người ta đã chiết xuất ra chất hô-lô-tô-xin đầy hứa hẹn trong điều trị các khối u ác tính.
ở biển Việt Nam có khoảng tám loài bạch tuộc phổ biến, trong đó thường gặp nhất là loài óc-tô-pút vun-ga-rít. Bạch tuộc là một động vật dữ, chuyên ăn thịt. Chúng thường kín đáo ẩn trong các hốc đá dưới đáy biển, nhanh như cắt bắt các loài cua, cá... làm thức ăn.
Từ loài bạch tuộc óc-tô-pút vun-ga-rít người ta lấy ra được chất óc-tô-pa-min có tác dụng gây mê. Một hoạt chất có tác dụng trị bệnh rối loạn nhịp tim đã được tách ra từ một số loài bạch tuộc.
Một nguồn lợi sinh vật biển có tiềm năng quan trọng là các hoạt chất sinh học có thể chiết xuất từ nhiều loại sinh vật biển (san hô, sam, sao biển...) là những chất có giá trị chữa
bệnh, hiện đang được chú ý tìm kiếm, sử dụng trên thế giới.
San hô là những động vật sống ở biển; chỉ có một số ít loài sống đơn độc, còn hầu hết chúng sống thành tập đoàn. ở dạng tập đoàn, phần dưới cơ thể san hô bám vào tập đoàn. Còn san hô đơn độc có chân đế để bám.
Những san hô sống đơn độc, cơ thể mềm mại suốt cả cuộc đời, vì thiếu bộ xương đá vôi. Trong bộ này có hải quỳ hình dạng cơ thể đẹp như đóa hoa đang độ nở, có tính chất đối xứng đều và có màu sắc tuyệt đẹp. Sắc màu tuyệt mỹ của san hô là do kết quả của cuộc sống chung đẹp đẽ giữa loài trùng roi và san hô, đã tô vẽ cho lòng biển vùng nhiệt đới này thêm rực rỡ.
Các loài san hô thuộc san hô sừng có bộ xương rất giàu i-ốt, từ lâu chúng đã được khai thác dùng làm thuốc.
Từ loài san hô ô-mô-ma-la có nhiều ở các vùng biển nhiệt đới, người ta đã chiết ra được các kích thích tố có thể dùng làm thuốc chữa nhiều chứng bệnh.
Sam sống ở ven bờ biển nước ta và các đảo lân cận. Ta thường gặp sam vào khoảng tháng bảy, tháng tám. Đó là thời kỳ sam dồn dập lên bãi biển sinh sản. Vào mùa sinh sản của sam, dân đi bắt sam thường bắt được cả đôi, vì lẽ
đó
có câu "yêu nhau như vợ chồng sam".
Vùng biển của ta hiện nay đã ghi nhận hơn
sáu chục loài sao biển. Chúng là loài vật ăn thịt, thức ăn của sao biển là cá hoặc trai ốc. Mồi bé chúng nuốt cả con. Còn với mồi lớn, chúng lộn dạ dày ra ngoài và quá trình tiêu hóa tiến hành ở ngoài cơ thể.
Sao biển là một hải sản quý, dùng để chế biến món ăn.
Từ sao biển, người ta đã chiết xuất ra được chất kích thích tính miễn dịch, có thể kích thích những yếu tố bảo vệ miễn dịch của cơ thể, đóng vai trò cốt lõi trong bệnh học ung thư và các bệnh nhiễm.
Nguồn lợi trong nước biển còn phải kể đến muối biển, hàng năm có thể khai thác tới vài chục vạn tấn. Các vùng muối quan trọng của ta hiện nay ở Hải Hậu, Bằng La, Hậu Lộc, Quỳnh Lưu, Sa Huỳnh, Cam Ranh, Cà Ná.
Yến sào miền Trung
Dọc theo duyên hải miền Trung, ngoài tôm cá còn có một thứ sản vật quý giá hơn cả trầm hương, đó là yến sào hay yến ca, mà ta thường gọi là tổ yến.
Chim yến bay về làm tổ ở nhiều hòn đảo thuộc các tỉnh Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Nam không biết từ bao giờ và mang lại đặc sản hiếm có ở nước ta. Khánh Hòa có hàng chục đảo chim yến về làm tổ, nhiều nhất là ở Hòn Nội và Hòn Ngoại (Nha Trang). Yến sào Khánh Hòa chiếm 85% sản lượng của cả nước với mức thu hoạch hàng năm khoảng gần 3000 ki-lô-gam. Kế đó là Bình Định chiếm 9%, tập trung ở bán đảo Phương Mai (Quy Nhơn) và Quảng Nam chiếm 6%, tập trung ở đảo Cù Lao Chàm (Hội An).
Những cái tên như tổ yến, yến ca, yến sào nhiều người được nghe, nhưng chẳng mấy ai được thấy, càng hiếm người được ăn. Người dân Khánh Hòa tự hào về quê hương mình:
Yến sào Hòn Nội Vịt lộn Ninh Hòa Tôm hùm Bình Ba Nai khô Diên Khánh Sò huyết thủy triều ạ Loan
Đời anh cay đắng đã nhiều
Có em ngon sớm ngọt chiều cùng nhau...
Cái tổ yến bé nhỏ, quý giá ấy nặng không quá 10 gam mà nổi tiếng qua các thời Đinh, Lê, Lý, Trần... Các văn nhân thi tài ai chiếm khôi nguyên đỗ đạt thì có thể được phong trạng; quan trạng lĩnh mũ áo xong được vua ban tiệc yến giữa triều.
Vua chúa thời xưa, khi chiêu đãi đều lấy yến sào làm món ăn đầu sổ. Vậy yến sào là chất gì mà cao sang vậy? Có người cho là chim yến ăn tảo biển tiêu hóa không hết dành làm tổ. Có người hiểu chim lấy nhựa từ tảo biển làm tổ. Còn người miền Trung nói rằng tổ yến chính là nước dãi do tuyến hàm của chim mẹ tiết ra, kéo thành những sợi nhỏ như sợi miến cuộn lại thành chiếc nôi nuôi con. Khi chim bị tổn thương thì máu sẽ lẫn với nước dãi và tạo thành huyết yến hiếm và quý. Trên một đảo yến, một vụ chỉ thu được 2-3 ki-lô-gam huyết yến là cùng. Khi khô thì tổ yến giòn và nháp, nhưng ẩm thì mềm. Đáy tổ rải đầy lông lấy ở cổ và ngực của chim bố mẹ. Mỗi lứa chim yến đẻ 2 trứng và ấp suốt ngày đêm.
Tổ yến là sản phẩm quý. Ngoài việc dùng làm món ăn cao sang, tổ yến còn được dùng làm thuốc bổ dưỡng, chữa gầy yếu, ho hen, lao, thổ huyết. Ngoài tổ yến người ta còn dùng phân của chim yến làm thuốc giải độc (phân tươi sao lên, giã với hành củ rồi viên thành viên to bằng hạt ngô; mỗi lần uống ba viên sẽ làm cho đi tiểu nhiều, thải ra các chất độc). Những con chim yến chết trong tổ, xác của chúng đã cứng khô, được dùng làm thuốc chữa ho lao và yếu phổi. Còn thịt chim yến cũng được dùng làm thuốc thải chất độc, chữa loét hậu môn và ghẻ.
Chim yến được gọi là yến biển để phân biệt với loài én đất thường làm tổ trên các tán cây cao. Chim yến dài 13-15 cen-ti-mét, có cánh rất dài, bay rất nhanh, có thể vượt 40 ki-lô-mét trong một giờ. Khi bay luồn lách các khe núi chim cũng không cần giảm tốc độ. Chim yến không đi được trên mặt đất, chỉ leo trèo ở các vách núi đá, nơi chúng thường làm tổ. Lông phủ thân mình chim yến màu xám, lông cánh và đuôi màu đen, bởi thế, người ta còn gọi chim yến là huyền điểu - chim đen.
Chim yến làm tổ trên các vách đá cao và nhẵn, vòm hang động hiểm trở, trên những hòn đảo kín đáo ngoài khơi. Chúng thường bay thành đàn trên biển khơi, hoặc là là trên mặt
nước để hút bọt biển, đớp tảo biển. Chúng bay đi tìm mồi và làm việc suốt ngày đêm, miệng kêu inh ỏi.
Cuối mùa xuân, chim yến làm xong tổ. Và mùa lượm tổ yến bắt đầu từ đó. Chim yến mất tổ còn thời gian làm lại tổ khác, song đợt lượm sau này kém vụ đầu.
Tổ yến được phân loại như sau:
- Mao yến là trong tổ có nhiều lông chim yến.
- Quan yến hay bạch yến là tổ làm lại lần thứ hai, màu trắng.
- Thiên tự yến có màu vàng.
- Địa tự yến có màu xám, hơi nham nhở xù xì.
- Yến bài là tổ yến đang làm dở dang.
- Huyết yến là do chim bị tổn thương lúc làm tổ, có lẫn máu với nước dãi.
Lấy xong tổ yến, đưa vào đất liền đem ngâm trong nước nóng, thể tích nước gấp mười lần thể tích tổ yến. Chờ 1-2 giờ sau, tổ yến sẽ nở to ra. Dùng dầu lạc xoa cho rụng hết lông; rồi rót nhiều nước nóng vào, dầu nổi lên lôi theo các tạp chất. Gạn nước nhiều lần, xong dùng kẹp gắp hết lông. Khi đã nhặt sạch lông, vắt hoặc ép cho ra hết nước; làm nhiều lần như vậy cho tới khi nước vắt, ép ra khỏi tổ yến thật trong sạch.
Khai thác tổ yến rất kỳ công và nguy hiểm vì chúng thường nằm cheo leo trên vách cao trong hang động. Người ta phải đốt đuốc, dùng thang mây dài hàng trăm mét thả từ trên đỉnh núi xuống, rồi tụt xuống hay leo lên lấy tổ yến.
Tổ yến là một món ăn được ưa chuộng ở nhiều nước trên thế giới. Ngày nay tổ yến rất có giá. Một ki-lô-gam tổ yến xuất khẩu loại xấu nhất cũng được hơn 1000 USD, tốt nhất hơn 3000 USD. Mỗi ki-lô-gam khoảng 100-120 tổ. Chính vì vậy mà tổ yến được xem như "vàng trắng" của miền Trung.
Nguồn http://www.nxbkimdong.com.vn
Việt Nam, bắc giáp Trung Quốc, tây giáp Lào và Cam-pu-chia, đông và nam trông ra biển cả như một bao lơn trên Thái Bình Dương. Nước ta ở Đông Nam á, là một đầu mối giao thông quan trọng từ ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương.
Chạy dài từ Hà Giang đến Cà Mau, hình chữ S, cùng với các đảo và quần đảo, tạo thành một dải đất nước Việt Nam giàu đẹp.
Việt Nam là một trong những nơi loài người xuất hiện sớm nhất. Trên đất nước ta, mấy nghìn năm trước đây, đã có người nguyên thủy sinh sống. Nước ta gồm 54 dân tộc anh em chung sống hòa hợp. Mỗi dân tộc có những sắc thái riêng về văn hóa, vật chất và tinh thần, góp phần làm cho Tổ quốc tươi đẹp trăm màu, nghìn vẻ. Từ thời vua Hùng dựng nước đến nay, dân tộc Việt Nam đã đoàn kết chiến đấu vô
cùng anh dũng chống giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ đất nước.
Nước ta ở vùng nhiệt đới gió mùa, có ánh nắng chan hòa, có lượng mưa dồi dào. Một số nơi vùng núi cao khí hậu có tính chất ôn đới.
Núi non của ta hùng vĩ. Rừng của ta trải ra trùng trùng điệp điệp. Các đỉnh núi cao là Phăng-xi-păng 3143 mét, Pu Ta Leng 3096 mét, Pu Luông 2985 mét, Lang Cung 2913 mét, Tây Côn Lĩnh 2431 mét, Pu Xai Lai Leng 2711 mét, Ngọc Lĩnh 2598 mét, Chử Yang Sin 2405 mét...
Rừng và đất rừng chiếm hàng chục triệu héc-ta, rất giàu lâm sản. Rừng nhiệt đới Việt Nam có tới mấy nghìn loài thực vật là một kho tài nguyên quý báu. Rừng của ta cũng phong phú với hàng nghìn loài chim, hàng trăm loài thú.
Trong những năm gần đây, rừng nước ta bị tàn phá nghiêm trọng. Tuy vậy vẫn còn những khu thiên nhiên được bảo tồn như ở Cúc Phương, Sa Thầy, Cát Tiên, Phong Nha... Tại những nơi ấy cho đến nay các nhà khoa học thế giới vẫn còn phát hiện được những loài thú mới gây sửng sốt cho giới động vật học, như bò rừng, sao la, gà lôi lam...
Sự phong phú về các chủng loại này lại càng đa dạng hơn do nước ta còn giữ lại được những khu rừng già nhiệt đới và cận nhiệt đới. Đấy chính là nơi còn hội tụ những hệ động vật của nhiều nước và nhiều khu vực lân cận. Trong khi ở nhiều nước, do sức ép của quá trình công nghiệp hóa đã khiến cho nhiều loài động vật bị đe dọa dữ dội hoặc bị tuyệt chủng, thì tại các vùng đất bao la của rừng già Việt Nam vẫn còn nhiều loài động vật đang sống thành bầy đàn.
Một điểm đặc biệt là hệ động vật cũng như hệ thực vật vốn rất cổ xưa ở Đông Nam á. Trong khi ở Châu Œu, bắc Châu Phi và cả một số phần lãnh thổ khác của Châu á, tuổi phát triển liên tục không bị gián đoạn do tác động của thời kỳ băng hà của các loài động vật chỉ đạt khoảng vài vạn năm, thì tuổi các loài động vật ở Việt Nam ta phải nói tới hàng triệu năm. Chính cái khoảng thời gian được phát triển liên tục hàng triệu năm này đã tạo ra sự phong phú của thiên nhiên nước ta hiện nay.
Mạng lưới sông ngòi của ta chằng chịt với hàng nghìn con sông lớn nhỏ ở khắp đất nước
là nguồn nước, thủy lực, thủy sản dồi dào, giao thông đường thủy thuận lợi.
Miền Bắc có sông Hồng dài 500 ki-lô-mét với hai phụ lưu lớn là sông Đà 543 ki-lô-mét và sông Lô 277 ki-lô-mét. Sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam dài hơn 600 ki-lô-mét hợp thành sông Thái Bình Miền Trung có sông Mã dài 426 ki-lô-mét, sông Cả dài 379 ki-lô-mét Miền Nam có sông Đồng Nai dài 500 ki-lô-mét, cùng với các sông La Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ tạo thành một mạng lưới sông ngòi chằng chịt.
Sông Mê Công phần chảy qua nước ta dài 220 ki-lô-mét, chia làm hai nhánh: sông Tiền và sông Hậu và đổ ra biển Đông theo chín dòng nên gọi là sông Cửu Long.
Đồng ruộng bao la của nước ta thích hợp với các loài cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp. Những đồng bằng châu thổ mầu mỡ của ta rộng hàng trăm nghìn héc-ta ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam, được các dòng sông bồi đắp phù sa, hàng năm liên tục mở rộng, là những cánh đồng trù phú trồng lúa và cây hoa mầu. Những cao nguyên thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nổi tiếng là Tây Nguyên cao hàng nghìn mét, với những dải đất đỏ mênh mông, và những cánh đồng cỏ bát ngát.
Hơn 3260 ki-lô-mét bờ biển nước ta gồm những cảnh đẹp nổi tiếng thế giới. Những bãi tắm đẹp, hàng năm đón khách du lịch bốn phương đến, và nhiều cảng, vũng thuận lợi cho tàu cặp bến: Trà Cổ, Bái Tử Long, Hạ Long, Sa Huỳnh, ạ Loan, Nha Trang, Cam Ranh, Vũng Tàu, Ba Hòn, Hà Tiên...
Biển nước ta có hải sản dồi dào. œớc tính lòng biển ta có khoảng 2000 loài cá. Trong đó có khoảng 100 loài cá ngon và nhiều loài làm thuốc. Thực vật biển có hơn 600 loài tảo. Trong đó nhiều loài là đặc sản.
Đất nước ta giàu khoáng sản: dầu mỏ và khí đốt, than, sắt, đất hiếm, thiếc, chì, kẽm, đồng, crôm, thủy ngân, ăng-ti-moan, bô-sít, ni-ken, a-mi-ăng, vàng, vôn-phơ-ram, a-pa-tít. Trong đó có những khoáng sản có trữ lượng lớn như: dầu khí, bô-xít, đất hiếm...
Sa Pa mờ sương
Tây Bắc nước ta có Sa Pa xanh rờn quanh năm, mây núi hữu tình và thơ mộng. Có ba đường dẫn đến thung lũng thiên nhiên có cảnh trí thần tiên này là: từ thị xã Lào Cai vào, từ Lai Châu xuống và từ Bình Lư (Sơn La) sang.
Khí hậu Sa Pa mát mẻ, quanh năm phải đắp chăn. Giữa những ngày hè Hà Nội và các nơi khác 30 - 36oC, thì Sa Pa chỉ 15 - 22oC là cùng. Ban đêm còn trở lạnh nữa. Mùa đông, nhiều đêm ở Sa Pa nước đóng băng, và tuyết rơi như hoa thàn mát rụng.
Sa Pa không giấu vẻ hồng hoang, cổ sơ của mình. Chính cái thung lũng thiên nhiên đã
ưu ái dành cho ta này, chính cái vẻ hoang sơ kia, mới có thể sinh ra rừng già, toàn những loại cây thông tre, dùng làm cột buồm, nghiến cho gỗ rắn và bền... Sa Pa có những cánh rừng bạt ngàn pơ mu, có cây cao 15 - 20 mét, gốc tới hai người ôm mới xuể. Xẻ ra, gỗ pơ mu trắng nuột nà, có vân như mây, có hương thơm ngát, không bao giờ bị mọt đục hay mối xông, nếu làm tà vẹt hay cột nhà, chôn dưới đất hàng trăm năm không mục nát. Vùng núi non giàu đẹp này còn là một kho thuốc phong phú, gần như vô tận: hoàng liên, hà thủ ô, xuyên khung, tục đoạn, thảo quả... Nơi đây cũng là xứ sở của nhiều thứ hoa lạ. Hồng bạch, tường vi thắm hồng, bất tử trắng, vàng, đỏ... đẹp không thua gì hoa ở Đà Lạt. Còn phong lan thì có đến vài ba trăm loài khoe sắc, đua hương, đầy quyến rũ. Bên sườn Phăng-xi-păng, những cây đại thụ khoác áo phong lan từ gốc tới ngọn.
Những con đường mòn quanh co uốn lượn, những hàng cây sa mu, pơ mu, nghiến,... suốt năm tháng rì rào cùng gió lạnh, dòng Thác Bạc chênh vênh và nõn nà như tuôn chảy từ trời xanh xuống. Chiếc Cầu Mây bắc qua hai bờ suối quanh năm bồng bềnh mây trắng, lúc nào cũng như thực như mơ. Và rừng núi đá với những cái tên mộc mạc mà gần gũi thân thương: Hòn Bố, Hòn Mẹ, Hòn Cối Xay, Hòn Yên Ngựa... không biết có tự bao đời, mà trên đó người xưa đã chạm khắc nào hoa văn, hình thú và những dòng chữ rất đẹp. Rồi động Thủy Cung, cổng Trời, hang Gió, bàn cờ Tiên...
Ngọn Phăng-xi-păng 3143 mét, chỉ ngày đẹp trời mới thấy, còn thì chìm trong mây trắng. Những đêm có tuyết, dãy núi sáng lên ánh bạc. Ban ngày tuyết tan tạo thành vô vàn con suối nhỏ, róc rách như bản nhạc rừng êm ả.
Sa Pa - một quần thể du lịch đầy hấp dẫn. Xưa nay biết bao người mơ ước được đặt chân tới chốn này.
Những viên ngọc châu trên biển biếc
Tên vịnh Hạ Long ra đời từ một truyền thuyết đẹp, được bà con chài lưới trong vùng kể cho con cháu nghe mỗi đêm trăng sáng lênh đênh trên sóng nước. Thuở ấy lâu rồi, giặc ngoại xâm với những đoàn thuyền chiến ồ ạt tiến vào vùng cửa biển này. Thế trận bên ta đang muôn ngàn lần nguy ngập, trời bỗng nổi mây vần vụ. Một đàn mẹ con rồng vàng xuất hiện, mang theo vô số ngọc châu lóng lánh thả xuống biển, biến thành muôn ngàn đảo lớn, đảo nhỏ như những bức trường thành ngăn cản các chiến thuyền giặc. Giặc tan, rồng mẹ ở lại luôn vùng biển biếc hữu tình này. Vậy là vịnh có tên Hạ Long từ đó. Còn chỗ rồng con xuống nước và chầu về mẹ, được gọi là Bái Tử Long, chỗ phía dưới cùng đàn rồng xuống là Bạch Long Vĩ (nay là bán đảo Trà Cổ).
Những hòn đảo nhấp nhô trên sóng biển, mang trong mình nhũ đá nghìn năm, và tiếng thánh thót của những giọt nước tạo nên âm thanh như những bài ca rì rầm kể lại chuyện xưa của những viên ngọc châu do rồng thả xuống.
Hạ Long kỳ thú nằm ở phía biển Đông Bắc nước ta, là một cảnh đẹp quyến rũ. Trên khắp một vùng biển rộng là những núi đá lớn nhỏ nhấp nhô đủ mọi hình dáng. Tưởng chừng như đây là một bức tranh của thiên nhiên được vẽ bằng một thứ bút son mầu nhiệm. Tài liệu năm 1927 của ngành du lịch Pháp nhận xét: "Những cảnh đẹp thiên nhiên của Đông Dương gợi lên khá nhiều tính tò mò của du khách. Vịnh Hạ Long nằm trong vịnh Bắc Bộ cho ta một cảnh đẹp không thể nào quên, chắc chắn là đẹp nhất thế giới". Đúng thế, do sự tạo lập đặc biệt của thiên nhiên nên Hạ Long vừa thơ mộng vừa hùng vĩ. Một cảnh đẹp khó nơi nào sánh được.
Các đảo giữa vịnh Hạ Long tuy là một vùng núi đá trải rộng trên mặt biển, nhưng thiên nhiên xếp đặt thật khéo: có cụm núi chụm nhau; có chỗ giăng dài ra như bức trường thành; lại có những hòn nằm riêng lẻ. Cách tạo dáng của những hòn núi cũng nhiều dạng; có hòn trông như một cánh buồm no gió của một con thuyền ra khơi; có hòn với dáng hình ông bụt đang ngồi suy tư; có hòn mang hình thù như một tháp canh. Đảo đá mỗi hòn một vẻ với những hình dáng kỳ diệu.
Hạ Long đẹp cả bốn mùa. Vào tiết xuân, những hòn đảo xa xôi như bị chìm trong mây trắng. Mùa hạ, những cánh buồm nâu, buồm trắng trôi nổi, và biết bao nhành san hô ngũ sắc, vùng rong biển làm đổi màu nước ùa đến trong tưởng tượng của du khách.
Có nhiều đường dẫn đến thăm vịnh Hạ Long. Đi tàu thủy từ Hải Phòng ra Móng Cái thì chỉ sau chừng một giờ, sẽ hiện ra vịnh Hạ Long tráng lệ. Từ Bãi Cháy vượt qua vịnh Hòn Gai là đến dãy đảo phía nam rồi từ hang Đầu Gỗ đến hòn Nót. Hoặc là đi qua vùng phía đông nam tới hòn Cửu Giữa, đến Vũng Tàu Đắm nằm trên lạch Chim Thăng Ca. Phía đông Vũng Tàu Đắm có thể tới hòn Rồng, hang Trống, nhà Trò hay hòn Con Gái. Đi giữa cái bao la của trời cao biển rộng nơi này, du khách được sống những giờ phút lâng lâng, xao xuyến trước sắc nước mây trời của Hạ Long. Có những lúc đang giữa mênh mông mặt nước,
bỗng hiện ra sừng sững trước mặt khách một vách núi như bức tường chắn. Có lúc khách đang hồi hộp như thể đường đi bị tắc nghẽn thì lại hiện ra một vùng biển mới với những hòn núi lạ. Cũng có lúc con thuyền phải lách qua một lạch nước hẹp như một dòng suối giữa hai vách núi để rồi rẽ trái hay rẽ phải vào một vùng nước non kỳ vĩ. Sự khép mở lạ lùng này của thiên nhiên Hạ Long tạo cho người đi trên vịnh "mỗi bước" lại phát hiện những điều mới lạ, mà luôn được khám phá như thể đọc một bài thơ tuyệt tác. Có lần vua Lê Thánh Tông qua đây, đã tức cảnh vịnh những vần thơ:
Hải thượng vạn phong quần ngọc lập, Tinh la kỳ bố thúy tranh vanh...
Tạm dịch:
Trên biển chen nhau, ngọc vạn hòn Như quân cờ biếc xếp chênh vênh.
Thiên nhiên đã miệt mài bao đời để tạo nên những núi - đảo lớn, nhỏ quyến rũ sức tưởng tượng của du khách: cái thì mang dáng dấp con người, cái khác lại giống con chim đang sải cánh, hay con trâu, con ngựa... Trong số các hang động và hòn núi đẹp của Hạ Long phải nói tới hang Đầu Gỗ, mà sách vở xưa ghi là Độc Canh. Hang này cách bờ Bãi Cháy 12 ki-lô-mét, đã có một thời người Pháp gọi là hang Kỳ Lạ. Mà kỳ lạ thật. Thoạt tiên mới bước vào cửa động, ta có cảm tưởng như lạc vào một cung điện nguy nga tráng lệ. Các nhũ đá chỗ thì như hàng cột chạm rồng, chỗ như bầy voi phục; chỗ này là bàn thờ với đủ lư hương, cây đèn nến; chỗ kia là phòng khách có bàn ghế hẳn hoi... Phía trong cùng có tầng đá xếp ngang, leo lên đó mà nhìn thì cứ như đứng trên bao lơn của một hội trường. Lại thêm ánh sáng mặt trời chiếu vào hang, làm cho cái gì cũng biến thành năm sắc như ráng mây mà ta thường thấy ở chân trời lúc ban mai. Có lẽ do chính điều này mà hang thường được người xưa gọi là "Ngũ Thể Tường Vân động", tức là Năm Sắc Mây Lành.
Hạ Long không những chỉ đẹp mà còn là một vùng biển giàu có của nước ta. Đó là vùng than chạy từ Kế Bào đến Cẩm Phả dài chừng 200 ki-lô-mét. Trên các hòn núi có nhiều sơn cầm, dã thú như chim cu xanh, cu đất, gà ri, kỳ đà, chồn, sơn dương... Hải sản của Hạ Long có nhiều loại quý: bào ngư, trai ngọc, hải sâm, đồi mồi... Trên các hòn núi, có vô số loài cây thuốc đã và đang được khai thác. Người Quảng Ninh nói rằng, ai chưa biết hát bao giờ, đến Hạ Long sẽ biết hát; và ai chưa biết làm thơ, đến Hạ Long sẽ làm được thơ. Hạ Long kỳ diệu như thế đó.
Vùng núi hoa mẫu đơn
Non nước Tiên Du (Bắc Ninh) hôm nay vẫn còn đó, nhưng hình sông thế núi từ trăm năm cũ, đã được Đại Nam nhất thống chí ngợi ca: "Đoái trông có đất tốt Tiên Du, núi đẹp Phật Tích ứng thế, ở phương nam núi Phượng Lĩnh bọc vào, sông Ngưu Giang án đó, ngưng lại vuông tròn, nước trong leo lẻo huyền hư, núi cao vòi vọi sáng lóa. Bên trái mạch nước vòng quanh, bên phải núi trắng chầu phục".
Núi Phật Tích không chỉ là nơi giàu lịch sử về đạo Phật, mà còn là thắng cảnh du lịch. Cùng với đất tranh làng Hồ, đất của năm chục làng quan họ vớ những lời ca thương nhớ: "Người về em những khóc thầm - Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa". Cảnh sắc núi Phật Tích làm giàu thêm vùng Kinh Bắc văn hóa. Đường lên núi Phật Tích đẹp như tranh. Trèo lên 81 bậc đá bề thế, lên đỉnh núi lộng gió gặp bầu
trời rộng mở khoáng đạt tầm mắt. Đỉnh núi còn một khối đá vuông, mặt đá phẳng lì mát rười rượi. Tương truyền có chàng tiều phu tên là Vương Chất lên núi đốn củi, bắt gặp hai cô gái đẹp ngồi say sưa đánh cờ. Chàng ngả rìu mải mê xem nước cờ tiên. Tan cuộc, một cô gái tủm tỉm cười với chàng trai và bảo: "Kìa cán rìu đã mục rồi!". Chàng tiều phu vội vã nhìn xuống, thì đúng như vậy. Ngẩng lên, đã thấy hai cô gái bay bồng bềnh về nơi những đám mây trắng như bông. Vương Chất xuống núi, thì làng xóm đã đổi thay. Hỏi ra, đã bảy thế hệ trôi qua...
Tiên Du cũng là một trong những vùng đất mà người ta nói đã xuất xứ câu chuyện tình Giáng Tiên bén duyên Từ Thức vào mùa hoa mẫu đơn nở. Tận đến nay, Phật Tích vẫn là vùng trồng nhiều hoa mẫu đơn. Sườn núi, vườn nhà, sân nhà... mẫu đơn thắm thiết buổi xuân về. Khách du lịch đến Phật Tích vãn cảnh, thưởng hoa, bồi hồi nhớ về một vùng đất thơ mộng, với những công trình trải qua chín thế kỷ dâu bể, vẫn còn giữ lại những di tích quý.
Chùa Phật Tích xưa kia được xây dựng ở sườn nam núi Phật Tích. Đây là công trình kiến trúc, tạo hình nổi tiếng, quy mô đến ba trăm nhà. Tượng A Di Đà đá xanh là một tác phẩm
quý. Phật ngồi xếp bằng, tay vòng trước bụng, nét mặt đôn hậu. Nếp áo như sóng lượn, chứng tỏ nét tài hoa của bàn tay nghệ nhân. Cùng với tượng A Di Đà, còn có tượng Hộ Pháp, tượng Kim Cương và tượng đầu người mình chim. Những tượng ngựa, tê giác, sư tử... dáng vẻ sinh động, to như thật, bố trí hài hòa trên sân chùa. Trải qua các thời Lý, Trần, Lê đã có thời hưng thịnh được tu bổ và mở mang. Bấy giờ có lúc chỉ riêng số phục dịch, trông nom cũng đã đến bảy chục người. Vua Trần Nhân Tông vãn cảnh núi Phật Tích để lại tập thơ Bảo hoa dư bút, còn Chu Văn An viết những câu thơ man mác: "Tiếng sênh đâu vắng tá. Hiu quạnh vùng sông núi xưa...".
Qua những cuộc chiến tranh, nhiều công trình kiến trúc bị tàn phá hoặc bị hư hại, nhưng Phật Tích vẫn là một nơi đi về của những ai yêu mến đất tiên du ngoạn. Dòng sông uốn khúc, thế núi cheo leo, những lớp tường ghép của chùa bền vững với thời gian, những bức tượng còn sót lại, vẫn hấp dẫn lạ thường với khách du lịch gần xa.
HàNội - trái tim cả nước
Hà Nội là đất nghìn năm văn vật. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về đất này và gọi kinh đô là Thăng Long. Từ đó, Thăng Long là kinh đô của nước Đại Việt rồi Việt Nam.
Từ thuở mang gươm đi mở cõi,
Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long.
(Huỳnh Văn Nghệ)
Đó chính là nỗi lòng của mọi người Việt Nam đã gắn bó tâm hồn mình với một mảnh đất cội nguồn hằng gìn giữ bao dấu tích về quá trình trưởng thành của dân tộc.
Từ năm 1010 đến cuối thế kỷ 18, Thăng Long có lúc gọi là Đông Đô (đời Hồ), Đông Kinh (đời Lê). Sang đầu thế kỷ 19, nhà Nguyễn dời đô vào Huế. Thăng Long trở thành trấn lỵ của trấn Bắc Thành (tương đương miền Bắc ngày nay). Năm 1831, đời Minh Mạng bỏ các
trấn, lập ra các tỉnh, thì Thăng Long thành tỉnh lỵ của tỉnh Hà Nội.
Hà Nội là nơi gặp gỡ của nhiều đầu mối giao thông. Và Hà Nội có nhiều danh lam thắng cảnh: núi Voi, núi Trúc (phía trên vườn Bách Thảo), núi Lài (gần Cổ Loa), gò Thất Linh (gần lò bát Thanh Trì cũ), sông Hồng, hồ Thuyền Quang, hồ Bảy Mẫu, hồ Hoàn Kiếm, hồ Trúc Bạch, hồ Tây.
Thăng Long vốn là đất của sông và hồ. Nhiều phố của Hà Nội ngày nay là hồ nước của Thăng Long ngày xưa. Sông Hồng chuyển dòng để lại một đoạn dòng làm "tặng vật", đoạn dòng cũ ấy chính là hồ Hoàn Kiếm. Hồ Hoàn Kiếm xưa rộng mênh mông, giữa hồ có hòn đảo Ngọc Sơn (gọi tắt là đảo Ngọc) vốn là một doi đất giữa sông xưa. Thuở trước hồ Hoàn Kiếm rộng mãi tới Hàng Đào, và có tên là Lục Thủy, bởi nước hồ bốn mùa xanh ngắt. Tới thế kỷ 15, hồ có tên Hoàn Kiếm do sự tích Lê Lợi trả gươm. Chuyện kể rằng Lê Lợi khi còn ở Lam Sơn có bắt được một thanh gươm. Gươm ấy luôn ở bên ông trong suốt mười năm chinh chiến. Khi dẹp xong giặc Minh, vua Lê về Thăng Long, một hôm ngự thuyền dạo trên hồ Lục Thủy, bỗng có con rùa nổi lên. Nhà vua rút gươm ra trỏ thì rùa liền đớp ngay thanh gươm rồi lặn xuống. Như vậy là vua trả gươm cho trời. Chính vì lẽ đó hồ có tên là Hoàn Kiếm, gọi tắt là hồ Gươm. Sau thủy quân dùng hồ này làm nơi luyện tập nên có thêm tên là Thủy Quân Hồ.
Ngày nay, khu vực quanh hồ, đã thành tên là Bờ Hồ, là nơi người Hà Nội dạo chơi, đón gió ngày hè.
Hà Nội có hồ Tây ở giữa tây bắc thành phố, rộng tới năm trăm héc-ta. Người ta cho rằng hồ này là một đoạn sông Hồng cũ còn sót lại sau khi đổi dòng. Nhưng theo sự tích Hồ Tinh thì đây là hồ Xác Cáo. Chuyện rằng, nguyên nơi này là núi đồi, có con cáo tu luyện nghìn năm tới trú ẩn và làm hại người. Long Thần dâng nước phá hang cáo, bởi thế đất sụt thành hồ vùi chôn xác cáo. Còn theo sự tích Tiếng chuông đồng đen thì hồ có tên là hồ Kim Ngưu. Đồng đen là mẹ vàng cho nên khi đánh chuông, tiếng chuông ngân vang sang Tàu, Con trâu vàng bên Tàu nghe, liền vùng chạy đi tìm. Tới đây nó quần mãi nên đất sụt thành hồ, thế rồi nó ẩn ở dưới hồ. Thời Lý, Trần hồ này đi vào lịch sử với tên Dâm Đàm(1) tức mù sương. Thuở ấy nơi đây còn rậm rạp, cây cối
um tùm, còn có cả mãnh thú như hổ, báo... Sang đời Lê mới đổi tên là Hồ Tây.
Hồ Tây là thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội. Từ thời Lý, Trần, các vua chúa đã lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát, giải trí như cung Thúy Hoa, điện Hàm Quang (nay là chùa Trấn Quốc), cung Từ Hoa (nay là chùa Kim Liên làng Nghi Tàm)... Từ lâu, Hồ Tây đã
đ
i vào thơ ca lộng lẫy:
... Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Thế kỷ 16, ông nghè Thái Thuận, nhà ở mé
bờ nam hồ, từng có thơ vịnh Hồ Tây (lời dịch):
Sớm theo Cửa Bắc chuông cùng dậy, Chiều đợi Hồ Tây chim rủ về.
Thế kỷ 18, Nguyễn Huy Lượng đã làm nên bài phú bất hủ: Tụng Tây Hồ phú.
Ngày nay, nhà thơ Tố Hữu cũng có những vần thơ ngợi ca vẻ đẹp Hồ Tây:
Đêm qua trăng sáng Cổ Ngư,
Trăng đầy mặt nước, trăng như mặt người. Trăng tươi mặt ngọc trên trời, Ngẩn ngơ trăng ngó mặt người như trăng.
Mồng năm Tết năm Kỷ Dậu (1789), sau trận đại thắng Đống Đa, đánh đuổi quân Thanh, Nguyễn Huệ cùng một số tướng lĩnh đi chơi xuân Thăng Long để thưởng thức cảnh đẹp đất đế đô ngàn năm văn vật. ạng đi quanh hồ Tây, đến tận Nghi Tàm, Nhật Tân xem cành đào, giò quất.
Các bô lão nghênh đón vị khách phương Nam lừng lẫy chiến công. Các cụ biếu Nguyễn Huệ và các tướng đi theo những cành đào tuyệt đẹp. Nguyễn Huệ ngắm hoa rồi xúc động nói:
- Hoa đào đúng là mùa xuân điểm tô cho cảnh sắc Thăng Long đã đẹp càng thêm đẹp.
Dạo quanh hồ Tây, lúc về, một viên quan tâu với Nguyễn Huệ: - "Tây" Hồ trùng với tên "Tây" Sơn khi dùng
để
chỉ triều đại mới, nay xin được đổi tên. Nguyễn Huệ lắc đầu gạt đi:
- Tây Hồ là cảnh đẹp đầy tự hào của đất
Thăng Long, Bắc Hà. Phải giữ nguyên! Khách Tây Sơn, cảnh Tây Hồ là duyên kỳ ngộ, cảnh chẳng phụ người sao người lại phụ cảnh!
Nằm trong lòng hồ Tây có Nghi Tàm khoáng đạt, đẹp một vẻ đẹp thiên nhiên. Người xưa đã liệt danh tám cảnh đẹp Tây Hồ thì Nghi Tàm đã chiếm hai. Đó là Bến Trúc Nghi Tàm và Đồng Bông Nghi Tàm. Trong thơ Nguyễn Huy Lượng, cảnh Nghi Tàm vẫn đầy sức sống:
Chày Yên Thái nện trong sương loảng choảng,
Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co.
Hà Nội có quảng trường Ba Đình. Có nhà sàn, nơi ở và làm việc của Bác Hồ. Có lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh, nơi yên nghỉ vĩnh hằng của vị Cha Già vô vàn kính yêu của các dân tộc Việt Nam.
Cúc Phương Vùng đất rừng quý giá
Cúc Phương mang trong lòng một bộ sưu tập của nhiều thế kỷ về sinh cảnh thiên nhiên; vừa phong phú, thơ mộng lại vừa hùng vĩ. Hãy nên ít nhất một lần đến với Cúc Phương.
Với diện tích hơn 250 ki-lô-mét vuông, nằm gối trên địa phận của ba tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa, rừng nguyên sinh Cúc Phương còn đủ tính chất khu rừng nhiệt đới năm tầng, giàu có về động vật, thực vật nhiệt đới một cách kỳ lạ. Những dải đá vôi bao quanh trùng trùng điệp điệp, mây sớm sương chiều đã tạo khung cảnh bề thế cho khu "vườn" bao la này. Cảnh quan Cúc Phương hấp dẫn du khách với tất cả sự phong phú của nó. Hơn hai trăm loài thực vật bậc cao với nhiều thế hệ khác nhau là nơi họp mặt điển hình của các loài thực vật vùng Đông Dương. Cúc Phương cũng quy tụ một luồng thực vật di thực từ vùng
nhiệt đới khô ấn Độ, Mi-an-ma đến "sinh cơ lập nghiệp" trong khu vườn mênh mông này.
Bộ sưu tập thực vật của vườn quốc gia này khó mà kể hết tên cỏ cây. Những tên gọi quen thuộc ở xứ sở quê ta: kim ngao, chò, gie, giẻ, mun, cẩm hương, táu, gụ... Du khách đến Cúc Phương không chỉ ngắm nhìn cảnh đẹp mà còn gặp những cổ thụ lạ. Leo lên sườn núi, luồn lỏi qua những ngách đá lô nhô, ta bắt gặp cây chò nghìn tuổi cao hơn 50 mét sừng sững ngút trời xanh, gốc rộng 16 người ôm mới xuể. Còn cây chò chỉ, cao tới 70 mét, thân lớn dựng đứng 60 mét xòe tán lá một vùng, cũng đến tuổi 1000 năm. Cây kim giao bên đường mòn, thân gốc xù xì cổ kính. Gỗ kim giao đi vào câu chuyện huyền thoại: đũa ăn tiện từ gỗ quý này có thể phát hiện ra thức ăn bị nhiễm độc. Khách thăm vườn hôm nay, khi ra về được tặng hoặc mua vài đôi đũa chuốt từ gỗ kim giao làm kỷ niệm cuộc "hành hương" về thăm rừng nguyên thủy. Còn cây gù hương kia, một vùng bao quanh thơm ngát hương đưa, và cây sấu cổ, thân bạnh ra xù xì như thành quách rêu phong, vòng gốc 60 mét, ngang tuổi cây chò.
Càng đi sâu vào rừng, càng trập trùng cây lá. Dây leo quấn quít, khi như những con trăn uốn lượn, khi tỏa ra như những vòi bạch tuộc. Càng lên cao, càng thấy ngợp mắt bởi những đỉnh núi ngút ngàn và hùng vĩ. Đây là đỉnh Mây Bạc, bốn mùa mây trắng như bông bao phủ, còn đây là đỉnh Kim Giao bồng bềnh trong sương và hơi núi, gió lộng quanh năm. Mùa mưa mùa nắng, hoa rừng nở bên bờ khe, trên thảm cỏ. Đặc sắc nhất là phong lan. Có đến 50 loài phong lan quý. Nhiều loài màu sắc kỳ lạ. Có loài nở hoa cả bốn mùa. Những chùm phong lan treo trên cành cao như những chùm đèn, sáng cả một góc rừng. Và bướm lạ bay về. Không biết hoa nhiều hay bướm nhiều nữa. Những đàn bướm khổng lồ, sặc sỡ đủ màu bay lượn trong nắng. Có lẽ, trong các bộ côn trùng, thì bướm là bộ đặc sắc nhất. Những loài bướm mang tên thơ mộng như bướm "nàng tiên", bướm "phượng hoàng", màu sắc, hoa văn của cánh bướm làm say mê cho những ai sưu tập về loại côn trùng này. Cũng không ở đâu phong phú động vật như ở Cúc Phương. Hơn hai trăm loài động vật có xương sống, trong đó chim chiếm đến 140 loài, thú 64 loài, bò sát 36 loài, còn lại 17 loài lưỡng thê và một số loài cá. Những động vật quý hiếm là niềm vui cho các nhà khoa học hiện đại nghiên cứu: cu li, lợn rừng, hươu sao, cheo cheo, vẹc quần trắng,
chồn, trăn gấm, báo gấm, sơn dương, khỉ vàng, tắc kè, phượng hoàng đất, gà lôi, chim trĩ, công... Đặc biệt hai loài động vật còn lại rất hiếm ở các nước là sóc bay và thằn lằn bay. Sóc bay có bộ cánh là màng da mỏng căng bởi bốn chân, từ trên cao lấy đà lượn xuống thấp. Đường bay có thể vài trăm mét, luồn lách khéo léo qua các dây leo chằng chịt và những thân cây san sát. Thằn lằn bay ở Cúc Phương màu xanh mướt, cánh như sóc bay. Khách dễ lầm tưởng là những chiếc lá liệng từ những lùm cây rậm là là giữa tầng không. Chim Cúc Phương mỗi buổi sớm mai hay chiều buông hót vang lừng làm thành một dàn ca bách thanh sống động. Những chim vẹt lộng lẫy, những vàng anh thanh tao không hiếm ở vùng đất vườn quốc gia này.
Cúc Phương mang trong lòng cả những suối nước nóng. Con suối Thường Xung nước nóng đến hơn 37 độ C là một dòng chảy quý giá của vườn rừng này. Cúc Phương không chỉ tồn tại sinh cảnh động, thực vật tươi sống, mà còn giữ nguyên những di chỉ hoang sơ của đất nước. Những hang động kỳ thú với nhũ thạch mơ mộng như trong thần thoại. Bản thân tên các hang động cũng làm bất cứ ai chẳng quản ngại ngần chân cứng đá mềm vãn cảnh: động Trăng Khuyết, động Vui Xuân, động Chua, động Thành Minh, động Con Moong... Riêng động Người Xưa (hang Đăn) đường vào vòng vèo, cheo leo và leo cao 223 bậc thang, đến nơi gặp gió hun hút, tạo dựng không gian sinh sống của người cổ xưa thời đồ đá. Những chỗ ăn ngủ, trú mưa, tránh nắng còn đây, vết tích một số đồ dùng hơn 7000 năm cũ còn đó, như ba ngôi mộ cổ, như tầng vỏ sò ốc, như rìu, nạo, sao không làm rung động người đời sau? Du khách ham chuyện dã sử, sẽ được người dân địa phương niềm nở kể chuyện sự tích Quèn Voi. Truyền thuyết xưa đã nhắc đến thuở người anh hùng Quang Trung hành quân ra Bắc đánh giặc ngoại xâm, đã cùng binh sĩ và đàn voi trận nghỉ chân ở nơi đây. Vết chân voi còn như in dấu một thời chinh chiến, trên thảm cỏ, trên bờ khe, nên dân chúng đặt tên là Quèn Voi.
Cúc Phương, một vùng đất rừng biết bao quý giá, mang trong lòng cả một bộ sưu tập của nhiều thế kỷ về sinh cảnh thiên nhiên.
Trong lòng biển Việt Nam
Vùng biển Việt Nam bao quanh phần lục địa phía đông và nam nước ta, có bờ biển dài hơn 3260 ki-lô-mét, với diện tích rộng hơn một triệu ki-lô-mét vuông.
Nguồn lợi khoáng sản biển của ta có nhiều loại, hiện nay còn chưa đánh giá được đầy đủ, nhất là khoáng sản đáy biển và nguồn muối, nguồn năng lượng thủy triều vô tận...
Dầu khí đã được tìm thấy trong các bồn trũng ở thềm lục địa phía Nam, ở độ sâu không lớn, thuận lợi cho khai thác; một số khu vực được coi là có triển vọng như ở vịnh Bắc Bộ và ven bờ miền Trung.
Sa khoáng ven biển đã phát hiện thấy ở nhiều nơi; các mỏ lớn và trung bình trữ lượng ước tính từ vài chục nghìn tới vài triệu tấn tập trung nhiều ở miền Trung. Các khoáng sản phi kim loại với trữ lượng lớn, có giá trị nguyên liệu công nghiệp và vật liệu xây dựng nằm ở ven biển miền Trung như cát thủy tinh, pha lê có chất lượng tốt. Ngoài ra, còn có cao lanh, đá quý, đá xây dựng. Những mỏ than bùn trữ lượng lớn hàng triệu tấn có ở ven biển Nam bộ. Các khoáng sản nội sinh như sắt, vôn-phơ-ram, mô-líp-đen đã phát hiện thấy ở ven biển Hà Tĩnh, Khánh Hòa, Bình Thuận.
Nguồn lợi hải sản vùng biển nước ta bao gồm cá biển và các đặc sản biển nhiệt đới. Thành phần cá khai thác bao gồm cá tầng trên, cá tầng gần đáy và đáy, trong đó có các loại cá bản địa như cá trích, cá nục, cá cơm, cá hồng, cá phèn, cá mối, cá lượng... và cá di cư theo mùa từ vùng khơi vào như cá ngừ, cá thu, cá chim, cá nhám...
Thường gặp ở vùng biển nước ta có cá nhám hoa, cá nhám chó dài từ một đến hai mét. Những loài cá nhám lớn thường được gọi là cá mập. Cá mập lam có thể dài tới tám mét, lưng màu lam đen, bụng trắng. Cá mập trắng dài tới mười mét. Cát Bà, Nha Trang, Hà Tiên... là những nơi cá nhám và cá mập thường xuất hiện.
Cá nhám và cá mập là nguồn lượng kinh tế quan trọng. Thịt cá nhám ăn được. Gan cá nhám rất lớn, chiếm từ 10 đến 15% trọng lượng
cơ thể cá và có tới 50% dầu. Dầu này rất giàu vi-ta-min A và D. Vây cá nhám là mặt hàng cao cấp, các tia vây là thức ăn quý hiếm, được khách sành ăn ưa chuộng.
Bờ biển nước ta có nhiều loài cá nóc. Trong gan và ruột nhiều loài cá nóc chứa một chất độc chết người, gọi là chất tê-tơ-rô-đô-tô-xin. Các bác sĩ dùng chất tê-tơ-rô-đô-tô-xin để gây tê tại chỗ, giúp người bệnh nằm trên bàn mổ chịu được những cơn đau trong lúc phẫu thuật.
ở
nhiều nước trên thế giới hiện nay người ta
đ
ang nghiên cứu chất tê-tơ-rô-đô-tô-xin để chế
biệt dược điều trị các khối u.
Tôm biển là nguồn lợi quan trọng thứ hai sau cá. Ngoài tôm he, còn có tôm hùm, tôm moi, tôm võ.
Nhiều loài cua biển được dùng làm thức ăn hàng ngày. Người ta đã chiết ra được chất sa-xi-tô-xin từ một số loài cua biển. Việc sử dụng chất này đang ở giai đoạn thử nghiệm, nhất là hướng điều trị các khối u ác tính.
Trong các đặc sản có thể kể: trai ốc biển, rùa biển, hải sâm, mực biển.
Các vùng biển của ta như Cô Tô, Vĩnh Thực, Cát Bà, Biện Sơn, Hòn Mê, Hòn Mát, Côn Đảo... có nhiều trai ngọc. Trai ngọc sống ở vùng đảo Cô Tô là loài cho ngọc trai có chất lượng cao.
Trai ngọc thích sống ở vùng biển nước mặn, giàu rạn đá và đảo san hô. Trong các vùng đá san hô người ta thường gặp loài trai khổng lồ. Loài trai này vỏ có thể nặng vài chục ki-lô-gam và dài gần một mét, lớn nhất hiện nay.
Các sản phẩm của trai ngọc đều có giá trị. Thịt trai là một thứ thực phẩm quý. Vỏ trai dùng khảm đồ mỹ nghệ. Và ngọc trai óng ánh nhiều màu sắc đẹp, vừa dùng làm thuốc vừa là vật báu làm đồ trang sức.
Bào ngư sống suốt dọc bờ biển, những nơi có rạn đá ngầm, có nơi chúng tập trung thành bãi lớn như bãi Cô Tô (Quảng Ninh), bãi Kỳ Lợi (Kỳ Anh, Hà Tĩnh).
Bào ngư là một hải sản có vị ngon ít loài sánh kịp. Về giá trị dinh dưỡng, người ta cho rằng bào ngư là một trong những đặc sản đứng đầu hải vị.
Vỏ bào ngư còn có tên là cửu khổng, vì mỗi chiếc vỏ có một hàng từ bảy đến mười ba lỗ, nhưng thường là chín lỗ thông khoang áo, như chín ô cửa sổ, mở ra thông với môi trường nước bao quanh, đó là chỗ để cho bào ngư thở. Vỏ bào ngư là một vị thuốc làm sáng mắt.
Nhiều người còn gọi thạch quyết minh, nghĩa là chất đá làm sáng mắt.
Nhiều đảo và quần đảo của ta có đồi mồi. Từ tháng năm tới tháng mười là mùa gió tây -nam thổi mạnh, dịp này về đêm trăng thường sáng vằng vặc, đồi mồi hay lên đảo đẻ trứng. Những con đồi mồi mai dài tới 80 hay 90 cen-ti-mét thi nhau ngoi từ dưới nước lên, lết tấm thân nặng nề vào sâu trong bãi cát đào hố để đẻ. Đồi mồi thường lấy chân bới cát thành hố, đẻ trứng vào rồi lại bới cát lấp lại. ở trứng đồi mồi vùi trong cát được mặt trời ấp nóng, chỉ sau vài ba chục ngày là có một đàn hàng trăm đồi mồi con ra đời.
Thịt đồi mồi nướng có vị ngon đậm đà của thịt bò thui chấm tương gừng. Có người đã từng ví thịt đồi mồi ăn mềm như thịt gà và đậm ngọt như thịt trâu. Trứng đồi mồi trắng bóng, tròn xoe như quả bóng bàn, ngon như trứng gà. Ngoài giá trị sử dụng thịt và trứng, đồi mồi còn cho vảy sừng có vân nâu rất đẹp dùng làm đồ mỹ nghệ, làm thuốc.
ở biển Việt Nam đồi mồi có từ vịnh Bắc Bộ tới đảo Phú Quốc.
Hô-lô-tu-ri-a là giống hải sâm gồm nhiều loài sống ở bờ biển nước ta. Hiện nay đã biết hàng chục loài; phổ biến nhất trong vịnh Bắc Bộ là loài hải sâm hmác-ten-si sống ở vùng nước dưới triều.
ở Việt Nam, Nhật Bản và Trung Quốc hải sâm từ lâu đã là món ăn quý, chẳng thế mà hải sâm được liệt vào hạng hải sản tiến vua. Người ta ví hải sâm không kém nhân sâm, có tác dụng bồi bổ và kéo dài tuổi thọ...
Từ loài hải sâm sti-cô-pút da-pô-ni-ca, người ta đã chiết xuất ra chất hô-lô-tô-xin đầy hứa hẹn trong điều trị các khối u ác tính.
ở biển Việt Nam có khoảng tám loài bạch tuộc phổ biến, trong đó thường gặp nhất là loài óc-tô-pút vun-ga-rít. Bạch tuộc là một động vật dữ, chuyên ăn thịt. Chúng thường kín đáo ẩn trong các hốc đá dưới đáy biển, nhanh như cắt bắt các loài cua, cá... làm thức ăn.
Từ loài bạch tuộc óc-tô-pút vun-ga-rít người ta lấy ra được chất óc-tô-pa-min có tác dụng gây mê. Một hoạt chất có tác dụng trị bệnh rối loạn nhịp tim đã được tách ra từ một số loài bạch tuộc.
Một nguồn lợi sinh vật biển có tiềm năng quan trọng là các hoạt chất sinh học có thể chiết xuất từ nhiều loại sinh vật biển (san hô, sam, sao biển...) là những chất có giá trị chữa
bệnh, hiện đang được chú ý tìm kiếm, sử dụng trên thế giới.
San hô là những động vật sống ở biển; chỉ có một số ít loài sống đơn độc, còn hầu hết chúng sống thành tập đoàn. ở dạng tập đoàn, phần dưới cơ thể san hô bám vào tập đoàn. Còn san hô đơn độc có chân đế để bám.
Những san hô sống đơn độc, cơ thể mềm mại suốt cả cuộc đời, vì thiếu bộ xương đá vôi. Trong bộ này có hải quỳ hình dạng cơ thể đẹp như đóa hoa đang độ nở, có tính chất đối xứng đều và có màu sắc tuyệt đẹp. Sắc màu tuyệt mỹ của san hô là do kết quả của cuộc sống chung đẹp đẽ giữa loài trùng roi và san hô, đã tô vẽ cho lòng biển vùng nhiệt đới này thêm rực rỡ.
Các loài san hô thuộc san hô sừng có bộ xương rất giàu i-ốt, từ lâu chúng đã được khai thác dùng làm thuốc.
Từ loài san hô ô-mô-ma-la có nhiều ở các vùng biển nhiệt đới, người ta đã chiết ra được các kích thích tố có thể dùng làm thuốc chữa nhiều chứng bệnh.
Sam sống ở ven bờ biển nước ta và các đảo lân cận. Ta thường gặp sam vào khoảng tháng bảy, tháng tám. Đó là thời kỳ sam dồn dập lên bãi biển sinh sản. Vào mùa sinh sản của sam, dân đi bắt sam thường bắt được cả đôi, vì lẽ
đó
có câu "yêu nhau như vợ chồng sam".
Vùng biển của ta hiện nay đã ghi nhận hơn
sáu chục loài sao biển. Chúng là loài vật ăn thịt, thức ăn của sao biển là cá hoặc trai ốc. Mồi bé chúng nuốt cả con. Còn với mồi lớn, chúng lộn dạ dày ra ngoài và quá trình tiêu hóa tiến hành ở ngoài cơ thể.
Sao biển là một hải sản quý, dùng để chế biến món ăn.
Từ sao biển, người ta đã chiết xuất ra được chất kích thích tính miễn dịch, có thể kích thích những yếu tố bảo vệ miễn dịch của cơ thể, đóng vai trò cốt lõi trong bệnh học ung thư và các bệnh nhiễm.
Nguồn lợi trong nước biển còn phải kể đến muối biển, hàng năm có thể khai thác tới vài chục vạn tấn. Các vùng muối quan trọng của ta hiện nay ở Hải Hậu, Bằng La, Hậu Lộc, Quỳnh Lưu, Sa Huỳnh, Cam Ranh, Cà Ná.
Yến sào miền Trung
Dọc theo duyên hải miền Trung, ngoài tôm cá còn có một thứ sản vật quý giá hơn cả trầm hương, đó là yến sào hay yến ca, mà ta thường gọi là tổ yến.
Chim yến bay về làm tổ ở nhiều hòn đảo thuộc các tỉnh Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Nam không biết từ bao giờ và mang lại đặc sản hiếm có ở nước ta. Khánh Hòa có hàng chục đảo chim yến về làm tổ, nhiều nhất là ở Hòn Nội và Hòn Ngoại (Nha Trang). Yến sào Khánh Hòa chiếm 85% sản lượng của cả nước với mức thu hoạch hàng năm khoảng gần 3000 ki-lô-gam. Kế đó là Bình Định chiếm 9%, tập trung ở bán đảo Phương Mai (Quy Nhơn) và Quảng Nam chiếm 6%, tập trung ở đảo Cù Lao Chàm (Hội An).
Những cái tên như tổ yến, yến ca, yến sào nhiều người được nghe, nhưng chẳng mấy ai được thấy, càng hiếm người được ăn. Người dân Khánh Hòa tự hào về quê hương mình:
Yến sào Hòn Nội Vịt lộn Ninh Hòa Tôm hùm Bình Ba Nai khô Diên Khánh Sò huyết thủy triều ạ Loan
Đời anh cay đắng đã nhiều
Có em ngon sớm ngọt chiều cùng nhau...
Cái tổ yến bé nhỏ, quý giá ấy nặng không quá 10 gam mà nổi tiếng qua các thời Đinh, Lê, Lý, Trần... Các văn nhân thi tài ai chiếm khôi nguyên đỗ đạt thì có thể được phong trạng; quan trạng lĩnh mũ áo xong được vua ban tiệc yến giữa triều.
Vua chúa thời xưa, khi chiêu đãi đều lấy yến sào làm món ăn đầu sổ. Vậy yến sào là chất gì mà cao sang vậy? Có người cho là chim yến ăn tảo biển tiêu hóa không hết dành làm tổ. Có người hiểu chim lấy nhựa từ tảo biển làm tổ. Còn người miền Trung nói rằng tổ yến chính là nước dãi do tuyến hàm của chim mẹ tiết ra, kéo thành những sợi nhỏ như sợi miến cuộn lại thành chiếc nôi nuôi con. Khi chim bị tổn thương thì máu sẽ lẫn với nước dãi và tạo thành huyết yến hiếm và quý. Trên một đảo yến, một vụ chỉ thu được 2-3 ki-lô-gam huyết yến là cùng. Khi khô thì tổ yến giòn và nháp, nhưng ẩm thì mềm. Đáy tổ rải đầy lông lấy ở cổ và ngực của chim bố mẹ. Mỗi lứa chim yến đẻ 2 trứng và ấp suốt ngày đêm.
Tổ yến là sản phẩm quý. Ngoài việc dùng làm món ăn cao sang, tổ yến còn được dùng làm thuốc bổ dưỡng, chữa gầy yếu, ho hen, lao, thổ huyết. Ngoài tổ yến người ta còn dùng phân của chim yến làm thuốc giải độc (phân tươi sao lên, giã với hành củ rồi viên thành viên to bằng hạt ngô; mỗi lần uống ba viên sẽ làm cho đi tiểu nhiều, thải ra các chất độc). Những con chim yến chết trong tổ, xác của chúng đã cứng khô, được dùng làm thuốc chữa ho lao và yếu phổi. Còn thịt chim yến cũng được dùng làm thuốc thải chất độc, chữa loét hậu môn và ghẻ.
Chim yến được gọi là yến biển để phân biệt với loài én đất thường làm tổ trên các tán cây cao. Chim yến dài 13-15 cen-ti-mét, có cánh rất dài, bay rất nhanh, có thể vượt 40 ki-lô-mét trong một giờ. Khi bay luồn lách các khe núi chim cũng không cần giảm tốc độ. Chim yến không đi được trên mặt đất, chỉ leo trèo ở các vách núi đá, nơi chúng thường làm tổ. Lông phủ thân mình chim yến màu xám, lông cánh và đuôi màu đen, bởi thế, người ta còn gọi chim yến là huyền điểu - chim đen.
Chim yến làm tổ trên các vách đá cao và nhẵn, vòm hang động hiểm trở, trên những hòn đảo kín đáo ngoài khơi. Chúng thường bay thành đàn trên biển khơi, hoặc là là trên mặt
nước để hút bọt biển, đớp tảo biển. Chúng bay đi tìm mồi và làm việc suốt ngày đêm, miệng kêu inh ỏi.
Cuối mùa xuân, chim yến làm xong tổ. Và mùa lượm tổ yến bắt đầu từ đó. Chim yến mất tổ còn thời gian làm lại tổ khác, song đợt lượm sau này kém vụ đầu.
Tổ yến được phân loại như sau:
- Mao yến là trong tổ có nhiều lông chim yến.
- Quan yến hay bạch yến là tổ làm lại lần thứ hai, màu trắng.
- Thiên tự yến có màu vàng.
- Địa tự yến có màu xám, hơi nham nhở xù xì.
- Yến bài là tổ yến đang làm dở dang.
- Huyết yến là do chim bị tổn thương lúc làm tổ, có lẫn máu với nước dãi.
Lấy xong tổ yến, đưa vào đất liền đem ngâm trong nước nóng, thể tích nước gấp mười lần thể tích tổ yến. Chờ 1-2 giờ sau, tổ yến sẽ nở to ra. Dùng dầu lạc xoa cho rụng hết lông; rồi rót nhiều nước nóng vào, dầu nổi lên lôi theo các tạp chất. Gạn nước nhiều lần, xong dùng kẹp gắp hết lông. Khi đã nhặt sạch lông, vắt hoặc ép cho ra hết nước; làm nhiều lần như vậy cho tới khi nước vắt, ép ra khỏi tổ yến thật trong sạch.
Khai thác tổ yến rất kỳ công và nguy hiểm vì chúng thường nằm cheo leo trên vách cao trong hang động. Người ta phải đốt đuốc, dùng thang mây dài hàng trăm mét thả từ trên đỉnh núi xuống, rồi tụt xuống hay leo lên lấy tổ yến.
Tổ yến là một món ăn được ưa chuộng ở nhiều nước trên thế giới. Ngày nay tổ yến rất có giá. Một ki-lô-gam tổ yến xuất khẩu loại xấu nhất cũng được hơn 1000 USD, tốt nhất hơn 3000 USD. Mỗi ki-lô-gam khoảng 100-120 tổ. Chính vì vậy mà tổ yến được xem như "vàng trắng" của miền Trung.
Nguồn http://www.nxbkimdong.com.vn
Chiều đông đường quạnh nắng mong manh
Có kẻ tha hương bước độc hành
Dừng chân ngơ ngẩn nhìn mây trắng
Chợt nhớ quê nhà mắt long lanh!
My site
Có kẻ tha hương bước độc hành
Dừng chân ngơ ngẩn nhìn mây trắng
Chợt nhớ quê nhà mắt long lanh!
My site