Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Nhờ các bạn đánh dùm Truyện Hàn Phi Tử 🔒

82 trả lời, 15.248 lượt xem — Trang 3 / 3
có bản đánh máy nào cần đánh thì mail cho mình nhé! mình sẽ giúp mọi người 1 tay!
 
Email: toandung04@gmail.com
0
mình đã mail cho Ct.Ly Hàn Phi Tử phần 38 rồi đấy! 
NL
0
Cảm ơn au hai trang nhiều nhé
0
Mình đã gõ xong phần đầu "Gieo gió gặt bão" rồi, gửi qua mail cho ct.Ly rồi nhé![:)]
NL
0
Đã gửi cho sno rồi đấy
0
Mình đã nhận được mail. Mình sẽ tranh thủ đánh rồi gởi lên nhé.
[;)]
0
Đây là lần đầu mình đánh máy. Có phải là đánh vào file word rồi upload lên hay ko? và có cần đánh giống hoàn toàn với file scan ko? thế thì gay quá mình không biết làm thế nào với phần chú thích các chữ số bên dưới mỗi trang. hy vọng được giúp đỡ.
Mình định gửi file word mình đã đánh nhưng sao không upload được vậy??
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-09 10:04:01Ct.Ly>
Chào tuyenduong

TD cứ copy word, xong post vào trong topic hàn phi tử đấy

Còn chữ Trung Hoa thì chắc để HuyTran tự hiệu đính thôi

Cảm ơn TD nhé

Đánh máy nhanh ghê [8D]

Mấy ghi chú ở hàng dưới, Tuyên Dương nên đánh luôn, cho độc giả đọc dễ hiểu , vì đây là một cuốn sách về cổ văn, nên văn chương đôi khi cũng khó hiểu
0
Mình cũng muốn tham gia đánh máy truyện nhưng ko biết nhận truyện để đánh ở đâu, các Mod vui lòng giúp đỡ giùm. Thanks!
0

Chào bạn vickypham đến với gia đình VNTQ

Nếu vicky muốn góp sức với nhóm hiệp sĩ thì cho Ct.ly xin địa chỉ email nhé

Ct.Ly sẽ gửi bản scan đến vicky

Cảm ơn và chúc vickypham luôn vui mỗi khi online
0
Mình nhận đánh "Vở kịch Bản chúc thư" của tác giả J.M. Barrie nha
Thấy vở kịch này ngắn nên mình đánh hết luôn nhé.

0
Cảm ơn nerissa nhiều nhé

Chúc vui
0
Mình cũng vừa gia nhập ngôi nhà VN thư quán, mình cũng xin tham gia đánh  máy truyện, truyện gì cũng được hết. Email của mình đây: [email=bienvaanh3011@yahoo.com]bienvaanh3011@yahoo.com[/email]
Hy vọng sẽ góp 1 chút sức cho vnthuquan, cũng như sẽ được đọc nhiều sách hay.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-02-24 23:43:49Ct.Ly>
Đã gửi email cho uthoiemve rồi

Chúc vui
0
Mình muốn đánh máy truyện Hàn Phi Tử. Bạn gửi minh bản scan phần cần đánh nha.

Hạt Hướng Dương
0

Chào hạt hướng Dương

Bạn quên để lại địa chỉ email, thì làm sao gửi đây
0
THIÊN XXXIX
NẠN TỨ (Trích)
(BIỆN NẠN – IV)
          Thiên này gồm bốn tiết và khác với ba thiên trên ở chỗ sau lời phê bình lại dẫn thêm một lời phê bình lời phê bình đó - đều của Hàn Phi - để bác ý kiến trên hoặc xét thêm một khía cạnh nữa của vấn đề.
*
1 -  Bề tôi và vua nên giữ phận mình. Lược bỏ
2 - Vua nên sáng và nghiêm.
Dương Hổ nước Lỗ muốn đánh Tam Hoàn (ba đại phu trong công thất Lỗ, con của Lỗ Hoàn Công: Mạnh tôn, Thúc tôn và Quí tôn) không được, phải trốn qua Tề, Tề Cảnh Công lấy lễ tiếp đãi. Bão Văn tử can: “Không nên, Dương Hổ được họ Quí yêu mà lại đánh Quí tôn, là vì ham sự giàu có của họ ấy. Nhà vua giàu có hơn Quí tôn và nước Tề lớn hơn nước Lỗ, Dương Hổ sẽ còn hết sức gian trá nữa”. Cảnh Công bèn bỏ tù Dương Hổ(1)
Có người bảo:
Nhà có ngàn vàng thì con cái bất nhân, vì họ quá gấp mưu lợi. (Tề) Cảnh Công đứng đầu trong ngũ bá. (mới đầu) tránh nước mà giết anh là vì cái lợi quá lớn. Giữa vua tôi không có tình anh em ruột thịt. Trong việc cướp quyền giết vua, chế ngự một nước vạn cỗ xe để hưởng cái lợi lớn thì bề tôi nào chẳng là Dương Hổ. Việc làm hễ tinh tế, khéo léo thì thành, sơ suất, vụng về thì thất bại. Bề tôi chưa khởi loạn là vì dự bị chưa đủ. Nhưng bề tôi nào cũng có cái lòng (cướp ngôi) như Dương Hổ mà vua không biết, là vì việc làm của họ tinh tế, khéo léo. Dương Hổ vì tham muốn đánh bề trên, mà để cho thiên hạ biết được là do hắn sơ suất, vụng về. (Không khuyên Cảnh Công trừng phạt bọn bề tôi gian xảo của Tề(1) mà khuyên ông trừng phạt tên Dương Hổ vụng về, đó là chỗ sai trong lời khuyên của Bão Văn từ. Bề tôi trung tín hay gian trá là tuỳ hành động của vua: vua sáng suốt và ngiêm khắc thì họ trung tín, vua nhu nhược và hôn ám thì họ gian trá. Sáng suốt là biết được cái tinh tế, nghiêm khắc là không tha tội. Không biết ai là bề tôi gian xảo của Tề (2) mà trị loạn thần của Lỗ, chẳng cũng bậy ư?
*
(Lại) có người bảo:
(…) Vua sáng và nghiêm thì bề tôi trung tín. Dương Hổ làm loạn ở Lỗ, việc không thành, chạy qua Tề, Tề không trừng trị , tức là để cho Hổ lại làm loạn ở Tề. Vua sáng suốt thì biết rằng việc trừng trị Dương Hổ có thể cứu loạn được cho Tề, như vậy là tinh tế thấy được tình thế (khi loạn chưa phát). Lời xưa có câu: “Chư hầu lấy nước làm tình thân”. Vua nghiêm khắc thì tội của Dương Hổ không thể bỏ qua, đó là phép “không tha tội”. Vậy giết Dương Hổ là để cho bề tôi phải trung tín. Chưa biết được bọn bề tôi của Tề kẻ nào gian xảo mà bỏ sự trừng phạt một kẻ đã hiển nhiên làm phản, thế là trách kẻ chưa hẳn đã làm bậy mà không trừng trị cái tội rành rành, hành động đó bậy. Trừng phạt một kẻ làm loan ở Lỗ để thị oai với bọn bề tôi có lòng gian (ở Tề) mà lại được tình thân ái của Quí tôn, Mạnh tôn, Thúc tôn, lời khuyên của Bão Văn có gì là trái đâu.
*
3 – Chưa đáng giận thì đừng tỏ sắc giận ra, chưa đáng phạt thì đừng tỏ ý muốn phạt ra.
(Lược bỏ)
*
4 – Dùng người thì tránh đừng dùng kẻ mình yêu mà không thực hiền.
(Hàn Phi chép lại ở đây cố sự một người hầu bàn đem giấc mộng thấy bếp để khuyên Vệ Linh Công đừng để cho một sủng thần là Di Tú Hà “che khuất”. Cố sự đó ông đã kể trong truyện là thiên Nội trừ thuyết thượng. Cuối truyện Hàn Phi thêm câu này:
“Vệ Linh công khen phải rồi đuổi Ung Tư, không dùng Di Tử Hà nữa mà dùng Tư không Cẩn”, rồi ông phê bình như sau:
Có người bảo:
Người hề lùn đó khéo đặt sự chuyện nằm mộng để bày tỏ cái đạo làm vua, nhưng Linh công không hiểu hết lời của anh ta. Đuổi Ung Tư, không dùng Di Tử Hà mà dùng Tư không Cẩn là bỏ người mình yêu mà dùng người hiền. Nhưng Tử Đô nước Trịnh cho Khánh Kiến là hiền mà bị Khánh Kiến che lấp. Tử Khoái nước Yên cho Tử Chi là hiền (1)  mà bị Tử Chi che lấp. Bỏ người mình yêu mà dùng người mình cho là hiền, chưa chắc đã khỏi bị một người đứng phía trước mà che mình. Kẻ bất tiếu đứng phía trước của chúa, không nhất định là làm hại sự sáng suốt của chúa. Nếu không thấy sự sáng suốt cho mình mà để cho người (mình cho là) hiền đứng phía trước thì đất bị nguy.
*
(Lại) có người bảo:
Khuất Đào (một ông quan đời Xuân Thu) thích củ ấu, vua Văn vương thích dưa xương bồ. Hai món đó không phải là món ngon mà hai bậc hiền đó đều chuộng, vậy hợp khẩu vị chưa nhất định là ngon. Tấn Lính hầu ưa Tham Vô Tuất (1) Tử Khoái nước Yên cho Tử Chi là hiền, hai người bề tôi đó không phải là kẻ sĩ chính trực mà được hai ông tôn trọng, vậy người mình cho là hiền vị tất đã hiền. Dùng người mình cho là hiền mà thực ra không hiền thì cũng như dùng người mình yêu, không khác gì. Dùng người thực sự hiền thì dùng người mình yêu, hai cái khác nhau. Vì vậy Sở Trang vương dùng Tôn Thúc (Ngao) (một hiền thần) mà làm bá chủ, còn Thương Tân (tức vua Trụ nhà Thương) dùng Phí Trọng (một nịnh thần) mà bị diệt, hai ông vua đó đều dùng người mình cho là hiền mà kết quả trái ngược nhau. Tử Khoái nước Yên tuy đề cử người ông cho là hiền mà chỉ như dùng người ông yêu thôi. Trường hợp Vệ Linh Công có khác gì vậy? người hề lùn đó chưa nhận ra được điều ấy. Vua vệ bị che lấp mà không biết mình bị che lấp, sau khi anh ta nói, vua mới biết rằng mình bị che lấp, cho nên đuổi bọn bề tôi che lấp mình đi, như vậy là thêm sự sáng suốt cho mình rồi. Bảo: “Không thêm sự sáng suốt cho mình, mà để cho người (mình cho là) hiền đứng phía trước che mình thì tất bị nguy” (lời đó đúng); nhưng nay vua Vệ đã thêm sự sáng suốt cho mình rồi, thì dù bị (người mới dùng) che lấp mình, tất không bị nguy nữa.
THIÊN XXII
THUYẾT LÂM THƯỢNG (Trích)
(RỪNG MƯU MÔ - PHẦN TRÊN)
Thuyết lâm có thề hiểu là rừng truyện, từng cố sự; chúng tôi dịch là Rừng mưu mô vì thiên này cũng như thiên sau, (Thuyết lâm hạ), (mà mọi học giả đều nhận là của Hàn Phi) chép toàn những mưu mô của người trước, đa số là chính trị gia, một số ít là người thường. Hàn Phi nhớ đâu chép đấy, không sắp đặt, phân loại cũng không nhằm mục đích chứng minh học thuyết của ông mà cơ hồ chỉ để tặng các nhà cầm quyền và độc giả của ông một cái “túi thuật” của cổ nhân thôi.
Thiên này gồm 34 truyện, thiên sau gồm 37 truyện, tổng cộng là 71 truyện (1)
Có một số truyện chép cả.
Trong Chiến Quốc sách, như:
Truyện XXII.8 tức truyện Nguỵ sách 1.1 (Chiến Quốc sách, Lá Bối 1972)
-         XXII 10                     - Tống sách -1                         nt.
-         XXII 13                     - Đông Chu sách 10                nt.
-         XXII 17                     - Sở sách IV 8                          nt.
-         XXII 22                     - Nguỵ sách 122                       nt.
-         XXII 28 – 8               - Nguỵ sách 11.13                    nt.
-         XXII 34                     - Tề sách 1.3                            nt.
-         Hoặc trong Liệt tử, như: Truyện XXII.31 tức truyện Liệt tử II 16 (Liệt tử - Dương tử - Lá Bối 1972)
-         XXII.9                       - Liệt tử VIII 24                        nt.
Những truyện trùng nhau đó chép gần y hệt nhau, chỉ khác nhai ít chữ, không rõ sách nào chép của sách nào.
Chúng tôi bỏ không dịch lại những truyện đó, trừ truyện XXII.10, và chỉ trích trong thiên này 8 truyện để giới thiệu với độc giả, vì cho cả hai thiên đều không quan trọng, chỉ đáng coi là phần phụ lục thôi. Chúng tôi đánh số tưng truyện cho dễ kiếm.
*
1. Thang đã diệt nhà Hạ (vua Kiệt). Sợ mang tiếng là tham nên (làm bộ) đem thiên hạ nhường cho (một ẩn sĩ là) Vụ Quang nhưng sợ Vụ Quang nhận, lại sai người thuyết Vụ Quang: “Thang giết vua mà muốn gieo tiếng xấu cho ông đấy”. Do đó, Vụ Quang nhảy xuống sông tự tử(1).
2. Tần Vô vương bảo Cam Mậu tự lựa lấy cho mình một trong hai chức “bộc” (một chức hầu cận) hay “hành” (sứ thần). Mạnh Mão khuyên Cam Mậu (1):
- Ông nên xin làm quan “bộc”. Sở trường của ông là đi sứ. Tuy ông giữ chức “bộc”, nhà vua cũng sẽ sai ông đi sứ; mà ông vừa cầm ấn quan “bộc” vừa làm việc của quan “hành”, như vậy là kiêm cả hai chức.
5. Nước Tấn đánh nước Hình, Tề Hoàn Công muốn cứu Bảo Thúc tâu (2) :
- Còn sớm quá! Nước Hình không mất thì nước Tấn không mệt, Tấn không mệt thì Tề không được trọng. Vả lại cái công cứu một nước nguy không lớn bằng cái đức phục hưng một nước đã mất. Tốt hơn, đại vương nên chậm cứu nước Hình để làm cho nước Tấn mệt, đợi cho Hình mất rồi, phục hưng lại cho; như vậy xét về “thực” là có lợi mà xét về “danh” lại càng tốt.
Hoàn Công không cứu Hình nữa.
10. Tề đánh Tống. Tống sai Tang Tôn tử xuống phía Nam cầu cứu với nước Kinh (Sở). Vua Kinh rất mừng, hứa sẽ tận lực giúp. Tang Tôn tử lo lắng ra về, người đánh xe thấy vậy hỏi:
- Việc cầu cứu có kết quả mà sao ngài lại có vẻ lo lắng?
Tang Tôn tử đáp:
- Tống nhỏ mà Tề lớn. Cứu nước Tống nhỏ mà để cho nước Tề lớn ghét, điều đó ai cũng lấy làm lo mà vua Kinh lại mừng, chắc ông ta (hứa hão) để chúng ta kiên tâm chống cự. Chúng ta kiên tâm chống cự, sẽ mệt; đó là điều có lợi cho Kinh.
Tang Tôn tử về nước. (Quả nhiên) Tề chiếm năm thành của Tống rồi mà Kinh vân chưa đem quân cứu.
16. Quản Trọng và Thấp Bằng (1) theo Tề Hoàn Công đi đánh nước Cô Trúc. Mùa xuân đi, mùa Đông về, quên đường lạc lối. Quản Trọng bảo:
- Có thể dùng trí nhớ của con ngựa già được.
Họ bèn thả con ngựa già đi trước rồi theo nó mà tìm được đường về. Tới một chỗ trong núi, thiếu nước, Thấp Bằng bảo:
- Loài kiến mùa đông ở phía nam của núi (vì có ánh nắng, ấm áp), mùa hè ở phía Bắc của núi (vì có bóng mát). Chỗ nào ổ kiến cao một tấc, đào xuống một nhẫn (8 thước thời đó) thì có nước.
Họ cho đào và được nước.
Quản Trọng là bậc thánh, Thấp Bằng là bậc trí, mà có điều không ngại học con ngựa già và loài kiến. Ngày nay, người ta không biết rằng mình ngu để học cái sáng suốt của thánh nhân, chẳng là lầm lẫn ư?
26. Vua Trụ uống rượu suốt đêm (1) , vui say (2)  không biết ngày nào nữa, hỏi kẻ tả hữu, không kẻ nào biết, bèn sai người hỏi Cơ tử (3)  . Cơ tử nói với môn đồ đó:
- Làm chúa thiên hạ mà tới nỗi cả nước không ai biết ngày, như vậy thiên hạ nguy rồi. Cả nước không ai biết mà ta biết thì ta cũng nguy rồi.
Rồi ông lấy cớ là say không biết ngày.
30. Thấp Tư Di (một vị quan nước Tề) lại thăm Điền Thành tử (4) , Điền Thành tử cùng ông ta lên lầu ngắm cảnh bốn phía. Ba phí đều trống, duy có phía Nam là bị cây nhà Thấp tử che khuất. Điền Thành tử không nói gì. Thấp tử sai người đốn cây đó, mới chặt được vài nhát thì ông ta bảo thôi. Người quản gia hỏi sao đổi ý như vậy. Ông ta đáp:
- Người xưa có ngạn ngữ này: “Biết cá trong vực sâu là điều bất tưởng”. Họ Điền tương mưu tính đại sự (1) mà tôi tỏ cho ông ta thấy rằng tôi hiểu được ẩn ý của ông thì tôi tất nguy. Không đốn cây này, chưa phải là có tội, mà biết được điều người ta không nói ra mới là tội lớn.
Bèn thôi không đốn cây nữa.
32. Một người nước Vệ gả con gái, dạy nó: “Con phải góp nhặt của riêng, nghen. Làm vợ người ta mà bị đuổi về là chuyện thường; sống với nhau tới già mới là chuyện hiếm có”. Người con nghe lời, tom tóp của riền, mẹ chồng cho là quá lo việc riêng tư, đuổi cô ta về. Lúc về nhà tiền của cô ta gấp bội lúc về nhà chồng. Người cha không tự nhận rằng mình dạy con sai mà còn tự đắc rằng mình không, đã làm giàu thêm được. Ngày nay bọn bề tôi làm việc quan đều một loại như vậy.
THIÊN XXIII
THUYẾT LÂM HẠ (Trích)
(RỪNG MƯU MÔ - PHẦN DƯỚI)
1.                 Bá Lạc dạy hai người coi tướng những con ngựa hay đá, dắt họ lại chuồng ngựa của Triệu Giản tử. Một người lựa một con ngựa hay đá đưa ra, còn người kia đi theo sau ba lần vỗ vào chỗ xương cụt ở mông của con ngựa, nhưng nó không đá; người lựa ngựa tự cho rằng mình coi tướng ngựa sai. Người kia bảo: “Anh coi không sai đâu, nó hay đá đấy nhưng vai ngắn mà đầu gối sưng. Ngựa khi đá thì cất chân sau lên mà chân trước phải chịu tất cả sức nặng; đầu gối nó sưng thì làm sao chịu được, cho nên chân sau không cất lên được. Anh giỏi coi tướng ngựa nhưng dở coi đầu gối sưng”. Việc gì cũng có lí do, mà chỉ bậc trí giả mới biết rằng đầu gối sưng thì không chịu được sức nặng. Huệ tử (1) bảo: “Nhốt con vượn vào cũi thì nó không khác gì con heo”. Hễ cái thế bất lợi thì không tỏ được khả năng của mình.
2.                  Hoàn Hách (2) nói: “Phép tạc tượng thì mũi nên cho lớn, mắt cho nhỏ vì mũi lớn thì có thể đục lại cho nhỏ, chứ đã nhỏ thì không làm cho lớn lên được; còn mắt nhỏ thì có thể đục lại cho lớn, chứ đã lớn thì không thể làm cho nhỏ lại được”. Làm việc gì khác cũng vậy, hễ việc làm rồi, sau sửa lại được thì ít khi thất bại.
3.                 Quan thái tể nước Tống quyền lớn mà chuyên chính. Quí tử (1) sắp yết kiến vưa Tống. Lương tử (1) hay tin bảo Quí tử: “Trong khi hầu chuyện vua, tất phải có quan thái tể cùng ngồi nghe chứ? Nếu không thì ông khó tránh được hoạ đấy”. Quí tử bèn khuyên vua Tống nên trọng sức khoẻ, đừng quan tâm quá đến việc nước.
16. Ba con bọ chét (sống bám vào con heo) sắp đi kiện nhau. Một con khác đi ngang qua, hỏi: “Kiện nhau về việc gì vậy?” Ba con kia đáp: “Vì tranh nhau chỗ béo bở”. Con thứ tư bảo: “Các anh không lo ngày tế chạp (2) tới, người ta đốt cỏ mao thui con heo ư? Mà còn tranh nhau nữa?” Ba con kia nghe vậy bèn xúm nhau hút máu con heo (cho thật nhiều); con heo gầy đi, khỏi bị giết.
24. Chu Táo hỏi Cung Tha (3) :
- Xin ông vì tôi mà tâu với vua Tề rằng nếu vua Tề giúp tôi làm quan ở Nguỵ thì tôi xin làm cho Nguỵ sẽ phải thờ Tề.
Cung Tha bảo:
- Không được. Như vậy tỏ rằng ông không có thế lực gì ở Nguỵ, vua Tề tất không giúp một người không có thế lực gì ở Nguỵ để kết oán với một người khác đã có thế lực ở Nguỵ. Tốt hơn ông nên nói: “Nhà vua muốn thì thần xin thuyết nước Nguỵ thờ nhà vua”. Như vậy vua Tề cho rằng ông đã có thế lực ở Nguỵ, tất ưng ông.Rốt cuộc ông có thế lực ở Tề, rồi nhờ Tề mà có thế lực ở Nguỵ nữa.
27. Vua nước Kinh (Sở) đánh nước Ngô. Vua Ngô sai bắt Tư Vệ Quệ Dung(1) khao quân Kinh. Tướng nước Kinh bảo: “Bắt trói hắn lấy máu thoa trống”. (Khi bắt rồi) ông ta hỏi (Tư Vệ Quệ Dung): “Người có bói rồi mới đi không?”
Đáp
- Có
- Quẻ tốt không?
- Tốt
Người nước Kinh hỏi
- Nay Tướng nước Kinh sắp lấy máu chú thoa trống, quẻ tốt ở chỗ nào?
 
 
(1) Sau Dương Hổ qua Triệu, được Triệu Giản chủ trọng dủng. Coi truyện 2c, thiên XXXIII, Ngoại trừ thuyết tả hạ.
(1) Các nhà hiệu chú đều cho rằng phải thêm như vậy mới đủ nghĩa. Coi (2) ở cuối đoạn sẽ thấy.
(1) Coi chú thích thiên VII Nhị kinh – chưa rõ truyện Tử Đô và Khánh Kiến.
(1) Chưa rõ là ai.
(1) Vài truyện là ngụ ngôn hoặc danh ngôn.
(1) Truyền thuyết truyền ngôi này không chắc có thực, và được nhiều sách nhắc tới; nhưng chỉ Hàn Phi là cho rằng Thang không thực tâm, chỉ làm bộ nhường thôi và dùng “thuật” đó.
(1) Cam Mậu là tả thừa tướng cảu Tần Vô Vương, Manh Mão làm xá nhân, thuộc quyền Cam mậu.
(2) Hình là một nước nhỏ ở tỉnh Trực Lệ ngày nay. Bão Thúc là bạn thân của Quản Trọng (Coi tiểu sử Quản Trọng trong phần nhất).
(1) Một bề tôi giỏi của Hoàn Công.
(1)Tương truyền vua Trụ ở trong cung, đóng cửa, đốt đước để dâm lạc, “lấy 120 ngày làm một đêm”, vì vậy mà quên ngày.
(2) Có bản chép là cu (sợ). Chữ cu với chữ hoan (vui) hơi giống nhau.
(3) Cơ tử là chú vua Trụ, can Trụ không được, giả điên, làm tên nô lệ. Chu Vô Vương diệt Trụ rồi, phong ông làm vua Triều Tiên.
(4) Điền Thành tử hay Điền Thành. Điền thưởng, Điền Hằng, hay Trần Hằng ở đời Xuân Thu, làm đại phu triều Tề Giản công, giết Giản Công để lập Bình Công. Sau con cháu ông ta cướp ngôi nước Tề.
(1) Ám chỉ việc Điền Thành tử mưa giết Giản Công. Coi thêm chú thích thiên XXXIV. Ngoại trừ thuyết hữu thượng.
(1) Tức Huệ Thi, một triết gia đồng thời với Trang tử, làm tướng quốc cho Lương Huê Vương.
(2) Ba nhân vật: Hoàn Hách, Quí tử, Lương tử này không rõ là ai.
(1) Ba nhân vật: Hoàn Hách, Quí tử, Lương tử này không rõ là ai.
(2) Một ngày tế lễ chư thần trong tiết đông chí.
(3) Chu Toá: chỉ biết là một người nước Nguỵ - Cung Tha là một mưu thần nước Tề.
(1) Chỉ biết là bề tôi nước Ngô
Cái chết chỉ là sự khởi đầu!
0
THIÊN XXXII
NGOẠI TRỪ THUYẾT TẢ THƯỢNG
(Trích)
(NHỮNG THUẬT ĐỂ DANH MÀ DÙNG THIÊN NGOẠI,TẢ, THƯỢNG)
          Kinh 1. Đạo của bậc minh chủ cũng như lời Hữu Nhược đáp Mật tử. Các vị chúa thời này (1) khi nghe nói thì khen sự văn nhã, tô chuốt. Khi xem việc làm thì trọng sự xa vời, viển vông, vì vậy quần thần, sĩ dân nói những lời vu khoát mà hành động xa sự tình (…).
          Truyện. a/ Mật Tử Tiện (2)  cai trị đất Đan Phụ. Hữu Nhược gặp ông ta, hỏi: “sao ông gầy như vậy?” Mật Tử đáp: “Vua không biết rằng Bất Tề này vô dụng, sai cai trị đất Đàn Phụ. Việc quan bận rộn, lòng rất lo âu, nên gầy”. Hữu Nhược bảo:
          “Xưa vua Thuần gẩy cây đàn năm dây, ca bài thơ Nam phong (trong Kinh Thi) mà thiên hạ trị. Nay đất Đan Phụ nhỏ như vậy mà cai trị đã phải lo âu, nếu trị cả thiên hạ mới làm sao?”. Biết thuật trị dân thì thân ngồi trên miếu đường, sắc diện (tươi) như gái đồng trinh, cũng chẳng hại gì cho việc cai trị; không biết thuật cai trị thì thân hay gầy ốm tiều tuỵ, cũng chẳng có ích gì”.
          b/ Vua Sở hỏi Điền Cưu (một môn đệ của Mặc tử):
-         Mặc tử là một học giả nổi danh, suốt đời tận lực làm việc, đáng khen, nhưng lời nói rườm mà không nhã, tô chuốt, tại sao vậy?
Đáp:
-         Xưa Tần bá (Tần Mục công) gả con gái cho công tử nước Tấn (Trung Nhĩ), trang sức cho cô dâu, đưa theo bảy chục thiếu nữ bận áo gấm làm nàng hầu. Tơi Tấn người Tấn yêu những người thiếp đó mà coi thường con gái Tần Bá. Như vậy có thể bảo là khéo gả các nàng thiếp mà không khéo gả con gái. Nước sử có người bán hạt châu qua nước Trịnh, làm cái hộp bằng gỗ mộc lan, xông bằng quế, tiêu cho thơm, điểm xuyết bằng châu ngọc, trang sức bằng ngọc mai khôi (1) lót bằng lông chim trả. Người nước Trịnh mua cái hộp mà trả lại châu. Như vậy có thể bảo là khéo bán cái hộp mà không khéo bán hạt châu. Ngày nay người ta thảo luận đều thích dùng lời khéo léo, văn hoa, bậc vua chúa thấy cái văn hoa mà quên rằng những lời đó vô dụng. Thuyết của Mặc Tử truyền cái đạo của tiên vương, luận lời của thánh nhân để tuyên cáo cho mọi người. Nếu dùng những lời văn nhã tô chuốt sợ người ta chỉ nhớ tới cái văn hoa mà quên cái hữu dụng của học thuyết, như vậy tức là lấy văn hoa làm hại cái hựu dụng, không khác việc người nước Sở bán hạt châu, Tần bá gả con gái. Vì vậy mà lời của Mặc Tử rườm mà không văn nhã tô chuốt.
c/ Mặc tử làm con diều bằng gỗ 3 năm mới xong, bay được một ngày thì hỏng. Một môn sinh bảo:
-         Thầy khéo tay thật, làm cho diều gỗ bay được.
Mặc tử đáp:
-         Ta đâu khéo bằng người làm cái đòn ngang xe. Họ chỉ dùng một khúc cây dài, không đầy 1 buổi sáng mà kéo được ba chục thạch (1)  hoá vật, đi được rất xa mà dùng được mấy năm. Còn ta làm diều gỗ, 3 năm mới xong mà bay chỉ được một ngày.
Huệ tử nghe chuuyện đó bảo:
-         Mặc tử rất khéo (vì) cho việc làm đòn ngang là khéo, làm diều gỗ vụng.
Kinh 2: bậc vua chúa khi nghe người nói mà không lấy công dụng làm mục đích thì kẻ biện thuyết sẽ nói nhiều về những thuyết “mũi gai đâm” và “ngựa trắng”: (khi coi bắn) không lấy sự trúng đích làm quan trọng thì người bắn tên nào cũng giỏi như Hậu Nghệ cả (vì bắn bậy thì thế nào cũng trúng một cái gì đó)(…).
Truyện 2. a/ Một người nước Tống vì vua nước Yên chạm một con khỉ cái vào đầu một mũi gai, nhưng nhà vua phải trai giới 3 tháng rồi mới thấy cực (hình cực nhỏ đó) được. Vua Yên lấy lộc ba cỗ xe (1) để nuôi anh ta. Viên “hữu ngự” (đánh xe hay hầu?) là một thợ sắt tâu:
-         Thần nghe nói vua không thể trai giới mười ngày mà không có một bữa tiệc trong thời gian đó. Người nước Tống đó biết đại vương không thể trai giới lâu được để coi một vật vô dụng nên mới đưa ra kì hạn ba tháng. Hễ trạm trổ thì mũi nhọn để chạm phải nhỏ hơn vật được chạm. Thần là thợ đúc, không thể đúc cho anh ta dụng cụ để anh ta chạm hình đó. Vậy việc đó không có thực, (anh ta nói láo). Xin đại vương xét lại.
Vua Yên do đó bỏ tù anh ta, chất vấn, quả nhiên là nói láo, bèn đem giết. Người thợ đúc lại tâu thêm: “Tính kế mà không có tiêu chuẩn thì kẻ sĩ đàm luận đa số đưa ra những thuyết như “mũi gai” đó”.
(Còn một thuyết nữa đại khái cũng như thuyết trên, nhưng kết cục là anh chàng lừa bịp đó - người nước Vệ - khi biết lộ tẩy, trốn mất).
b/ Nghê Duyệt là người nước Tống, giỏi biện thuyết, đưa ra thuyết “ngựa trắng không phải là ngựa” (2) các biện sĩ ở Tắc Hạ (1) không ai bác được nhưng khi ông ta cưỡi ngựa trắng qua cửa ải thì chịu nộp thuế. Vậy dựa vào hư không, có thể thắng được một nước, mà khảo về thực tế, xét về hình trạng thì không gạt nổi một người.
d/ Có người khách (bảo có thể) dạy cho vua Yên cái phép không chết. Vua Yên sai người tới học, người này chưa học xong thì người khác đó chết. Vua Yên nổi giận, đem ra giết. Nhà vua biết rằng người khách nọ gạt mình, lại nhè giết người sai đi học vì tội chậm trễ. Tin một việc không thể có được mà giết bề tôi vô tội, đó là cái hại không biết suy xét (…).
g/ Có người vẽ che vua nước Tề. Vua Tề hỏi:
-         Vẽ cái gì khó nhất?
-         Vẽ chó ngựa khó nhất.
-         Cái gì dễ nhất?
-         Ma quỉ dễ nhất.
Chó với ngựa ai cũng biết, cũng thấy trước mắt từ sáng tới chiều không thể vẽ bậy, không giống được, cho nên khó vẽ. Còn mà quỉ không có hình trạng, không thấy trước mắt nên dễ vẽ.
h/ Trẻ con chơi với nhau, lấy đất sét làm cơm, bùn làm canh, dăm bào làm thịt, nhưng chiều thì về nhà ăn cơm, vì cơm bằng đất, canh bằng bùn, chơi thì được chứ ăn không được. Khen những điều thời thượng cổ truyền tụng lại, nghe thì hay thì thực tế vô dụng; giảng thuyết nhân nghĩa của tiên vương mà không biết chỉnh lí quốc gia, đó cũng là những việc để chơi chớ không thể đem trị nước được. Trọng nhân nghĩa, mà nước yếu loạn, đó là 3 nước Tấn (Hàn, Triệu, Nguỵ từ Tấn tách ra); không trọng nhân nghĩa mà trị mạnh là nước Tần. Nhưng Tần tuy mạnh mà chưa làm để (thống nhất thiên hạ) được là vì việc trị nước chưa hoàn tất.
*
Kinh 3. Cho tới đây chúng ta thấy mỗi kinh chỉ đưa ra một qui tắc, một thuật, kinh này đưa ra tới hai thuật.
Thuật thứ nhất: Hễ nuôi cái lòng “người khác phải vì mình” (nghĩa là nghĩ tới cái lợi của mình hơn cái lợi của họ) thì hai bên sẽ trách oán nhau; (ngược lại) nếu nuôi cía lòng “ai cũng vì bản thân của người đó thôi” (nghĩa là ai cũng nghĩ tới cái lợi của chính mình hơn cái lợi của người khác), thì sẽ nên việc (1). Vì vậy mà có khi cha con oán trách nhau, mà mước người làm công thì cho họ ăn ngon (…).
Thuật thứ nhì: Nếu theo các học giả (trỏ Nho gia)mà thi hành cái đạo mang mang xa vời (không thực tế) của các tiên vương, thì có lẽ không hợo thời nay chăng? (…) Hành động không thích hợp với việc nước mà cứ xưng tụng tiên vương thì cũng như về nhà lấy cái ni đo chân vậy.
Truyện 3 (Trong phần truyện này Hàn Phi dẫn chứng tới 17 cố sự, nhưng có nhiều cố sự không liên quan gì tới hai thuật nêu ở phần kình. Cơ hồ như Hàn Phi viết vội, chưa kịp sửa lại. Chúng tôi chỉ lựa 1 truyện a/ giải thích thuật thứ nhất và 3 truyện p/ r/ s/ giải thích thuật thứ nhì.)
a/ Cha mẹ không săn sóc con kĩ khi nó còn nhỏ thì lớn lên nó oán mình. Con được nuôi thành người rồi, mà cung dưỡng cha mẹ không được hậu thì cha mẹ giận, oán trách nó. Cha con là tình chí thân mà có khi còn trách nhau, oán nhau là do ai nấy đều muốn cho người khác phải vì mình (cha muốn cho con phải vì cha, con muốn cho cha phải vì con), chứ không muốn cho mỗi người chỉ vì bản thân của người đó thôi.
Mướn người gieo mạ, cày ruộng cho mình thì người chủ không ngại phí tổn mà cho họ ăn ngon, lại còn lựa tiền, vải tốt (1) mà trả công cho họ, như vậy không phải vì yêu họ đâu mà vì nghĩ: “Có vậy họ cầy mới sâu, cào cỏ mới kĩ cho mình”. Người làm công đó, hết sức cầy và cào cỏ, sửa sang bờ ruộng, không phải vì yêu chủ, mà vì nghĩ: “Có như vậy chủ mới cho ăn ngon, mà tiền, vải mới tốt”. Như vậy một bên cung dưỡng hậu hĩ, một bên gắng sức làm việc, có cái ân trạch giữa cha con, hai bên đều hết nghĩa vụ (vì) đều mưu cái lợi cho chính mình cả. Bởi vậy con người làm việc với nhau, cho, tặng nhau, nếu thấy có lợi cho mình thì dù là người nước Việt (1) cũng dễ hoà, nếu lòng thấy có hại thì dù là cha con cũng xa nhau, oán nhau.
p/ (Chu) thư có câu: “Thắt nó, buộc nó”. Một người nước Tống đọc tới đó, lấy hai cái dây lưng tự thắt, buộc bụng. Người ta hỏi: “Làm gì vậy?” Đáp: “Vì sách dạy như vậy”(2)
r/ Người đất Dĩnh (kinh đô nước Sở thời Xuân Thu nay là Hồ Bắc) viết thư cho vị tướng quốc nước Yên. Viết ban đêm, lửa không đủ sáng, bèn bảo người cầm đuốc: “Đưa cây đuốc lên”. (Miệng nói vậy) tay viết lộn trong thư: “Đưa cây đuốc lên”. Mấy chữ đó không phải là ý trong thư/ Tướng quốc nước Yên đọc tới đó, mừng lắm, bảo: “Đưa cây đuốc lên là trọng sự sáng, trọng sự sáng tức là tiến cử, bổ dụng người hiền”. Rồi ông ta tâu với vua, vua hoan hỉ (theo lời) và nhờ vậy nước  Yên thịnh trị. Tuy thịnh trị đấy, nhưng đâu phải là ý trong thư. ĐA số các học giả ngày nay giống như vậy.
a/ Một người nước Trịnh muốn mua giày, đo bàn chân mình rồi đặt cái ni ở chỗ ngồi. Anh ta ra chợ mà quên đem cái ni theo. Tìm được thứ giày muốn mua rồi, anh ta sực nhớ lại, bảo: “Tôi quên đem cái ni theo, để tôi trở về lấy”. Rồi quay về nhà, khi trở lại chợ thì chợ đã tan, không mua giày được. Người ta hỏi: “Sao không lấy chân để thử giày”. Đáp: “Nên tin cái ni, chứ không nên tin mình”.
Kinh 4. – Đâu có lợi thì dân theo về, danh được hiển thì kẻ sĩ chịu chết. Vì vậy, tuy kẻ dưới có công nhưng không hợp pháp mà cũng được thưởng thì người trên không được lợi gì ở kẻ dưới cả; tuy có thanh danh nhưng không hợp pháp mà cũng được khen thì kẻ sĩ lo cầu danh cho họ mà không bồi đắp cho danh của vua (1)(…)
Truyện 4.
a/ Vương Đăng làm quan lệnh Trung Mâu, trình lên Trương chủ (2) rằng: “Trung Mâu có hai kẻ sĩ tên là Trung Chương và Tư Kì, đức rất trau giồi, học lại uyên bác, sao nhà vua không dùng họ?”. Tương chủ đáp: “Ông tìm gặp họ đi, ta sẽ đề cử họ làm trung đại phu”. Quan tướng quốc can: “Trung đại phu là chức quan trọng của Tấn, họ không có công mà được chức đó, không hợp với quan chế của Tấn. Phải chăng nhà vua mới nghe nói về họ chứ chưa thấy họ?” Tương chủ đáp: “Khi ta thâu tụng (Vương) Đăng thì nghe nói rồi sau mới gặp; nay Đăng chọn người thì cũng lại nghe nói thì sau mới gặp; như vậy không ngớt dùng người khác làm tai mắt cho mình”. Thế là Vương Đăng một ngày tiến dụng hai trung đại phu, họ được cấp nhà và đất. Người Trung Mâu (thấy vậy)bỏ việc ruộng nương, bán nhà đất để theo học nghề văn đông đến phân nửa số dân trong ấp. (1)
d/ Triệu Chủ phụ (2) Sai Lí Ti xem nước Trung sơn có thể đánh được không. Lí Ti trở về đáp: “Đánh được. Nếu nhà vua không đánh gấp thì Tề, Yên sẽ đánh trước”. Chủ Phụ hỏi: “Đánh được là tại sao?” Đáp: “Vua nước đó thích thân cận với bọn sĩ ẩn trong hang núi, tự nghiêng lọng, ngồi chung xe (3) với hơn chục kẻ sĩ ở nơi hang cùng ngõ hẻm, dùng lễ bình đẳng đối với trên trăm kẻ sĩ áo vải”. Nhà vua bảo: “Theo lời ông nói thì ông ấy là 1 ông vua có hiền đức, sao lại nên đánh?”. Đáp: “Không phải vậy. Thích kẻ sĩ ẩn nổi danh mà dùng họ trong triều thì chiến sĩ sẽ biếng nhác ngoài mặt trận. Ở trên tôn trọng bọn học giả, ở dưới kẻ sĩ được dùng tại triều thì nông phu biếng nhác ở ngoài ruộng. Chiến sĩ biếng nhác ở mặt trận thì binh yếu, nông phu biếng nhác ở ngoài ruộng thì nước nghèo; ở ngoài binh yếu hơn định, ở trong thì nước nghèo, như vậy không mất nước là điều chưa từng thấy; đánh Trung Sơn cũng là phải chứ?” Chủ phụ khen “phải”, rồi đem quân đánh Trung Sơn, diệt được.
Kinh 5. – Kinh Thi có câu: “Không đích than làm lấy thì dân không tin” (…) Nhưng nếu không định rõ chức phận cao thấp, khonog bắt bề tôi làm cho được việc, mà tự mình làm việc của kẻ ở địa vị dưới thì cũng như xuống xe chạy bộ, ngủ khi đọc sách (…).
Truyện 5.
a/ Tề Hoàn Công thích mặc áo màu tía, (do đó) cả nước đều mặc đỏ tía, mà lụa tía hoá ra đắt gấp 5 lần lụa trắng. Hoàn Công lo, hỏi Quản Trọng: “Quả nhân thích mặc màu tía, màu tía đắt quá mà trăm họ vẫn cứ thích màu tía, làm sao bây giờ”. Quản Trọng đáp: “Nhà vua muốn cấm chỉ sao không thử thôi không mặc màu tía!” Hoàn Công bảo: “Phải” rồi nói với kẻ tả hữu: “Ta rất ghét mùi hôi của màu tía"” Từ lúc ấy kẻ tả hữu có ai bận màu tía lại gần ông, ông đều bảo: “Dang ra, ta ghét mùi hôi của màu tía”. Hôm đó, trong cung không ai mặc màu tía nữa, qua ngày thứ ba trong côi không còn ai mặc màu tía hết.
(Còn một thuyết khác đại ý hệt như thuyết trên, nên chúng tôi bỏ)
c/ Tống Tương công giao chiến với Sở ở Trác cốc (một cái hang bên bờ sông Trác). Quân Tống đã bày thế trận rồi mà quân Sở chưa qua sông. Quan hữu tư mã là Cấu Cường chạy lại tới dâng kế:
-         Quân Sơ đông mà quân Tống ít, nên thừa lúc họ mới qua được nửa số, chưa bày xong thế trận mà đánh thì họ tất thua.
Tương Công đáp:
-         Quả nhân nghe người quân tử bảo: đừng tàn hại người đã bị thương đừng bắt người có hai thứ tóc, đừng đẩy người ta vào chỗ hiểm, đừng đánh trống thúc quân tấn công khi người ta chưa bày xong thế trận. Nay quân Sở chưa qua hết mà đánh họ, là trái với điều nghĩa; hãy đợi họ qua sông hết, rồi sẽ đánh trống thúc quân tiến lên.
Quan hữu tư mã bảo:
-         Nhà vua không thương dân nước Tống, để cho kẻ tâm phcú không được trọn vẹn (tức là chết), chỉ là giả (nhân) nghĩa (1)
Tương công bảo:
-         Ông không trở về hàng ngũ ta sẽ thi hành quân pháp. Quan hữu tư trở về hàng. Quân Sở đã sắp thành thế trận Tương công mới đánh trống thúc quân. Quân Tống đại bại, ông bị thương ở bắp vế, ba ngỳa sau chết. Đó là cái hoạ hâm mộ nhân nghĩa.
d/ Tề Cảnh Công đi chơi Thiếu hải (tức Bột hải ở ngoài khơi tỉnh Sơn Đông). Một người trạm phi ngựa từ kinh đô tới tâu: “Tướng quốc Án Anh đau nặng sắp chết, e công về không kịp”. Công vụt đứng dậy. Một người trạm káhc lại phi ngựa tới. Công sai thắng gấp con ngựa Phiền Táng (1) vào cỗ xe và sai Hàn Khu (2) đánh xe. Mới chạy được vài trăm bước, cho rằng Hàn Khu đánh xe chậm quá, công giằng lấy dây cương, đánh xe lấy. Lại được vài trăm bước nữa, cho rằng ngựa chạy chậm rì rì, công bỏ xe chạy bộ. Phiền Táng là con ngựa tốt, Hàn Khu là người đánh xe giỏi mà còn cho rằng không bằng xuống xe chạy bộ!
d/ Nguỵ Chiêu vương muốn dự vào công việc của các quan, bảo Mạnh Thường quân: “Quản nhân muốn dự vào công việc của các quan”. Mạnh Thường quân nói: “Nhà vua muốn dự vào công việc của các quan thì sao không thử tập đọc luật pháp?” Chiêu vương mới đọc được trên mười cái thẻ (3) đã ngủ gục. Ông bảo: “Quả nhân đọc không nổi thứ luật pháp này”
Không đích thân nắm quyền binh mà muốn làm công việc để cho bề rôi làm, thì tất nhiên là (mệt mỏi) phải ngủ gục!
*
Kinh 6. Việc nhỏ mà tin rồi thì việc lớn mới tin được. Cho nên bậc minh chủ phải thủ tin từ việc nhỏ tới việc lớn (1) Thưởng phạt mà không thủ tin thì cấm lệnh khồn được thi hành. (…)
Truyện 6. a/ Tấn Văn công đánh đất Nguyên, đem theo mười ngày lương thực, hẹn với các quan đại phu mười ngày sẽ về. Tới Nguyên mười ngày rồi mà không hạ được, ông đánh thanh la (2) rút quân về. Có người lính từ trong thành Nguyên ra thưa: “Đánh Nguyên ba ngày nữa thì tất hạ được”. Quần thần tả hữu đều can ông: “Nguyên, lương thực đã hết, sức đã kiệt, xin nhà vua chịu khó đợi”. Ông đáp: “Ta đã định kì hạn là mười ngày với sĩ tốt, nếu bây giờ không lui binh thì thất tin mất. Được đất Nguyên mà phải thất tín, ta không làm”. Rồi ông bãi binh, rút về. Người đất Nguyên nghe thấy vậy, bảo: “Có ông vua thủ tín như vậy, có nên thủ phục chăng?”, rồi kéo nhau ra hàng. Nguươì nước Vệ nghe thấy vậy bảo: “Có ông vua thủ tín như vậy, có nên không đi theo chăng?” rồi hàng
 
(1) Các bàn xưa chép là “minh chủ”, nghĩa không thông. Nên các học giả sửa lại là “ám” (hôn ám) là “thời”. Chúng tôi nghĩa chữ “thời” … có thể lầm với chữ minh … được, chữ “ám” thì khác xa quá.
(2) Học trò Khổng Tử, người nước Lễ, tên là Bất Tề.
(1) Một loại ngọc màu đỏ
(1) Mỗi thạch là 120 cân thời đó.
(1) Coi chú thích ở truyện 1 Thiên sau
(2) Thuyết này các sách khác cho là của Công Tôn Long – Công Tôn Long phân biệt con ngựa và màu trắng. Ngựa là một ý niệm khái quát, ngựa trắng là một con ngựa thật, hai cái khác nhau, do đó ngựa trắng không phải là ngựa. Công Tôn Long nguỵ biện.
(1) Ở Lâm Trì, kinh đô Tề, Tề Tuyên vương lập một công quán cho các kẻ sĩ mọi nơi lại đó giảng luận, coi phần I.
(1)Nguyên  văn: Hiệp phù tương vị tắc trách vọng, tự vị tắc sự hành. Chúng tôi phiên âm và hiểu theo Trần Khải Thiên. Có nhà phiên âm là: … tương vi …, tự vi  và dịch: Khi hai người làm chung nhau (tương vi) thì họ trách nhau, còn tự mình làm riêng rẽ (tự vi) thì việc chạy. E sai.
(1) Nguyên văn là dị. Có sách giảng là dễ lấy. Thời đó vải có thể dùng làm tiền để trả công, trao đổi hàng hoá.
(1)Thời đó người Trung Hoa ở miền Trung và miền Bắc coi người Việt ở Đông Nam là ngoại nhân.
(2) Sách nói về việc tu thân, phải giữ gìn, đừng phóng túng, người đó hiểu lầm.
(1) Nguyên văn: bất súc ư quân. Có sách dịch là: khống chế vua.
(2) Tức Triệu Võ Tuất, một trong ba người diệt Trí Bá, dọn đường cho việc chia ba nước Tấn.
(1) Pháp gia cho nghề văn là vô dụng.
(2) Vua Triệu, tức Vô Linh vương, ông tự xưng là Chủ phụ (như Thái thượng hoàng), sau khi lập con là Hà làm vua.
(3) Khi gặp kẻ sĩ ở trên đường, ông ta nghiêng lọng (tỏ vẻ kính trọng) rồi mời họ lên ngồi chung xe.
(1) Nguyên văn: đặc vị nghĩa nhĩ. Chữ vị đó, chúng tôi theo Trần Khải Thiên, đọc là nguỵ.
(1) Tên một con ngựa quí
(2) Một người đánh xe giỏi
(3) Thời đó luật pháp viết hay khắc trên thẻ tre, vì chưa có giấy.
(1)Nguyên văn: Lịch ư tin: tích luỹ niềm tin
(2) Thời đó, tiên quân thì đánh trống, lui quân thì đánh thanh la
 
 
Cái chết chỉ là sự khởi đầu!
0
Có vài chữ Hoa ở phần chú thích tớ không viết được bạn bổ sung giúp tớ nhé Huy Trần
Cái chết chỉ là sự khởi đầu!
0

Đã mang vào thư viện

Thành thật cảm ơn HuyTran đã scan truyện cùng sự đóng góp của các bạn

Trần Mạnh Hùng, tuusacqui, heo_ mapyeu , Cobe, sherlockhomes, muatrongdem, snowqueen244, cunhoi, Ct.Ly, hoa_ sua, caufale, Chipmuck, taczan299, hai au trang, Ut cung, tuyenduong114.

Đã bỏ nhiều công sức để hoàn tất quyển sách này

Thân
0
Mình đã đánh xong phần 39. Nhưng không biết gửi như thế nào đành gửi qua mail. Bạn đã nhận được chưa.
 
0
Ct.Ly đã nhận được rồi

Đã đăng vào trong Diễn đàn

http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=348693&mpage=5

Cảm ơn tuyenduong114 nhiều nhé

Chúc vui
0
Ct.Ly ơi, có truyện gì gửi cho sq đánh với, đang nghỉ hè nên muốn luyện ngón chút
0
«« « 1 2 3 » »»