Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Di ngôn Phật Sống LƯU CÔNG DANH

27 trả lời, 2.754 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-27 13:00:31Tư Tứ>
DI NGÔN PHẬT SỐNG
LƯU CÔNG DANH
 
Hà Văn Thuỳ
 
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
 
 
  Ai biết cách đăng ảnh vào đây làm ơn cho biết để giúp tôi. Gởi email cho [email=vuphong@hotmail.fr]vuphong@hotmail.fr[/email]
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-17 18:25:52Tư Tứ>
LỜI NÓI ÐẦU

 
Câu chuyện về Phật sống Lưu Công Danh tôi nghe như một thần thoại từ thời thơ ấu. Khi đọc ký sự "Vua Phật Lưu Công Danh đi kháng chiến" của nhà văn Phạm Tường Hạnh, tôi biết thêm nhiều điều nhưng lại cảm thấy tiếc vì Phật sống trong truyện không còn lấp lánh ánh hào quang xưa. Nó bị mài đến tròn trịa khiến tôi cảm tưởng, đó chỉ là bộ xương chứ không phải con người Phật sống huyền thoại. Tôi thấy tiếc phần da thịt tươi rói đã mất đi.
 
Bạn bè tôi ở Rạch Giá, những người từng kể cho tôi nghe về Phật sống Ba Danh nói chung chưa thỏa mãn với những gì được viết về Cụ. Các anh nói với tôi : "Ông phải viết, nếu không sẽ uổng !" Nói rồi anh Tư Thạch, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 307, nhiều năm sau này cùng sống với cụ Ba Danh một con phố, thành người thân và giúp Cụ ít nhiều khi khốn khó, chở tôi đi gặp người này người khác, yêu cầu họ kể. Những người tôi gặp đều ủng hộ tôi đồng thời cũng ra điều kiện nghiêm khắc : Phải viết chân thực !
 
Bạn bè giao cho tôi việc thật khó, vì đã có hai cuốn sách viết về Cụ : Ký sự Vua Phật Lưu Công Danh đi kháng chiến của nhà văn Phạm Tường Hạnh và cuốn Hồi ký của Phật sống Ba Danh do nhà báo Nguyễn Thị Thanh Xuân ghi. Viết tiếp tránh sao khỏi sự trùng lặp, sẽ mang tiếng đạo văn ? Nhưng không viết không đành lòng.
 
Trước khi viết những dòng này, tôi về Rạch Giá, đến trước bàn thờ, thắp nén nhang viếng Cụ, cầu mong Cụ yên bình trên cõi Phật và phù hộ cho ngòi bút của tôi.
 
Sau khi tập hợp những điều được nghe và ghi chép lại, tôi thấy những gì mình biết có bổ sung ít nhiều so với hai cuốn sách trước, tuy vậy tôi vẫn không thỏa mãn vì cảm thấy còn thiếu điều gì đó rất cơ bản mà không có nó, Ba Danh sẽ thiếu đi những phẩm chất thực sự của Phật sống. Vì vậy suốt thời gian dài tôi không muốn công bố ghi chép của mình.
 
Rồi một sự may mắn chợt đến như là cơ duyên, tôi tình cờ gặp lại người bạn thời Kiên Giang mà vì tan đàn xẻ nghé, chúng tôi lạc nhau bằng năm tháng trầm luân của cô Kiều. Ôn lại chuyện thời Rạch Giá, tôi nhắc tới Phật sống Ba Danh cùng cuốn sách dang dở của mình. Không ngờ bạn tôi nói :
 
- Tôi với ông Ba có sự tương ngộ đặc biệt. Ông gọi tôi là em và hình như ông chọn tôi để truyền lại di ngôn của ông.
 
Mừng hết lớn, tôi vội xin anh kể cho tôi ghi. Anh nói :
 
- Ông Ba có nói với tôi là khi ông từ giã thế giới này, mới được công bố những điều ông kể. Nay ông Ba đã đi xa, là lúc nói được rồi. Vậy tôi sẽ về lục những điều đã ghi chép, viết lại cho chính xác rồi đưa cho anh, anh được tùy nghi sử dụng với điều kiện không được nhắc đến tôi.
 
Mấy tháng sau bạn tôi trở lại thành phố Hồ Chí Minh, đến thăm và đưa cho tôi mấy chục trang viết tay, trên cuốn tập học trò, chữ rõ ràng, mạch lạc, thứ chữ của những người từng được dạy dỗ chu đáo trong nhà trường thời thuộc địa. Ý anh muốn tôi không được lầm lẫn khi công bố di ngôn của Phật sống. Phần sau của cuốn sách, tôi hầu như chép lại nguyên văn những điều bạn tôi viết.
 
Ghi chép của bạn tôi được chia làm ba phần : Lòng ngưỡng mộ của anh với Phật sống Ba Danh ; câu chuyện về Phật sống anh được nghe ở Hải Phòng và Di ngôn của Phật sống.
 
Câu chuyện nghe kể ở Hải Phòng có thể được coi như một dị bản của huyền thoại về Phật sống lưu truyền trong số cán bộ miền Nam tập kết. Ðáng chú ý nhất là di ngôn của Phật sống. Ðấy có thể coi như một thông điệp đầy ắp thông tin về :
 
-         Sự hình thành và cấu tạo Vũ trụ.
-         Lịch sử hình thành Trái đất và loài người, vài dự báo về tương lai.
-         Sự hình thành tôn giáo và nguyên lý của đạo Phật.
-         Dự báo về sứ mạng và cuộc đời Phật sống Lưu Công Danh.
 
Bây giờ mà nói tin hay không tin những "thông điệp" này đều là vội vàng. Nhưng trong kiến văn hạn hẹp của mình, tôi nhận thấy, nếu những điều ghi chép ở đây, ông Phật sống Ba Danh đã "nghe" được ở chùa Tây Phương trong một đêm nào đó gần 70 năm trước (khoảng 1938) là thật thì ngay từ đó những kiến thức về Vụ Nổ Lớn "Big Bang" và hình thành Vũ trụ ông nắm được đã đi trước khoa học mấy chục năm ! Lịch sử hình thành Trái đất cũng được phát biểu thật ngắn gọn, trong đó có những điều ta biết và cả những điều chưa ai nói tới : Trái đất có bốn Mặt trăng, ba cái lao vào Trái đất tạo thành 3 biển và khối băng đá khổng lồ lao xuống tạo thành nước… "Thông điệp" cũng đưa ra cách giải thích khác về sự hình thành con người. Trong Di ngôn của Phật sống, nguyên lý của đạo Phật được thể hiện sáng rõ và có những nét mới : vạn vật hoạt động theo quy luật của tự nhiên, ngoài việc truyền bá đức tin, khuyến thiện, Phật không có trách nhiệm và không thể chi phối đến số phận con người. Không có Diêm vương xử tội, cũng không có luân hồi qua nhiều kiếp. Trong Di ngôn của Phật sống, bên cạnh những dự báo xa vời cũng có những dự báo đã ứng nghiệm, như sự tan rã của Liên Xô được báo trước từ năm 1960...
 
Tôi cho rằng, cuốn sách này khi ra đời sẽ làm xao động dư luận, sẽ nhiều người tin và càng nhiều người không tin. Nhưng, bằng thái độ trí thức, tôi mong cộng đồng tiếp nhận nó như một tài liệu tham khảo. Cũng mong rằng, khoa học sẽ giải mã tìm ra trong đó những gì hợp lý, những gì sai lầm để bổ sung hay dọn bớt rào gai trên con đường nhận thức tự nhiên và chính mình.
 
"Thông điệp" trong cuốn sách này nhiều điều còn ở ngoài tầm hiểu biết của mình nhưng tôi tin là nó chân thực. Một người như ông Lưu Công Danh mà tôi biết không thể bịa tạc ra những kiến thức vượt quá tầm học vấn của mình. Và bạn tôi, người ghi lại lời Phật sống cũng không thể "sáng tác" nổi những điều như thế.
 
Bằng tất cả sự trân trọng, tôi xin giới thiệu với bạn đọc.
 
Ðể có cuốn sách này, người ghi xin được tỏ lòng cảm ơn chân thành đến gia đình cụ Lưu Công Danh ; nhà văn Phạm Tường Hạnh, nhà báo Nguyễn Thị Thanh Xuân mà chúng tôi có tham khảo và sử dụng một số tư liệu ; các ông Ðặng Hữu Thạch, Trần Hữu Ðức, Trần Ngọc Năm… đã cung cấp nhiều tài liệu quý. Ðặc biệt cảm ơn tác giả ẩn danh bạn tôi đã cho phép sử dụng những trang ghi chép vô giá của ông.
 
Thành phố Hồ Chí Minh, cuối năm Bính Tuất.
 
Hà Văn Thùy
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
ÐI TÌM PHẬT SỐNG
 
 
Một sáng mùa hè năm 1958, chiếc xe com-măng-ca biển số đỏ chở hai người sĩ quan dừng trước doanh trại Sư đoàn 338. Người thiếu uý xuống xe trình giấy với viên hạ sĩ đứng gác. Nhận giấy giới thiệu, người hạ sĩ mời anh sĩ quan vào trạm gặp chuẩn uý trực ban. Người chuẩn uý gọi một binh nhất còn trẻ măng tới :
 
- Ðồng chí lên xe đưa mấy đồng chí phái viên Trung ương lên gặp Tư lệnh.
 
Theo hướng dẫn của người lính trực ban, chiếc xe nhà binh đi về phía những lán trại mới được xây dựng. Xuống xe, hai người sĩ quan theo anh lính trực ban đi về ngôi nhà lợp nứa lớn nằm ở trung tâm doanh trại. Trả lại giấy giới thiệu cho khách, binh nhất nói : mời các thủ trưởng vào gặp Tư lệnh. Nói đoạn anh ta đứng nghiêm chào rồi xoay mình bước đi.
 
Ðọc giấy giới thiệu và được biết yêu cầu của hai sĩ quan Tổng cục Chính trị vừa từ Hà Nội tới, Tư lệnh Tô Ký băn khoăn :
 
-  Ðúng, đây là Sư đoàn miền Tây nhưng chúng tôi chưa hề nghe đến tên Phật sống ! Dừng lại một lát, ông tiếp, để tôi kêu đồng chí phụ trách quân lực tới may ra có biết thêm được gì không ? Nói rồi ông quay máy điện thoại. Lát sau một thiếu tá bước vào.
 
-  Các đồng chí trên Tổng cục Chính trị tới đơn vị mình tìm đồng chí Ba Chà là Phật sống Ấn Ðộ. Tôi nói là đơn vị ta không có người này nhưng để chắc ăn, mời đồng chí tới tham gia thêm.
 
- Báo cáo các thủ trưởng, chúng tôi được chỉ thị là tìm đồng chí Ba Chà, Phật sống Ấn Ðộ, trước đây làm Giám đốc Ðề lao binh Khu 8. Sư đoàn các đồng chí là Sư miền Tây…
 
Người thiếu tá nheo nheo mắt như cố nhớ điều gì, sau đó anh ta nói :
 
- Ðúng như đồng chí Tư lệnh đã nói, trong đơn vị chúng tôi không có ai là Ba Chà và lại càng không có ai là Phật sống Phật chết cả !
 
- Nhưng, thưa hai thủ trưởng, đơn vị các thủ trưởng là đơn vị miền Tây… Người trung uý phái viên hỏi vẻ rụt rè.
 
-  Ðúng là Sư miền Tây, Tư lệnh Tô Ký cười độ lượng, nhưng không phải tất cả lính miền Tây đều ở đơn vị chúng tôi. Do quân số miền Tây đông nên một số anh em phải biên chế sang Sư miền Ðông. Vì vậy đã nhiều người đi kiếm thân nhân cũng tới chỗ chúng tôi nhưng sau đó phải sang Sư miền Ðông của ông Bảy Cống mới thấy. Có lẽ trường hợp các đồng chí cũng vậy chăng ?
 
Thoáng vẻ thất vọng, hai sĩ quan từ biệt rồi ra đi. Họ biết rằng phải vượt mấy chục cây số đường đất lầy lội nữa mà không biết có ông Phật sống thật không ?
 
Sư đoàn miền Ðông đóng ở Nông Cống. Tư lệnh Ðồng Văn Cống tiếp họ niềm nở. Ông gật gật đầu :
 
-  Có, có nghe anh em đồn là có Phật sống nhưng không biết có phải tên Ba Chà không. Vừa nói ông vừa thú vị quan sát nét vui mừng trên mặt hai sĩ quan trẻ. Ðể hỏi thêm bên quân lực, vừa nói ông vừa quay máy điện thoại.
 
Viên đại uý đứng nghiêm chào. Tư lệnh Bảy Cống chỉ hai phái viên, nói :
 
-  Hai đồng chí đây là phái viên của Tổng Cục Chính trị tới đơn vị ta tìm đồng chí Ba Chà Phật sống, là sĩ quan miền Tây. Tôi nghe anh em đồn là đơn vị ta có một ông Phật sống, không biết có phải Ba Chà không, đồng chí kiếm giùm.
 
- Báo cáo thủ trưởng, tôi cũng nghe nói có Phật sống nhưng không rõ tên gì, ở đơn vị nào. Có điều chắc là đơn vị ta không có ai tên Ba Chà !
 
- Vậy sao ? Không có Ba Chà ? Hai phái viên thượng cấp mặt ỉu xìu vì thất vọng.
 
- Thế này vậy, không biết là ai nhưng chắc chắn là có một ông Phật sống đang ở sư đoàn ta. Tôi sẽ giới thiệu các đồng chí xuống đơn vị để kiếm. Ðành chịu cực chút vậy ! Nói rồi ông cho một sĩ quan liên lạc cùng hai phái viên xuống từng đại đội.
 
Cuộc tìm kiếm Phật sống không khác nào mò kim đáy bể. Không thể tìm Ba Chà trong danh sách quân nhân vì đó là tên dân gian Nam Bộ. Ông này thứ ba nhưng người Chà Và (Ấn Ðộ) nên dân gian kêu là Ba Chà ! Cái tên Nam Bộ ấy chắc cũng để lại miền Nam mà không theo chủ đi tập kết ? Phải nhiều ngày mò mẫm qua từng đơn vị rồi một hôm 3 sĩ quan đến Ðại đội 19 công binh, Trung đoàn 3. Một tiểu đội trưởng tình cờ nghe thấy các sĩ quan bàn nhau việc kiếm Phật sống Ba Chà, anh nói :
 
- Tôi có biết một ông Phật sống nhưng không rõ ổng có phải Ba Chà không ?
 
Mừng như bắt được của, các phái viên hối dẫn đi tìm ngay. Tiểu đội trưởng tên là Trần Hữu Ðức dẫn họ tới Chợ Chuối xã Thăng Long huyện Nông Cống. Xe dừng lại trước khu lò gạch, chiến sĩ đang làm việc ì xèo. Hai Ðức dẫn mấy anh em ra hiện trường thì gặp đại đội trưởng lò gạch là ông già to cao đang gánh đất, chân tay lấm bê bết :
 
- Ðó, ổng đó !
 
Hai Ðức chỉ. Khi được hỏi về Phật sống Ba Chà, ông trả lời thủng thẳng :
 
- Ông nầy tôi có biết nhưng không biết giờ ông ở đâu, để rồi tôi kiếm giùm.
 
Lát sau ông hỏi lại :
 
- Nhưng mấy cậu kiếm ổng có chuyện gì ?
 
Viên trung uý nói :
 
- Bộ Ngoại giao mời ông ấy về Hà Nội để tiếp khách Ấn Ðộ. Việc này được báo cáo Bác Hồ, Bác yêu cầu bên quân đội tìm giúp. Ðại tướng Nguyễn Chí Thanh trực tiếp giao nhiệm vụ cho chúng tôi…
 
Ông đại đội trưởng già vẫn giọng chậm rãi hỏi :
 
- Mời ra Hà Nội nhưng có gặp Bác Hồ được không ?
 
- Nếu ra thì sẽ gặp được. Viên thiếu tá đáp sau thoáng nghĩ ngợi.
 
Ông già nói tiếp, vẫn bằng giọng thủng thẳng :
 
- Ổng biểu, nếu được gặp Bác Hồ thì ổng ra, nếu không, ổng lội bộ về đó !
 
Mừng quá, mấy anh phái viên lôi từ trên ô tô xuống một thùng bia hơi để đãi Phật sống cùng anh em đơn vị rồi đưa trung uý Lưu Công Danh về Bộ Tư lệnh Sư đoàn.
 
Chuyện là thế này : Hiệp định Giơnevơ năm 1954 lập Uỷ ban Giám sát và Kiểm soát đình chiến tại Việt Nam do Ấn Ðộ làm chủ tịch, hai thành viên là Ba Lan và Canada. Ấn Ðộ là nước trung lập nhưng lúc đó chưa hiểu lắm về ta nên trong nhiều vụ việc cụ thể gây cho ta không ít khó khăn. Tranh thủ được Ấn Ðộ không chỉ có lợi lúc này mà còn là chiến lược lâu dài vì vai trò quan trọng của Ấn trong khu vực và thế giới. Thực hiện nhiệm vụ ngoại giao cấp bách này, Bác Hồ đã mời Tổng thống Ấn Ðộ Praxat và phu nhân sang thăm nước ta với danh nghĩa nước Chủ tịch Uỷ ban quốc tế. Trước chuyến thăm, qua con đường ngoại giao, ta biết có một số vấn đề về quan điểm bạn chưa đồng ý với ta. Nếu không thuyết phục được bạn, cuộc viếng thăm sẽ kém kết quả. Nhưng làm sao để thuyết phục ? Bộ Ngoại giao lúc đó tìm hết phương kế nhưng đành chịu. Thứ trưởng Ung Văn Khiêm chợt nhớ, trong kháng chiến ở miền Tây Nam Bộ có ông Phật sống Ấn Ðộ tên Ba Chà làm Giám đốc Ðề lao binh. Nghe nói gia đình người vợ Ấn Ðộ của ông ta có họ hàng với Thủ tướng Ganđi. Tổng thống Praxat và phu nhân cũng là phật tử. Nếu có được ông Vua Phật Ấn Ðộ để giao thiệp với phái đoàn Ấn Ðộ thì quá ngon ! Ý kiến này được báo cáo lên Bác Hồ. Bác ủng hộ liền vì thấy là sáng kiến tốt. Công việc tìm Phật sống được giao cho bên Quân đội. Ðại tướng Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh cử nhóm công tác đi Thanh Hoá là nơi hai sư đoàn bộ đội Nam Bộ đang đóng.
 
Ðầu năm 1955, ăn Tết xong, từ vàm Sông Ðốc một số cán bộ chiến sĩ miền Tây Nam Bộ lên chuyến tàu thứ hai, chiếc tàu Ba Lan Kilinxki vừa chở người vừa chở gạo ra cứu đói miền Bắc. Cũng đi chuyến này có Lưu Công Danh, nguyên là Phật sống Ấn Ðộ. Nhân viên người Ấn trong phái đoàn quốc tế nghe nói có Phật sống trên tàu nên đôn đáo đi tìm. Lo cho sự an toàn của ông, anh em dấu Lưu Công Danh xuống hầm tàu.
 
Tới Sầm Sơn, sau những tháng học tập, chỉnh huấn, đến tháng 10 biên chế lại đơn vị. Lính miền Tây thành Sư đoàn 338, lính miền Ðông thành Sư đoàn 330. Một số chiến sĩ miền Tây sang Sư miền Ðông, trong đó có Lưu Công Danh và Trần Hữu Ðức. Hai người cùng trong Tiểu đoàn 209 chuyên xây dựng doanh trại. Khi Hai Ðức về đại đội công binh 19 thì gặp Ba Danh (Từ khi Ðề lao binh giải thể, Lưu Công Danh không dùng tên Ba Chà nữa mà lấy lại tên thật Ba Danh, trong khi đó ông Ung Văn Khiêm lại nhớ tên cũ nên việc tìm kiếm khó khăn) cùng đóng quân trong khu vực chợ Chuối. Ðại đội do trung uý Ba Danh làm đại đội trưởng tiếp thu cái lò gạch của tư nhân bỏ hoang, chiến sĩ sửa lại để nung gạch. Cánh Hai Ðức thường sang lò gạch Ba Danh đá banh. Một bữa đang đá hăng thì một cậu bị thương gãy ngang ống quyển, đau quá la thét kinh hoàng. Anh em xúm quanh định khiêng đi bệnh xá. Ông Ba hỏi :
 
- Gì mà la dữ vậy bây ?
 
Nhìn thấy ông lính già dáng cao lớn, Hai Ðức buột miệng nói :
 
- Lính con nó gẫy giò ba ơi ! Ông Ba bước tới nhìn, nói :
 
- Ôi, tưởng gì, đem vô đây ! Anh em khênh người bị nạn vào lán lợp nứa dùng để chứa gạch mộc. Ông nắn lại xương gân cho ngay ngắn rồi lấy trong bọc đồ riêng của mình ra những loại bột gì đó ngào với đất sét, bó giò, lấy cây nứa nẹp lại cho khỏi cấn rồi dùng băng quấn xung quanh. Xong việc, ông nói :
 
- Về đi, vài bữa đá banh nữa.
 
Hai bữa sau ông tới tháo nẹp, nói :
 
- Mầy đứng tao coi !
 
Người lính do dự :
 
- Liệu có gẫy lại không ?
 
- Giỡn hoài, mầy. Gẫy tao thường ! Không đổi sắc mặt, ông lính già nói.
 
Run run, anh ta vịn vào thành giường đu mình đứng dậy.
 
- Mầy bước tao coi !
 
Khi cậu lính trẻ đứng vững trên đôi chân của mình, ông Ba nói tiếp.
 
Người lính dò dẫm bước một bước hai bước rồi đi một đoạn dài như chưa từng bị thương. Anh em ngạc nhiên hết sức, rối rít cảm ơn ông già. Tin về ông lính già Nam Bộ có tài bó xương gẫy lan nhanh trong đơn vị rồi ra ngoài dân. Nhiều người đến nhờ. Đại đội lò gạch của Ba Danh gần thành một trạm cứu thương.
 
Một bữa ngồi uống nước, ông Ba hỏi Hai Ðức :
 
-         Bữa đó sao mầy kêu tao là ba ?
 
-         Tôi thấy ông già gần như tía tôi nên kêu vậy thôi.
 
-         Mầy quê đâu ?
 
-         Tôi dân Phú Quốc !
 
-         Vậy sao ? Ông già mừng húm reo lớn :
 
-         Tao Rạch Giá nè, ở Mớp Giăng, Châu Thành đó.
 
Gặp người cùng xứ, chàng lính trẻ Hai Ðức mừng hết lớn :
 
- Vậy tôi kêu ông ba luôn nghe, ông là ba nuôi tôi vậy !
 
Họ nhận cha con như vậy đó.
 
Rồi cha con hủ hỷ. Ba Danh thủng thẳng từng chút một kể cho Hai Ðức nghe chuyện đời mình. Anh Hai Ðức nói thật tiếc vì lúc đó anh chỉ nghe cho vui mà không có ý thức khai thác ông già nhiều hơn.
 
Về Hà Nội, trung uý Lưu Công Danh được đưa tới gặp Phó Thủ tướng Phan Kế Toại bàn về việc tiếp phái đoàn Ấn Độ, sau đó được bố trí nghỉ tại Bộ Ngoại giao. Ở Hà Nội hơn một tháng không được gặp Bác Hồ, Ba Danh đòi trở về đơn vị. Trước khi đoàn tới ít ngày, Bác Hồ bố trí thời gian gặp Ba Danh. Bác nói :
 
-  Chính Phủ Ấn chưa hiểu mình nên trong công việc có gây cho Chính phủ ít nhiều khó khăn. Chú có thể giúp cho phái đoàn ta !
 
- Thưa Bác, cháu thì giúp được gì ạ ?
 
- Nếu biết cách thì chú giúp được đấy !
 
- Giúp thế nào, xin Bác chỉ cho cháu. Nếu làm được, cháu sẽ hết sức cố gắng !
 
- Thế này nhé, chú hút thuốc đi, Bác chỉ vào gói thuốc Ðại Tiền Môn trên bàn, mỉm cười, sau đó nói chậm rãi, có thể bà Tổng thống Praxat sẽ xin gặp chú. Nếu bà Praxat muốn gặp thì chú nên gặp.
 
- Nhưng thưa Bác, Ba Danh ấp úng, bà ta gặp cháu để làm gì ạ?
 
- Gặp chú vì chú là Phật sống Ấn Ðộ.
 
Ba Danh toát mồ hôi, không hiểu ông Cụ nhắc đến Phật sống với ý nghĩa gì. Anh lén ngước nhìn Bác, thấy nét mặc Bác nghiêm trang chân thành, anh cảm thấy yên tâm.
 
- Thưa Bác !
 
- Bà Praxat là phật tử, Bác Hồ nói tiếp bằng giọng nhỏ trầm tĩnh, nên rất ngưỡng mộ Phật sống Ấn Ðộ. Vậy nếu bà ấy gặp chú thì rất tốt cho công việc của phái đoàn.
 
Ba Danh láng máng hiểu ra vấn đề, anh hỏi :
 
- Thưa Bác, gặp bả cháu phải thế nào ạ ?
 
- Chú cứ xử sự như trước đây chú tiếp các phật tử. Còn trong câu chuyện, chú cứ nói thật về cuộc đời chú và nhất là vì sao chú lại đi kháng chiến. Nói tới đây Bác cười, chòm râu rung rung, điếu thuốc trên tay Người cũng rung theo. Chú đừng làm chính trị !
 
Ít ngày sau thì Tổng thống Praxát cùng phái đoàn Ấn Ðộ đến Hà Nội, theo chuyến bay đặc biệt từ Sài Gòn ra. Trong chuyến thăm ngoại giao này, chính phủ Việt Nam có phần bị thất thế so với chính quyền Sài Gòn. Đoàn của Tổng thống Praxat tới Sài Gòn trước rồi mới ra Hà Nội, là chỉ dấu cho thấy Ấn Ðộ nghiêng về phía Ngô Đình Diệm. Báo chí của chính quyền Sài Gòn làm rùm beng chuyện này, coi như thắng lợi lớn của “chính nghĩa quốc gia”. Quả như dự liệu lúc đầu, có một số vấn đề giữa ta và bạn khác quan điểm nên buổi hội đàm thứ nhất diễn ra không suôn sẻ. Trung ương rất lo. Qua câu chuyện hành lang, ta bóng gió cho người Ấn biết là Phật sống Ấn Ðộ Hăcxacôp Chanđra đang ở Hà Nội. Ông rất nhớ đất nước Ấn Ðộ, muốn biết tin tức gia đình. Biết tin này, phu nhân Tổng thống Praxat rất mừng, bà nhờ Đoàn Việt Nam xin tiếp kiến Phật sống.
 
Hai chiếc xe hơi sang trọng mang cờ Ấn Ðộ tiến vào biệt thự trên đường Quán Thánh bên bờ Hồ Tây. Chiếc xe màu đen dừng lại trên lối đi rải sỏi. Từ ghế đầu, người sĩ quan tuỳ tùng bước xuống mở cửa. Người đàn bà Ấn son sẻ nước da màu đồng hun mặc sary vàng bước ra khỏi xe. Chiếc túi xách nhỏ màu mận chín trong tay, bà nhìn bao quát ngôi biệt thự. Hạt kim cương từ chiếc nhẫn trên ngón tay thon dài phản quang loé sáng. Từ chiếc xe trắng đi sau mang cờ của Ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát đình chiến ở Đông Dương, ba người đàn ông mang đồng phục trắng lần lượt xuống xe. Anh cán bộ lễ tân người Việt hướng dẫn phu nhân Tổng thống cùng các vị khách bước lên tam cấp, qua phòng khách lớn rồi lên cầu thang. Tới một căn phòng cửa mở, hai sĩ quan người Ấn nhanh nhẹn đứng lại hai bên cửa, còn hai người khác tháp tùng phu nhân tổng thống bước vào. Theo thường lệ, anh cán bộ người Việt đi trước dẫn đường. Vừa vào trong phòng, cả ba người khách nước ngoài bước vội lên trước rồi quỳ xuống tấm thảm Ba Tư trải trên sàn, đầu cả ba người cúi sát đất. Không xa trước mặt họ là cái sập gỗ mun khảm trai trải chiếu hoa. Trên đó Phật sống Ba Danh dáng cao lớn, nước da ngăm đen, mặc cà sa màu vàng trong tư thế tọa thiền, hai mắt nhắm lại. Trên cao phía sau ông là bàn thờ Phật với hình Quan Thế âm, những nén nhang cháy toả mùi trầm thơm sâu lắng. Sau khi lạy, cả ba người trong tư thế quỳ, hai tay chắp trước ngực, đầu cúi, mắt nhắm lại vẻ thành kính.
 
Lúc lâu sau Phật sống mở mắt, nhìn xuống ba phật tử, nói chậm rãi tiếng Hinđu bằng giọng Newdelhi trầm ấm :
 
- Mừng các con tới đất nước Việt Nam. Thầy ban phước cho các con.  Bữa nay thầy cho các con biết một phần của đời thầy. Chắc các con vẫn nhớ, theo quy định của người tu Phật, sau khi thành Phật, có thời gian hai năm để tế độ chúng sanh thì trở về trời trong giàn lửa. Nhưng năm ấy, thầy đã không về trời theo cách đó vì thầy còn có việc phải làm. Trong đêm thầy được chánh quả, Phật tổ có dạy rằng, sau thời gian ở Ấn Độ, thầy phải về nước Phật giáo sát bên đất nước của thầy để khi nước được độc lập thì về tế độ đồng bào mình. Vậy là theo lời Phật tổ, thầy đã về nước anh em là Miên quốc. Thầy tế độ chúng sinh ở đó. Khi Việt Nam được độc lập thì theo lời Phật tổ, thầy về nước. Nhưng đúng lúc đó thì giặc Pháp trở lại xâm lược. Không còn cách nào khác, thầy phải cùng Chính phủ đánh Pháp cứu chúng sinh, giữ vững nền độc lập cho Việt Nam. Cũng trong đêm thành chánh quả đó, Phật tổ có đem giáo lý đạo Phật truyền cho thầy. Trong những điều thầy được nghe thì chính Phật tổ nói : “Đạo Phật ưa sống hoà bình nhưng nếu có bọn ác tới tàn hại chúng sinh thì phải đánh đuổi chúng đi.” Khi thầy về thì đánh nhau rất ác liệt, Chính phủ Việt Nam lo cho an nguy của thầy nên khuyên thầy trở lại Pnômpênh vì chúng sinh nơi đâu cũng là con của Phật tổ, giúp cho dân Miên cũng là giúp dân Việt. Nhưng thầy xin ở lại để cùng đánh giặc với đồng bào. Đức Phật tổ dạy rằng, không được sát sanh nhưng nếu có kẻ ác muốn giết mình thì phải cùng mọi người đánh lại chúng. Hơn nữa thầy biết rằng, dắt dẫn dân tộc Việt Nam là Hồ Chủ tịch, một vị thánh nhân. Được chiến đấu dù có hy sinh dưới cờ của Bác Hồ cũng là làm tròn Phật sự.
 
Ba người quỳ nghe một cách thành kính. Im lặng một lúc lâu, ngài nói tiếp :
 
- Nay đất nước Việt Nam cũng như nước Ấn Độ cùng được độc lập. Thầy rất muốn về thăm lại Ấn Độ. Nhưng Việt Nam mới chỉ độc lập được một nửa. Đồng bào miền Nam còn sống trong áp bức, cho nên cả nước còn phải đấu tranh cho độc lập và thống nhất, đồng bào ai cũng được tự do hạnh phúc. Vì vậy công việc của thầy còn nặng… Nay các con sang Việt Nam cũng là làm công việc theo lời Phật dạy. Giúp người Việt Nam cũng là giúp cho nhân dân Ấn Độ. Rồi chúng sanh hai nước sẽ được sống hoà bình trong tình anh em…
 
Nói tới đây Phật sống dừng lại. Những vị khách im lặng chờ đợi. Lúc lâu sau không thấy ngài nói nữa, họ ngẩng nhìn lên thì nhận ra Phật sống ngồi im như pho tượng, hai mắt nhắm nghiền…
 
Lặng lẽ, cả ba người lết bằng đầu gối tới bên sập gụ. Họ khom người tới gần Phật sống, nâng vạt áo cà sa hôn một cách thành kính, sau đó vái ba vái rồi đi lùi ra cửa.
 
Cuộc hội đàm hôm sau diễn ra thuận lợi không ngờ, nhiều đề xuất của Việt Nam được chấp nhận, tuyên bố chung được ký kết, Tổng thống Praxat mời Bác Hồ sang thăm Ấn Ðộ, mở ra trang mới trong quan hệ Việt Ấn.
 
Ông Ba Danh rời khỏi đơn vị từ đó. Ít lâu sau anh Hai Ðức chuyển ngành, đi học Trung cấp thuỷ sản tại Hải Phòng. Lâu lâu anh có về Hà Nội thăm cha nuôi.
 
Năm 1958, sau khi công việc trong nước tạm ổn định, chính phủ Việt Nam tổ chức những chuyến thăm ngoại giao tới nhiều nước trên thế giới do Hồ Chủ tịch dẫn đầu. Lưu Công Danh được tham gia phái đoàn. Tại những nước Phật giáo, Phật sống Lưu Công Danh được quốc vương, chính quyền, giới chính khách và đông đảo phật tử hân hoan chào đón, đem lại uý tín cho chính phủ Việt Nam. Sau chuyến đi nước ngoài trở về, Lưu Công Danh được mời lên gặp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.
 
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh hỏi :
 
- Anh có muốn đi học không ?
 
Không cần suy nghĩ, anh trả lời luôn:
 
- Dạ muốn.
 
Anh có nguyện vọng đó vì khi còn nhỏ chỉ được cắp sách tới trường làng. Lớn lên đi tu thì học kinh. Như vậy là anh nhận thức được trình độ anh còn kém. Nhưng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thì nghĩ theo hướng khác. Vì theo cấp đại uý, lúc đó đối với quân đội là hiếm, phải là người lãnh đạo trung đoàn, ít nhứt cũng là tiểu đoàn trưởng. Vậy cần phải đào tạo cho xứng đáng vói cấp bậc của anh.
 
Chẳng bao lâu sau anh được cấp hộ chiếu đi Liên Xô tu nghiệp tại Học viện quân sự và chính trị của Quân đội Xô-viết. Nhưng gần một năm rồi việc họ tập của anh không tiến bộ đựơc chút nào. Đại sứ quán Việt Nam tại Matxcơva được thông báo về người sinh viên đặc biệt này. Đại sứ Nguyễn Văn Kỉnh đã e ngại rằng vì đồng bào quê hương bị đàn áp khốc liệt nên anh nóng ruột mà không học được. Khi gặp anh, đại sứ Nguyễn Văn Kỉnh đã hết sức đông viên anh cố gắng học tập thành tài rồi trở về Việt Nam chiến đấu giải phóng miền Nam, giành lại độc lập thống nhất cho nước nhà. Anh không cãi điều gì nhưng một học kỳ nữa đã qua, trong các buổi tập thì anh chưa bao giờ bắn đạn thật đựơc trúng mục tiêu. Cho anh thi lại lần thứ hai thì viên đạn của anh bay đi đâu chớ không hề dính được vào bia. Trước sa bàn anh cũng không hề trình bày được các thế trận, không thuyết trình được về các trận đánh dù đã có giáo trình chuẩn bị trước. Anh phải về nước để có hướng đào tạo khác.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
THEO CHÂN NGƯỜI TU PHẬT
 
 
Trong căn nhà cấp 4 ở khu Xáng Múc thị xã Rạch Giá, ông Hai Ðức, nguyên là lính Tiểu đoàn 307 rồi khi tập kết ra Bắc ở Sư đoàn miền Ðông 330 kể : "Sau vụ lính đá banh bị gẫy giò, tôi với ổng nhận đồng hương rồi nhận cha nuôi con nuôi, ông kể với tôi chuyện ổng đi tu Phật. Thấy chuyện của ổng vui vui thì nghe, lúc đó không có ý thức tìm hiểu gì nên tôi không có hỏi sâu. Chuyện ổng kể không phải một lần mà qua nhiều thời gian khác nhau, tôi chắp nối lại thì như vầy :
 
Ông nội tôi người Quảng Ðông sang Việt Nam từ nhỏ, ở Cần Thơ, làm đầu bếp nấu ăn cho các thợ xáng múc người Việt và người Pháp. Ổng gặp bà nội người Ô Môn. Ba tôi sanh ở Cần Thơ, ông nội đặt tên là Lưu Tấn Thành mong cho sau này nên người. Khi lớn thì ba theo nội sống trên xáng. Sau nội gởi ba sang chiếc xáng khác để làm việc vặt và học nghề. Do siêng năng chịu khó nên ổng được người thợ cả thương, cho làm việc luồn rừng cắm mốc cho xáng đào kinh Rạch Giá - Hà Tiên, dần dần làm thợ coi máy rồi tiến tới làm thợ cả. Người thợ đó gả em gái mình cho ba. Vì làm thợ cả nên ba má được chủ xáng cho phép quây một phòng riêng trên xáng làm chỗ ở. Giáp tết năm 1900 má sinh tôi trên con xáng này trong khi ba đang theo con xáng đào kinh Xà No. Thời đó tôm cá nhiều, đời sống trên xáng dễ dàng nên má được ăn uống đầy đủ, tôi sanh ra khá lớn con, được hơn 4 ký lận. Tôi lớn lên trên con xáng nầy rồi ông già cho học nghề xáng tiếp. Khi đào con kinh Rạch Giá - Hà Tiên, ông già phát hiện ra vùng đất kinh Mốp Giăng thuộc xã Mỹ Hiệp Sơn huyện Châu Thành đất nước ngọt rất tốt nên trong khi vẫn làm xáng, ông bỏ công sức khai khẩn được hơn 300 công đất. Khi đất thuộc thì má nghỉ không làm trên xáng nữa mà ở nhà cai quản mấy chục mẫu điền. Sau đó cả ba cả tôi cũng nghỉ làm xáng luôn. Ba lập đình thờ thành hoàng và miễu Bà Chúa xứ ở hai bên kinh Mốp Giăng. Do kinh tế khá giả lại có công lập đình thờ thành hoàng nên ba được làng bầu làm hương cả, gọi là Hương cả Thành. Vào khoảng những năm 1930 - 1933 ở vùng mình nảy sanh nạn địa chủ cướp điền của dân. Chúng cho tay chân dùng dáo mác gậy gộc tới đánh đuổi dân, cướp đất rồi bán cho chúng. Nông dân nhiều nơi nổi lên đánh lại. Trong một trận đánh cướp ở Mốp Giăng, do tôi bày mưu tính kế, khiến cho một thằng cướp bỏ mạng. Biết thế nào dân cũng bị chúng trả thù, tôi bàn với bà con là tự đứng nhận vụ này. Ngay trong đêm gia đình đưa tôi đi trốn.  Hôm sau, tin con trai Cả Thành đánh chết tên cướp lan ra. Tôi lên Long Xuyên rồi qua Châu Ðốc. Tôi nghĩ, là thằng trốn tránh mà túi không tiền lại không có ‘nghề’ là không được nên vô Núi Cấm xin học võ. Học xong tôi theo đám mãi võ Sơn Ðông đi diễn, kiếm ăn, khi nghề cứng lên, tôi nhập bọn anh chị bảo kê đứng bến ở bến xe khách Lạc Hồng chợ Rạch Giá. Làm ít lâu, nghĩ lại thấy quá nguy hiểm vì dân đứng bến thường oánh lộn, nếu chẳng may có chuyện gì, án mới chồng lên án cũ thì hết cách. Lại nữa, dân đứng bến dễ có thù oán, lỡ đứa nào biết tung tích mình mà vì thù hằn báo với cảnh sát thì nguy. Nghĩ vậy, tôi thấy không gì hơn là bỏ xứ, theo anh em sang Miên làm ăn.
 
Tôi theo bạn bè lên Nam Vang rồi dần dà dạt tới Batđomboong. Ðang ngơ ngác bước trên bến cảng thì có người kêu :
 
- Anh làm phu khuân vác được không ?
 
Ðang đói khát, có người cho việc làm, tôi mừng húm, nói :
 
- Tôi làm được!
 
Người chủ thâu nhận tôi, cho vác lúa gạo từ kho xuống ghe chài. Tôi có sức nên làm khoẻ và nhanh hơn những người khác. Ðến cuối ngày, tôi được trả hai hào, cao hơn công của những người khác. Biết ở xứ người cuộc sống chẳng dễ dàng nên tôi cần mẫn chăm chỉ làm việc, sống biết điều với mọi người. Nhờ vậy nhiều người nể. Một bữa có ông chủ người Ấn đi kiếm người biết tiếng Việt để mướn làm thông ngôn. Ông này làm ăn ở Nam Vang và xuống đây xin mở cúp khai thác cây. Ông cần người biết tiếng Việt để giao dịch với kiểm lâm người Việt. Nghe nói có tôi là người Việt đang làm phu khuân vác, ông ta tìm đến hỏi thăm ông chủ của tôi rồi mướn. Ông chủ Ấn Ðộ giao cho tôi trông coi anh em thợ cắt cây, giao thiệp với kiểm lâm, hàng tháng lãnh tiền phát lương cho thợ. Mọi việc tôi đều làm dứt dạt đàng hoàng nên ổng tin và quý, thường thưởng cho, khi thì bộ quần áo, khi năm ba đồng. Tôi học nói tiếng Ấn, dần dần nói chuyện được với ông chủ, nên quan hệ với ông gần gũi hơn.
 
Một bữa, ông chủ xuống phát lương xong, quày về Nam Vang, tôi tiễn ông ra đến cổng rồi làm mấy việc vặt. Đến khi ăn cơm xong chuẩn bị đi ngủ mới thấy chiếc va ly ông chủ để quên ở góc nhà. Va ly không khoá, tôi mở coi thử thì là một va ly tiền mới cứng, trong đó có những xếp bạc Bộ lư 100 đồng của Ngân hàng Ðông Dương.
 
- Mầy biết lúc đó tao thế nào không ? Tao ngẩn người ra, nín thở dường muốn hụt hơi. Cả một đống tiền, nằm mơ cũng chưa bao giờ nghĩ tới. Một gia tài có thể đủ sống một đời ! Lấy rồi trốn đi, một tiếng nói tự nhiên thì thầm vào tai. Nhưng rồi tôi tỉnh lại. Lấy rồi trốn đi đâu ? Về xứ thì không được. Mang tội giết người giờ lại thêm tội ăn cắp thì sống sao nổi với nhục nhã ? Mà lấy của ai chớ của ông chủ hiền lành tốt bụng vầy được sao ? Phân vân mãi, suốt đêm ấy tôi trằn trọc không ngủ được.
 
Gần sáng, nghe tiếng xe hơi thắng lại trên sân, biết là xe ông chủ, tôi vội vàng trở dậy bước ra. Ông chủ hối hả chạy lên cầu thang. Tôi nói trước để ông yên tâm :
 
- Ông chủ để quên cái va ly.
 
Ông chủ bình tĩnh trở lại, nhìn tôi lặng lẽ. Tôi lôi chiếc valy từ trong mùng ra, đặt trước mặt ông, nói :
 
- Tiền của ông còn nguyên đó, ông đếm lại đi.
 
Không nói không rằng, ông mở va ly, tay ông run run, khuôn mặt xúc động. Ông rút trong va ly ra xấp tiền đưa cho tôi. Tôi không nhận, đỡ tay ông, nói :
 
-  Ông chủ cho tôi nhiều rồi. Lần khác ông chủ cho, tôi xin nhận. Lần này tôi không thể nhận được. Ông chủ đi đường mạnh giỏi !
 
Tháng sau xuống phát lương, ông chủ đưa tôi về Nam Vang làm việc với ông. Ông có hai cửa hàng vải lớn, phải mướn hơn hai mươi người Ấn làm việc. Ông ở cùng người vợ và cô con gái. Nhưng hai người không tham gia vô việc kinh doanh mà chỉ trông coi nhà cửa. Ðược một thời gian, không hiểu sao ông chủ Ibrahim giao cho tôi quản lý một cửa hàng. Lúc đó tôi thiệt bối rối nhưng làm sao mà từ chối, đành cũng liều mạng làm. Tôi ráng học cho thành thạo tiếng Miên và tranh thủ học tiếng Ấn để nói chuyện với ông chủ và giao tiếp với những người Ấn Ðộ làm công. Rồi một bữa, ông kêu tôi vô phòng làm việc của ông, nói :
 
- Tôi thấy anh là người tốt, thiệt thà, hiền lành, siêng năng. Vợ chồng tôi muốn gả con Mary cho anh. Ý anh thế nào ? Ông chủ nhìn tôi hỏi.
 
Mày biết tâm trạng tao lúc đó sao không ? Như người nằm mơ. Mơ cũng không dám mơ vậy. Nhưng tôi cũng hiểu, phải thận trọng kẻo mang tiếng hồ đồ không ra gì. Tôi đành dùng kế hoãn binh, xin ông cho suy nghĩ thêm. Sau ba ngày đêm suy nghĩ căng thẳng, tôi thấy nên nói thật với ông chủ : mình là người nghèo, tứ cô vô thân, được ông chủ giúp cho nên người từng bước một, chưa bao giờ nghĩ tới vinh dự lớn như vậy. Ông bà chủ thương thì rất cảm ơn, chỉ sợ cô Mary không chấp nhận, khinh rẻ. Ông chủ động viên :
 
- Tôi rất hiểu tâm trạng của anh, nhưng anh yên tâm, vợ chồng tôi sẽ thuyết phục được con gái tôi, hơn nữa, theo phong tục Ấn, khi lấy Mary anh sẽ được tặng của hồi môn nên không còn nghèo nữa.
 
Sau đó ông Ibrahim đặt tên Ấn Ðộ là Hăcxacôp Chanđra rồi nhập quốc tịch Ấn cho tôi. Ngày đám cưới, tôi được tặng cửa tiệm vải đang trông coi, ông bà Ibrahim còn mua tặng vợ chồng tôi căn nhà riêng.
 
Mầy hẳn nghĩ, ở hoàn cảnh vậy chắc tao vui lắm chớ gì ? Vui thì vui nhưng lại lo, nỗi lo khắc khoải, phấp phỏng : không hiểu cô gái đối với mình ra sao ? Sống gần gũi khá lâu nhưng phải tới ngày lên chùa làm lễ cưới tôi mới nhìn rõ mặt. Một cô gái 19 tuổi cao ráo, nước da nâu, khuôn mặt phúc hậu như Phật bà.
 
Dù đã dự liệu nhiều tình huống nhưng thực tế với tôi lại đơn giản và nghiệt ngã hơn nhiều. Ðêm tân hôn, khi người thân ra về hết, ông bà Ibrahim chúc phúc hai vợ chồng tôi rồi từ biệt. Chỉ còn hai đứa trong căn nhà rộng mênh mông, Mary lẳng lặng bỏ về phòng mình. Ngồi suy nghĩ mãi rồi tôi đi về phía phòng của nàng, nhẹ nhàng xoay nắm cửa thì nhận ra cửa khóa từ bên trong. Tôi khe khẽ  gõ cửa. Chỉ có im lặng thăm thẳm đáp lại ! Buồn ngao ngán, tôi trở về phòng, cũng đóng trái cửa, mở chai cônhắc ra uống. Tôi hiểu, số phận mình đã được định đoạt. Sống giữa những người xa lạ, tôi càng bẽ bàng hơn trong vai trò thằng chồng hờ ! Làm sao đây ? Công bằng mà nói, Anna Mary không có tội. Nàng là cô gái xinh xắn, dễ thương, hiền dịu, hiếu thảo. Tội duy nhất của nàng là không yêu tôi. Nhưng đó đâu phải tội lỗi ? Bởi lấy tôi nàng quá thiệt thòi ! Nghĩ vậy rồi tôi lại nghĩ, mình có thể làm được gì đây ? Mầy hiểu thế nào là chó chui gầm chạn chưa ? Liệu tao có thể làm như thằng vũ phu là phá cửa cưỡng bức nàng không ? Sau này tôi biết, nhiều đàn ông Ấn Ðộ từng làm thế, luật pháp cho phép họ. Nhưng tao không thể. Chẳng những tôi đang là chó chui gầm chạn mà thực ra tôi không đang tâm, không muốn ép buộc nàng ! Vậy thì nói thật với ông bà Ibrahim chăng ? Cùng lắm là ly dị, lúc đó tôi có toàn quyền hưởng phần hồi môn. Nhưng không thể làm thế. Nó bộc lộ sự bất tài bất lực của mình, một thằng đàn ông, không chinh phục nổi một cô gái ! Hơn nữa, điều đó cũng dáng xuống ông bà Ibrahim cú đòn nặng nề, mình thành kẻ hàm ơn nên oán ! Nghĩ hết nước, tôi thấy, nếu nàng tiếp tục như đêm nay, chỉ còn cách chơi trò diễn tuồng với nàng : im lặng chịu trận, làm như vợ chồng vui vẻ ! Ðể xem rồi tới đâu ? Nghĩ thế, tôi yên tâm ngủ.
 
Sáng hôm sau, tôi chủ động dậy mở cửa hàng bán vải. Lúc này vai trò của tôi đã thay đổi nên khách đến mua hàng đông hơn, công việc bận mải cuốn mình đi. Mỗi khi về nhà, cơm ngon canh nóng có sẵn. Mary chăm sóc, nói cho ngay là hầu hạ tôi chu tất nhưng không bao giờ ngồi ăn cùng mâm. Nàng như cái bóng trong nhà, khi có tôi thì cái bóng biến mất. Mầy biết không, những ngày đó là những ngày tao nén nhịn. Tuy vợ bên cạnh mà đêm nằm không nó tạo nên sự bức bối khó chịu nổi nhưng tôi thấy là phải giữ gìn, không thể buông thả đĩ điếm. Những lúc buồn quá, tôi chỉ ra tiệm uống vài ly cônhắc giải sầu. Bề ngoài chúng tôi vẫn vui vẻ : khi đến thăm ông bà nhạc, khi đi viếng cảnh chùa. Chúng tôi diễn tuồng khéo tới mức ông bà Ibrahim không biết gì, cứ tưởng hai đứa êm thấm lắm nên lâu lâu lại bóng gió mong có cháu ngoại để bồng!
 
Một bữa cha vợ biểu tôi :
 
- Ba mẹ muốn đưa con về Ấn Ðộ thăm gia đình và cầu trời Phật ban phước lành cho hai con.
 
Miệng tôi nói "dạ" nhưng nét mặt không bộc lộ tình cảm gì. Ông mướn người trông coi hai cửa hàng vải rồi dùng kim xăm trên mặt tôi những vết màu tối cho thiệt giống người Ấn. Nước da vốn đen, sau khi được xăm, lại nói tiếng Hin đu trôi chảy nên tôi chẳng khác một thương nhân Ấn thứ thiệt.
 
Từ Nam Vang gia đình sang Sài Gòn, đáp chuyến tàu khách tới Bombay rồi đi xe hơi về Tân-đề-li. Tới đây tôi mới biết dòng họ của ông Ibrahim là dòng họ lớn và giàu có. Họ nhường cho gia đình tôi cả ngôi biệt thự sang trọng. Ông bà nhạc đưa vợ chồng tôi đi thăm hỏi thân nhân gia tộc, đi du ngoạn nhiều danh lam thắng cảnh rồi tới chùa cầu phước cho hai vợ chồng. Những lúc ngồi sát bên nhau chắp tay cầu Phật, tôi thấy mắt nàng tuy thành kính nhưng lạnh tanh vô cảm. Tôi biết nàng không những không có tình cảm gì với mình mà ngay niềm tin ở thần thánh cũng không. Nàng chỉ làm mọi điều để vui lòng cha mẹ. Tuy giận cháy lòng nhưng tôi cũng thương nàng. Nàng cũng khổ kém gì mình ? Không thể sống thế này mãi, tôi nghĩ nhưng thực khó biết phải làm gì vì giờ đây càng khó hơn khi còn ở Miên. Nhưng sẽ có đường thoát, tôi chắc vậy.
 
Trong khi thăm viếng các ngôi chùa, tôi nghe nói : nhà chùa đang tuyển người đi Tây Phương tu Phật, đã có hai người, chỉ cần một người nữa là đủ. Hay là mình đi tu ? Tôi nghĩ và thấy đi tu cũng hay, cũng là một cách giải thoát khỏi cái cảnh khốn khổ này. Tôi còn được biết, đi tu là vinh dự cao nhất cho gia đình. Vậy thì mình sẽ đi, không chỉ là việc giải thoát mà còn trả ơn với gia đình ông Ibrahim. Nghĩ vậy, tôi nói với vị sãi cả là tôi muốn đi tu. Lúc đầu cũng nghĩ, đi tu là chuyện bình thường, cạo đầu, mặc áo cà sa. Nhưng không ngờ ngay sau khi vừa ngỏ lời, một hồi chiêng trống vang lên tưng bừng rộn rã. Người ta ùa đến vây lấy tôi, kính cẩn cúi chào, có người còn quỳ xuống lạy rồi hôn chân khiến tôi ngây người ra ngỡ ngàng. Càng lạ hơn khi thấy ông Ibrahim dắt tay Mary lách đám đông tiến về phía tôi. Bước tới gần, quỳ xuống, Mary xá tôi như lạy một bậc thánh. Tôi thật bất ngờ vì mặt nàng nhìn tôi thành kính biểu lộ mối xúc động nồng nàn. Theo quy định, tôi phải ở lại chùa bảy ngày để làm lễ, xông hương, sau đó trở lại từ giã gia đình. Tôi được tắm nước thơm, thay bộ áo cà sa, ngồi thiền trước bàn thờ Phật. Suốt thời gian đó ngày nào cha mẹ vợ cùng Mary cũng tới chùa quỳ sau lưng. Còn tôi, suốt bảy ngày đêm ngồi thiền định không nhúc nhích, ngủ cũng trong tư thế thiền định.
 
Sau những ngày ngồi thiền ở chùa, cả họ hàng nhà ông Ibrahim kéo đến cổng chùa hoan hỷ rước tôi về nhà. Toà biệt thự gia đình ở chật ních người. Họ đặt tôi ngồi thiền ở đại sảnh còn già trẻ lớn bé quỳ xung quanh. Tất cả đều lặng lẽ, thành kính trong hương trầm ngan ngát. Tôi cũng ngồi yên trong tư thế nhập thiền, đôi mi khép hờ, một tay duỗi thẳng trước ngực một tay đặt trên tấm áo cà sa bằng lụa vàng. Về khuya, mọi người dần dần tản đi nghỉ, chỉ còn Mary vẫn quỳ trước mặt tôi, đầu hơi cúi, hai tay thành kính chắp trước ngực, đôi mắt nhìn tôi chờ đợi. Tôi lặng lẽ đứng dậy đi về phòng của mình. Mấy ngày ngồi thiền người khá mệt, tôi nằm thư giãn, suy nghĩ mông lung. Chợt tôi thấy Mary tới quỳ xuống bên giường, vẫn trong tư thế thành kính lúc nãy. Tôi vẫn nằm im lặng một lúc rồi ngồi dậy nhìn nàng. Hai người cứ im lặng như thế khá lâu. Rồi đưa tay nâng nàng dậy, tôi quàng tay ôm nhẹ hông nàng qua lớp xà rông dầy. Im lặng, nàng cúi đầu đi giật lùi ra ngoài. Lát sau Mary quay lại trong bộ đồ ngủ mỏng, mùi nước hoa dìu dịu. Tôi run rẩy mở nút tấm áo ngủ làm bằng sương khói của nàng rồi ngắm đến no nê thân thể nàng tròn trặn đẹp lộng lẫy như pho tượng apsara bằng đồng hun. Hai tay nàng vẫn chắp trước ngực bỗng run rẩy choàng riết lấy vai rồi nàng nép vào người tôi, và rồi dù có cố kiềm chế, nước mắt cũng trào ra, nàng nấc lên khóc tức tưởi. Lúc bấy giờ tôi vô cùng bối rối nhưng sau này nghĩ lại, hiểu rằng nàng khóc vì hối hận cho những ngày tháng vô vị trôi qua đến khi nhận ra được hạnh phúc thì cũng là lúc sắp chia xa.
 
Thoáng cái đã đến ngày tôi phải lên đường. Bữa đó, từ sớm người ta đã vây lấy cổng nhà tôi ở rồi sau đó chia làm hai hàng quỳ dọc theo lối đi. Khoảng 7 giờ, một đoàn người rước kiệu cùng cờ quạt chiêng trống thì thùng tiến vô sân. Vị sãi cả cúi đầu mời tôi lên kiệu. Tôi quay lại xá mọi người trong nhà rồi lên kiệu. Ông sãi cả chậm rãi lần tràng hạt bước phía trước, người đi đường nối theo thành đám rước dài. Tới chùa, tôi được dẫn tới trước bàn thờ Phật tổ, một lễ cầu nguyện diễn ra, vị sãi cả làm lễ chúc phúc cho tôi. Tôi ở lại chùa ít ngày vừa học kinh vừa nghe hướng dẫn về con đường đến Tây Phương. Ngày lên đường, các vị tăng đưa tôi ra cổng. Tại cổng chùa, hai hàng người quỳ lạy, trong tiếng chiêng trống rộn ràng tiễn tôi đi. Vị sãi cả đưa tôi đi một quãng xa thì dừng lại. Chiếc xe hơi quen thuộc của gia đình đón sẵn. Ông Ibrahim mời tôi lên xe ngồi ghế trên, còn bà Ibrahim ngồi sau với Mary. Ông Ibrahim lên xe sau cùng, ngồi sau tay lái. Theo con đường quốc lộ, xe đi về phía tây. Ðến chiều, khi không còn đường đi nữa, tôi xuống xe, chia tay gia đình. Cả ba người quỳ xuống trước mặt tôi. Tôi bước lùi lại. Mary tay vẫn để trước ngực, mắt nhìn tôi đăm đắm như người mất hồn. Cầm lòng không đặng, tôi quay người lại, bước vội. Một nhà sư đã chờ sẵn, dắt tới con ngựa màu lông hung hung rồi tôi cùng nhà sư lên ngựa đi vào rừng. Ngoái lại tôi thấy vợ tôi cùng cha mẹ vợ vẫn quỳ, nhìn hướng về tôi…
 
Phải qua nhiều đèo suối, nửa đêm tôi mới tới một cảnh chùa nằm trong hang núi.
 
Sáng ra vị sãi cả trong chùa nói rằng tôi phải ở lại chùa một thời gian vừa học kinh vừa học thuốc và luyện tập, khi nào thành thục mọi thứ sẽ lên đường đi Tây Phương. Ðầu tiên tôi được cho ngồi thiền và nhìn mặt trời buổi sáng. Vừa cầu kinh, tôi vừa lần bấm ngón tay, từ ngón trỏ tới ngón út. Lúc đầu nhìn mặt trời mới lên còn êm nhưng sau đó thì chói quá, muốn nổ tung con mắt. Ðúng lúc đó người ta kêu vô. Tôi được dạy kinh Phật, không có quyển sách nào, chỉ học truyền miệng. Buổi chiều một vị hoà thượng cao niên dạy các môn thuốc toàn bằng cây cỏ : lá nào trị cảm cúm, nhức đầu, lá nào trị đau bụng tháo dạ, rồi dần dần những thuốc trị rắn cắn, gẫy xương. Do biết chữ Hin-đu, tôi ghi chép những lời thầy giảng để học lại nên mau thuộc. Chiều xế lại được hướng dẫn ra ngồi thiền cầu kinh nhìn mặt trời lặn. Ban đêm tôi được cho nằm trên phiến đá rất lạnh. Không hiểu sao lại có phiến đá lạnh đến vậy, lạnh hơn mọi vật chung quanh, như có ai ướp nước đá. Ban đầu lạnh quá không ngủ được nhưng về sau mệt ngủ thiếp đi. Cứ đêm đêm nằm thế riết rồi quen. Tôi còn được tập luyện Yôga, mà nhìn mặt trời cũng là một môn luyện Yôga. Tiếp đó học khí công, luyện cách điều hoà nhịp tim. Trong cái hang tôi ở còn có phiến đá nữa, nóng hơn bình thường, dường như được người ta nung lên vậy. Sau thời gian ngủ trên đá lạnh, tôi được chỉ cho ngủ trên tảng đá nóng. Lúc đầu nóng quá không ngủ được nhưng mãi rồi quen. Nhờ vậy quen dần với nóng với lạnh. Thời gian trong ngôi chùa hang trôi đi chậm chạp, không có việc gì phải gấp gáp. Học không thuộc thì học lại, học nữa, chỉ khi nào thật thuộc thật nhuyễn mới thôi. Khi thấy tôi đã học đủ có thể lên đường được rồi, vị sãi cả cho người đưa tôi đi bộ trở lại con đường mấy tháng trước, đến bịnh viện gần nhất. Ở đấy tôi nằm lại một tuần cho người ta cắt ruột dư. Trong những ngày đó, tôi càng nhận ra người ta chuẩn bị cho người đi tu Phật thật chu đáo. Cắt ruột dư xong, tôi trở về chùa. Ngày lên đường, vị sãi cả đưa cho một ít thuốc, một ít trái cây làm thức ăn rồi tất cả cùng quỳ xuống đọc kinh tiễn tôi lên đường. Trước khi đi, tôi được dặn kỹ đường đi cách sao cho khỏi lạc và cần phải làm gì khi đến nơi tiếp.
 
Ba người đi tu Phật bọn tôi ra khỏi chùa, quay lại xá mọi người rồi chân trần bước trên sỏi đá. Mỗi người là một thế giới riêng câm lặng nên chỉ mấy ngày sau mỗi người một ngả. Sau này tôi không bao giờ gặp lại những bạn tu đó nữa. Tôi đi theo những con đường mòn ngoằn ngoèo khi lên đèo khi băng suối trong ánh sáng u u minh minh ban ngày và mịt mùng tối trong đêm. Không hề có bóng người nhưng lâu lâu lại bắt gặp cái am nhỏ, có nhang đèn có trái cây cúng. Của ai ? Tôi tự hỏi rồi đoán chừng, phải chăng có người của nhà Phật vẫn theo dõi và giúp mình trong những ngày đầu tiên? Nghĩ thế, tôi yên tâm, thắp nhang, khấn vái rồi ăn một mớ, còn lại cho hết vô bọc mang theo. Quả thật, nếu không có những trái cây đó, không biết tôi có qua được không ? Mình to con, làm khoẻ nhưng cũng mau đói nên lúc đầu ăn lá cây chịu sao thấu, nhiều khi đói muốn ngất xỉu, mắt đổ hào quang. Những trái cây ngon lành từ các am đó trợ sức nhiều lắm. Buổi đầu tập ăn lá cây cũng cả là một chuyện khổ ải. Ðói khát thì phải ăn nhưng ăn rồi bụng đau cồn cào, ói ra mật xanh mật vàng. Nhưng không ăn thì chịu chết sao? Những bận gặp tổ ong thì mừng thiệt lớn. Ăn một mớ rồi lấy mật, lấy sáp mang theo. Tôi cũng chú ý kiếm củ sâm rừng, mang theo ăn dần.
 
- Vậy trong rừng không khi nào ba gặp tổ chim rồi sóc hay thỏ sao? Ba có bắt nó ăn thịt không ?
 
-  Thằng nầy hỏi coi bộ gắt ta ! Ăn chớ sao không ? Biết là giới răn cấm sát sanh nhưng đói quá chịu sao thấu. Một lần gặp tổ chim gì đó trong bộng cây, tôi mò tay vô thấy bốn cái trứng bằng trứng gà con so. Mút vô, thấy tỉnh táo hẳn. Có bận gặp con nhái bên bờ suối, mình bắt, lột da rồi ăn sống từ từ từng chút một, vừa ăn vừa coi chừng xem bụng dạ có sao không. Cũng nghĩ là mình làm bậy, phạm điều răn. Nhưng lại nghĩ, mình mới đi tu mà, đã thành Phật được đâu, cũng phải từ từ. Càng đi lâu càng quen với trái với lá cây rừng không còn bị cái đói hành hạ nữa, lúc đó tôi thấy tổ chim, hay sanh vật ngay trước mắt cũng dửng dưng không còn thèm khát ! Tôi tự hỏi : phải chăng như thế mình đã thành Phật ? Từ đó tôi không còn bao giờ sát sanh nữa.
 
Sống lâu trong rừng tức là sống trong đêm và hoàng hôn, mắt người thường sẽ nhìn kém đi nhưng tôi nhờ tập nhìn mặt trời nên mắt vẫn tinh, có thể nhìn khá xa trong bóng tối. Tuy vậy nhưng mắt không ngon bằng tai. Trong rừng tai thành giác quan chủ yếu. Nhờ nghe tiếng rừng, mình biết nơi có thác nước là có vực sâu, phải thận trọng tránh xa, nếu không sa xuống vực thì bỏ mạng. Nhưng cái chính là nhờ tai mà kiếm được thức ăn. Trong rừng chủ yếu ăn trái cây mà chim rừng là loại thày dạy kiếm trái cây thần sầu. Do theo dõi hoạt động của chim, mình biết, nếu có con nào phát hiện ra trái chín, chúng gọi nhau, báo cho nhau nên lũ chim lần lượt bay về một hướng, vừa bay vừa kêu. Mình đi theo hướng đó. Khi thấy bầy chim vừa ăn vừa hót huyên náo là đã đến gần cây có trái chín. Lúc đó chỉ còn việc leo cây hái trái, còn nếu cây cao quá thì mót lại những trái mà bầy chim làm rớt, nhưng thường thì tôi ráng leo cây vì gặp những bữa liên hoan như vậy chẳng dễ dàng gì. Những trái cây chim ăn vừa ngon ngọt lại không độc.
 
Ði mãi lâu, chừng khoảng nửa năm, mới tới cảnh chùa thứ hai. Mầy có biết tao mừng cỡ sao không ? Mừng vì nhìn thấy con người, mừng vì được nghe tiếng người. Khi đi trong rừng, tôi chỉ lầm rầm đọc kinh, nói một mình, nghe cũng một mình. Giờ được nghe tiếng người, tôi hiểu mình không cô độc. Ðâu đâu trong rừng tối mênh mông vẫn có đồng loại đồng đạo của mình. Thấy người thấy cảnh chùa là vui nhưng cũng không phải là chuyện nghỉ ngơi. Lại học những bài kinh mới do vị sãi cả truyền cho, lại ngồi thiền, lại tập Yôga. Các vị hoà thượng dạy thêm cho những môn thuốc quý cùng những biện pháp chống thú dữ, rắn độc. Những gì học được khi ở ngôi chùa đầu tiên cộng với kinh nghiệm trên đường đi, lại được nâng lên một chút. Khi kiểm tra những bài kinh đã dạy, thấy tôi thuộc rồi, vị sãi cả hướng dẫn đường đi đến ngôi chùa tiếp. Sau đó cho tôi ít thuốc cùng trái cây, họ cầu kinh chúc phước tiễn lên đường.
 
-  Vậy có khi nào ba gặp thú dữ không ba, nghe nói rừng Ấn Ðộ dễ sợ lắm mà ba ?
 
- Dễ sợ là với cái khác, còn thú dữ tôi không gặp gấu, chỉ một lần gặp cọp. Bữa ấy tôi đang đi thì thấy bầy khỉ nháo nhác chuyền cành chạy trối chết. Tôi đoán chừng có cọp nên chuẩn bị đề phòng. Lát sau thì mùi hôi xốc lên và con cọp lớn bước tới. Trước khi vô rừng, tôi được dạy, nếu gặp thú dữ thì ngồi xuống tụng kinh, Phật sẽ độ. Tôi nghĩ ngồi tụng kinh hổng chắc ăn nên vội ngồi thụp xuống, lấy cái cây vẫn mang bên mình chõi ngược lên. Chúa sơn lâm dừng lại nhìn trừng mình, mình nhìn lại. Hai bên đang đấu trí nhau như vậy, mình lấy hết hơi sức bất ngờ thét lớn, vang như tiếng sấm. Cọp giật mình dông tuốt vô rừng.
 
- Ði trong rừng hoài vậy, ba có nhớ nhà không ?
 
- Thằng nầy hỏi kỳ, nhớ chớ sao không ? Nhớ ba má ở Mốp Giăng, nhớ vợ con không biết sống ra sao. Từ ngày ra đi nào có tin tức gì đâu. Tôi cũng nhớ ông bà Ibrahim và Mary. Thương Mary muốn thắt ruột. Tôi không trách nàng. Lúc đầu nàng không thương mình cũng có lý của nàng bởi mình có ra gì đâu. Khi hiểu và thương tôi thì nàng thương hết lòng. Nhưng tới lúc đó mọi thứ đã rồi, không thể hồi được nữa. Càng thương họ, tôi càng muốn sống để về gặp lại. Mà tôi mang máng tin là sắp có con với Mary.
 
Công việc của tôi trong rừng chỉ là đi. Muốn mau tới đích, tôi tận dụng mọi thời gian, lần hồi rồi đi được ngay cả khi ngủ, việc kiếm thức ăn cũng ít mất thời gian hơn vì nhu cầu của cơ thể giảm đi, mà cũng làm quen với lá rừng, củ rừng nên không phải tìm kiếm mất công như trước nữa. Khi bị bịnh, tôi tự chữa bằng những vị thuốc mang theo hoặc ngắt những lá cây chung quanh. Có bận tôi bị hòn đá chuồi lăn trúng bàn chân trái, đau quá, ngất đi. Ðêm xuống tỉnh lại thấy bàn chân còn bị đá đè, tôi lấy cái cây luôn mang theo bên mình bẩy hòn đá rút chân ra rồi lấy thuốc trong bọc bôi, lấy lá rừng bọc lại. Hai bữa sau chân khỏi, lại đi tiếp.
 
Ðến một cảnh chùa khác, tôi lại được học kinh, ngồi thiền. Nhưng ở đây nhung nhúc những rắn nên mọi người phải học cách sống chung với rắn. Họ dạy tôi cách dùng một loại lá rừng thoa khắp cơ thể, lúc đó rắn không cắn nữa. Lúc đầu cũng hoảng nhưng rồi thấy ai sao mình vậy, quen dần. Có bữa ngủ dậy thấy chú hổ mang cuộn tròn ngủ ngon lành trong áo cà sa. Thấy động, chú ác xà dương cái đầu ba cạnh bành mang nhìn rồi lặng lẽ bò đi.
 
Cứ thế, tôi đi qua nhiều cảnh chùa. Có ngôi chùa làm trong hang núi. Tận dụng cái hang, người ta đục đá làm thành bệ thờ, tu sửa những ngách hang thành tăng phòng. Kỳ công hơn là những ngôi chùa do con người tự tạo. Ở đây ngoài xã hội loài người, con người sống hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên, hầu như không có chút gì của thế giới văn minh. Chỉ bằng bàn tay, họ xếp đá thành những bức tường, lấy cây làm cột, làm mái che mưa chắn gió. Các tăng sĩ sống lặng lẽ nhưng tự giác. Họ là những con người của thế giới thoát trần với những khuôn mặt ưu nhã, những vầng trán thanh cao không chút vẩn đục vì dục vọng. Trong số họ có những người cũng đi tu Phật như mình nhưng không thể đi tiếp mà ở lại đây. Họ không ghen tỵ mà hết sức giúp những người đi xa hơn họ. Có những người vì muốn được ghi nhớ, muốn được người sau thờ nên kỳ công khoét núi làm thành cái am nhỏ rồi cũng lập ban thờ, nhang đèn thờ Phật. Khi người đó viên tịch, đồng đạo đem thiêu rồi đặt xá lỵ trong am. Những người đến sau thừa hưởng cái am nên thờ họ. Cùng nén nhang cúng Phật có nén nhang thắp cho vị bồ tát quá cố. Nhìn những cảnh ấy, nghe những câu chuyện ấy, tôi thật cảm động, thấy kính trọng họ. Không biết việc tu hành của họ có thành chánh quả không nhưng họ là những con người đáng trọng.
 
- Ðường xa như vậy, gian nan vậy, có khi nào ba muốn bỏ về ngang xương không ba ?
 
- Làm sao bỏ ? Có ai bắt mình đi tu đâu, tình nguyện cơ mà. Dù cực chẳng đã mới đi nhưng mình hiểu, nếu không thành Phật thì ít nhất cũng là đền được ơn ông bà Ibrahim và cả Mary nữa. Tôi không có đường trở về. Tôi không sợ chết vì biết rằng người đi tu Phật mà bỏ trốn sẽ bị phỉ nhổ thậm chí bị giết chết vì bị cho là ma quỷ, thần phật không cho phép đi tu nên đuổi về. Cái chính là nếu bỏ trốn sẽ không còn mặt mũi nào nhìn mọi người nữa. Chính việc không có đường lui càng khiến tôi thêm nghị lực đi đến cùng để được trở về với người thân. Nói thực lúc đó tôi chả biết là Phật rồi thì sẽ làm gì mà chỉ nghĩ đi cho tới nơi để được trở về với mọi người.
 
Suốt những năm đi trong rừng, quá nhiều hiểm nguy nhưng có lẽ thử thách gay go nhất với tôi là hai lần vượt sông. Mùa mưa, con sông cuồn cuộn chảy như thác, nước lao ầm ầm. Sông rộng chỉ khoảng nửa cây số nhưng việc vượt qua là quá sức người. Hàng tuần dừng lại bên bờ sông, vừa ngồi thiền vừa suy tính. Tôi thử cho cành cây xuống nước, dòng nước hung dữ cuốn mất tăm. Tôi thử đẩy cả một cây lớn xuống. Cây cũng bị cuốn đi nhưng trôi chậm hơn, ngụp lặn trong xoáy nước. Mừng thầm, tôi nghĩ là có cách rồi. Tôi lấy dây rừng kết lại thành một cái dây thiệt dài. Cột một đầu dây vô gốc cây trên bờ, mình ngồi lên cái cây lớn làm bè, chất đống dây lên đó rồi thả từ từ. Nước dữ quá, cuốn cây đi băng băng tưởng chết. Ðành bỏ cây, bám vô dây lội vào bờ. Lần sau tìm cái cây lớn hơn, tôi lên cây, rị dây cho cây từ từ trôi qua phần sông bên kia. Thả riết cho tới khi cây cách bờ bên không bao xa. Nhưng nước vẫn xiết nên phải ngồi rình cả buổi tới một giây phút dòng nước có vẻ bớt hung hãn hơn, tôi nhảy đại xuống nước lội sang bờ bên. Lần sau có kinh nghiệm, tôi vượt sông nhanh hơn nhưng cũng thuộc về may mắn. Biết bao bất trắc có thể xảy ra : dây đứt hoặc bất thần có một cái cây lớn trôi ngang qua, cuốn luôn mình đi. Cũng thiệt phiêu lưu khi nhảy xuống nước, biết đâu lúc đang lội, dòng nước tưởng là yên ổn bỗng nổi hứng bất tử chảy mạnh nhấn chìm mình luôn...
 
- Tôi đi riết trong rừng không biết bao nhiêu năm nữa, có chừng ngót cả chục năm thì đến cảnh chùa thứ chín. Cũng như ở các chùa trước, vị sãi cả cùng chư tăng đón mình không vồ vập nhưng chân tình. Còn mình thì mừng hết lớn vì biết không lạc đường, lại được gặp người, được nói tiếng người. Vị sãi cả dạy những bài kinh mới. Khi nghe tôi đọc lại, biết rằng tôi đã thuộc, vị đó bảo có thể lên đường đến cảnh chùa cuối cùng là Tây Phương. Vị đó nói, đường tới chùa sẽ gặp thử thách lớn nhất là phải đi qua cây cầu độc mộc bắc ngang một khe núi nước chảy xiết. Khi đi ngang qua không được mở mắt. Một buổi chiều, các vị bồ tát trong chùa tụng kinh chúc phước cho tôi, sau đó tôi lại tiếp bước vô rừng.
 
Ði miết, tôi thấy trời ngày một lạnh thêm, khí trời hình như cũng loãng hơn, phải thở nhiều hơn. Lúc này, bàn chân đã dạn dày, không còn ngán sỏi đá gai góc, cái bao tử cũng teo lại, hầu như không thấy đói nữa, một ngày chỉ ăn mấy trái cây, thậm chí nhấm mấy hạt mè cũng xong. Nhìn phương hướng, tôi biết mình đang đi lên phía Bắc. Gặp một khe núi sâu, nước chảy sôi sục, tôi men theo khe đi ngược dòng nước chảy để tìm lối sang bờ bên kia. Ði mãi thì đúng như vị sãi cả ở ngôi chùa thứ chín nói, gặp một cái cây đổ vắt ngang khe, làm thành cây cầu độc mộc dài hun hút mà phía dưới nước chảy cuồn cuộn sôi sục gầm réo như thác đổ. Làm cách nào để qua cầu ? Tôi tự hỏi trong khi ngồi thiền vừa lần tràng hạt vừa tụng niệm. Tôi phân vân, tại sao vị sãi lại nói qua cầu không được mở mắt ? Cố nhiên vị bồ tát không nói dỡn, lại càng không lừa mình. Nhưng nhắm mắt làm sao qua cầu ? Tuy ngủ trong khi đi đường đã quen nhưng đó là trên đất. Làm sao có thể nhắm mắt khi qua cây cầu như vầy ? Suy nghĩ mãi, rồi nhìn dòng nước tôi chợt hiểu, vị sãi cả nói đúng : mở mắt nhìn dòng nước sẽ bị chóng mặt rớt xuống liền ! Hiểu ra vậy, tôi nghĩ : mở mắt nhìn dòng nước sẽ bị chóng mặt té. Nhưng nhắm mắt thì còn dễ té hơn vì làm sao mà bước đi ? Như vậy phải mở mắt mà không nhìn dòng nước và giữ sao cho không bị chóng mặt. Nghĩ vậy, tôi bước lên gốc cây trên bờ vực, giữ nhịp tim đập chậm, đồng thời he hé mắt nhìn thẳng phía trước, tai quên tiếng nước gầm, tìm những chỗ sẽ đặt chân mà không nhìn xuống vực. Và tôi lần từng bước qua cầu. Sang tới bờ bên, tôi quỵ xuống, người xỉu đi.
 
Qua cầu, đi không bao lâu nữa theo hướng vị sãi cả ngôi chùa thứ chín kể thì tới chùa Tây Phương, ngôi chùa lớn nhất trong tất cả những cảnh chùa tôi đã đi qua. Chùa cũng khá đông người. Vị sãi cả vẻ người phương phi quắc thước rất già nhưng không biết là bao nhiêu tuổi, dường như biết trước là tôi sẽ đến nên đã chuẩn bị những thứ cần thiết. Khi tôi bước tới, một người dẫn tôi đi tắm bằng nước thơm, thay bộ cà sa mới vì áo của tôi đã rách bươm. Sau đó tôi lại tiếp tục ngồi thiền học kinh, học theo những câu kinh vị sãi cả truyền dạy. Ðến khi tôi đọc lại cho ông toàn bộ bản kinh ông đã dạy thì sãi cả nói : Học vậy là đủ, không còn kinh để dạy nữa. Cần ôn lại những kinh đã học trong những ngày qua. Tôi lại ngồi thiền, tự mình nhẩm đọc lại toàn bộ những bài kinh học được từ ngày vô chùa, mấy tháng trời cần mẫn ngày nào cũng như ngày nào. Một bữa tôi đang đọc như mọi ngày thì vị sãi cả đến nói :  đã đắc đạo trở thành Phật rồi, không đọc nữa mà trở về giúp ích cho đời. Nói xong ông đưa cho tôi hai viên ngọc đựng trong hai cái túi, không nói rõ là ngọc gì và tác dụng ra sao, chỉ nói vắn tắt : viên trong túi đỏ lâu lâu phải cho nó uống sữa người đẻ con so. Viên trong túi vàng, lâu lâu cho nó bò trên bề mặt bằng phẳng, giữ nó sẽ thoát mọi tai ương. Sẵn sợi dây từ hai cái túi, tôi đeo hai viên ngọc vào cổ rồi chia tay các vị sãi. Như tập quán từ lâu, các vị vẫn ngồi thiền đọc kinh, không đứng dậy đưa tiễn. Tôi quỳ trước mặt từng người đọc kinh chúc phước họ rồi lẳng lặng ra khỏi chùa. Lúc đó trời đã xẩm tối nhưng với tôi là chuyện bình thường, từ lâu đã học được thói quen đi trong đêm, có thể vừa đi vừa ngủ, chỉ khi mệt quá mới ngả người cho lại sức.
 
Rời chùa, theo lệ ở đây, tôi tới ngồi đưới gốc cây bồ đề cổ thụ để tĩnh tọa, đọc kinh và dưỡng sức. Mỗi ngày tôi chỉ uống nước suối và nhấm nháp một chục hạt mè. Sau một tháng tĩnh tọa dưới gốc bồ đề, tôi lên đường đi tiếp.
 
Tôi biết rằng, từ khi rời gốc bồ đề này là đã trở lại cuộc đời. Ðể lại ngôi chùa Tây Phương phía sau với những năm tháng tu hành trong rừng già là tôi đã để lại một phần cuộc đời quá đặc biệt mà lúc này tôi chưa hiểu hết. Tôi không còn nhớ tới những gian nan khó nhọc, những vất vả sinh tử đã qua mà nhớ khuôn mặt những bị bồ tát, những con người sống như lặn vô cõi tinh thần, từ bi, thoát tục không mang một chút bụi trần. Tôi cũng nung nấu lời nói của vị hoà thượng chủ trì chùa Tây Phương : trở về giúp đời ! Quả thật lúc đầu tôi không hiểu mình có thể làm gì giúp đời nhưng nghĩ xa nghĩ gần, tôi thấy điều đơn giản tôi có thể dùng những môn thuốc học được qua những năm tu luyện trong rừng, trị bịnh giúp mọi người cũng là việc giúp đời. Vì vậy tôi yên tâm và tin ở mình.
 
Lần này tôi trở về theo hướng đông, không biết là qua những đâu, chỉ láng máng đoán ra có lẽ mình vuợt qua cả biên giới Ấn Ðộ sang Miến Ðiện vì rừng chỗ nào chả như chỗ nào. Tôi không hiểu có đoạn nào trùng với con đường xưa thầy trò Tam Tạng đi thỉnh kinh không. Ði miết mấy tháng thì ra khỏi rừng già nhưng vẫn phải men theo triền núi. Ðã có những con đường rẽ xuống đồng bằng, nhìn xa xa thoáng thấy bóng dáng những làng xóm. Tôi không ghé xuống xóm làng đó vì biết đường về còn xa. Bây giờ nhu cầu của tôi giảm tới mức thấp nhất, đói thì ăn lá rừng, trái cây rừng, chỉ nhúm lá hay vài trái cây là đủ, còn khát uống nước khe. Thỉnh thoảng lại gặp những tấm biển chỉ đường bằng chữ Phạn và theo đó tôi đi miết. Một hôm có một đám dân thiểu số đóng khố, mặt bôi xanh bôi đỏ, tay cầm dáo mác reo hò vẻ hung dữ vây lấy tôi, lăm lăm dáo mác như muốn đâm. Không biết đối phó ra sao, nhớ lời dạy lúc vô rừng, tôi ngồi xuống nhắm mắt đọc kinh, tay lần tràng hạt, mặc sự đời tới đâu thì tới. Tới gần trưa họ bỏ đi, còn tôi cũng căng thẳng quá nên đuối sức, nằm lăn ra ngủ. Khi tỉnh dậy, thấy bên cạnh một mâm trái đào lớn, chín mọng, một bình rượu bằng trái bầu. Ðào thiệt ngọt mà thơm, còn rượu là loại rượu nhẹ, có mùi nhân sâm mà trong các cảnh chùa vẫn thấy người ta làm để uống cho khoẻ người. Tôi ăn đào, phần còn lại bỏ hết vào bọc mang đi. Gian nan tưởng đã qua, nhưng thử thách sau còn tởn hơn. Một buổi chiều, đang đi men theo chân núi thì một đám người hung dữ xông đến trói chặt tôi lại, đưa lên giàn hỏa có sẵn tự bao giờ. Họ ngồi xung quanh đọc kinh rồi nổi lửa đốt. Lần này thì tôi hoảng thật sự. Nhưng muốn hay không cũng vậy. Tôi nghĩ miên man, vậy là không gặp lại gia đình rồi, nhưng chết vầy có thành bồ tát không ? Tôi luôn miệng cầu kinh. Không hiểu sao lửa vừa nóng lưng thì tắt. Họ khiêng tôi xuống, mở trói. Tôi lại ngồi lần tràng hạt và đọc kinh. Ðám người thiểu số cả đàn ông đàn bà phục xuống vừa xá tôi vừa lầm rầm đọc kinh bằng tiếng  của họ. Sau đó họ đội tới mấy mâm trái cây, ra hiệu mời tôi. Tôi nhận một số đủ dùng còn lại ra hiệu đem phân phát cho mọi người. Họ cúi đầu vái rồi bỏ đi. Bằng vào việc làm của họ, tôi cho rằng họ thử thách xem tôi có phải là chân tu không.
 
-         Vậy vì sao lửa lại tắt, ba ?
 
-         Không hiểu nổi. Tôi chỉ nhớ lúc đó trời khô, đám củi họ chất dưới giàn hoả dễ bén lửa. Muốn dập lửa phải tưới nhiều nước hoặc rút củi. Nhưng tôi không thấy nước cũng chẳng có ai rút củi vì ngoài số cây bị cháy đen, đống củi còn nguyên.
 
-         Có lẽ do hai viên ngọc ?
 
- Vị chủ trì chùa Tây Phương nói đeo hai viên ngọc đó sẽ tai qua nạn khỏi, không biết có phải vậy không ?
 
Tôi lại lặng lẽ đi tiếp và tưởng như khổ tận cam lai, mọi gian nan đã qua nhưng rồi không ngờ một thử thách ghê gớm nhất lại tới. Ghê gớm do chỗ mình bị động, bị cuốn vô mà không hay. Tìm đường đi, tôi men theo vách đá tới một hẻm trống, đi hoài theo hẻm cho tới khi cùng đường thì nhận ra không thể thoái lui được nữa mà phía trước là vách cao, dưới là vực thẳm, chẳng khác gì đi men tường vậy. Phải bám vô vách núi rồi lựa từng chỗ đặt chân, không có chỗ nào để ngồi, lâu lắm may mắn gặp được cái hốc chui vô nghỉ tạm. Khi mệt quá hay trời tối không tìm được nơi đặt chân, phải tựa vô vách đá, đứng chợp mắt, chỉ sa xẩy một bước là tan xương. Trời sáng thì tiếp tục đi. Ðói nhấm lá cây trên vách đá, khát lấy lưỡi liếm những giọt nước từ trong đá rịn ra. Mấy tháng trời đánh đu trên miệng vực như vậy, đến khi nhìn thấy ánh sáng trước mặt, mừng muốn run người vì biết rằng đã thoát khỏi con hẻm hãi hùng.
 
- Hàng mấy tháng trong đó có khi nào ba mệt mỏi muốn buông xuôi không ?
 
- Mệt mỏi thì có, còn buông xuôi thì không. Tuy biết rằng chỉ cần buông tay, chỉ cần giả vờ bất cẩn, là được giải thoát khỏi mọi nguy nan, khỏi mọi đau khổ. Nhưng mình không bao giờ nghĩ đến buông xuôi mà luôn luôn tin sẽ chiến thắng trở về. Nếu bất cẩn té ngã ở đây thì công lao bao nhiêu năm sẽ thành tro bụi uổng phí.
 
Ra khỏi miệng con hẻm, soi mặt vô nước thì thấy mình như một gã người rừng, râu tóc dài hàng gang tay, bù xù như tổ quạ, chiếc cà sa tơi tả chỉ còn mấy mảnh trên người. Nhưng đáng mừng là nhìn phía trước mặt đã thấy con đường dẫn xuống đồng bằng. Tôi không đi vội mà nghỉ lại ít bữa, đập mấy hòn đá lấy mảnh sắc cạo râu cắt tóc cho gọn lại, vá lại áo cà sa, kiếm mật ong và sâm rừng làm thức ăn bồi bổ sức khoẻ và mang theo dự trữ. Rồi tôi xuống núi.
 
Tôi cứ đi, không biết được điều gì đang xảy ra ở ngoài kia, không biết rằng tiếng đồn về ông Phật sống đã lan truyền đi trước cả bước chân mình nên khi tới Tân Cương, thấy từng đoàn người mang cờ phướn đứng bên đường, tôi cứ tưởng họ làm lễ hội gì. Nhưng khi thấy họ quỳ xuống lạy thì hiểu rằng họ đến đón rước mình. Có những người quỳ xuống hôn chân, có những người cầm tay tôi đặt lên đầu con cái họ. Lúc đó, tôi nhận ra, họ đón rước Phật sống và cũng muốn nhận được phước lành từ Phật. Một bữa tôi đang đi trong đám rước như vậy thì ba chiếc xe hơi đón đường. Bằng tiếng Anh tôi hiểu được thì họ là người của Lãnh sự quán Anh tới mời tôi về Thượng Hải. Họ để tôi ngồi một mình trên chiếc xe sang nhất đi giữa. Tôi được đưa về lãnh sự quán Anh. Thày thuốc người Anh tới coi sức khoẻ, nói nội tạng bình thường nhưng ốm nên phải bồi dưỡng. Họ đưa thức ăn của họ tới nhưng tôi không ăn mà chỉ ăn trái cây và uống nước suối. Tiếp đó người ta đưa tôi sang Hồng Kông rồi đưa tiếp sang Luân Ðôn. Tại sao người Anh lại o bế mình đến vậy, tại sao họ đưa sang Luân Ðôn ? Tôi tự hỏi rồi tự trả lời rằng, phải chăng người Anh đô hộ Ấn Ðộ mà dân Ấn đang đấu tranh giành độc lập nên người Anh muốn dùng mình là ông Phật sống để lấy lòng dân Ấn ? Dù sao đi nữa cũng phải cảnh giác. Tôi không dùng những thức ăn họ mang đến. Họ đưa tới một bộ cà sa may bằng lụa nhẹ vàng rực, tôi không nhận mà vẫn giữ bộ cà sa cũ của mình.
 
Kể tới đây, anh Hai Ðức nói :
 
- Không hiểu sao lúc kể cho tôi nghe, ông già không hề nói tới cà sa bằng lá cây mà chỉ nói vá lại tấm cà sa cũ. Nhờ đọc của ông Phạm Tường Hạnh tôi mới biết đến cà sa bằng 72 chiếc lá cây, có khả năng phòng bịnh…
 
- Có gì khó hiểu, chắc nhiều chuyện quá nên cụ quên, vả lại cụ cũng coi cà sa bằng lá là chuyện thường, không đáng kể, tôi nói.
 
Tới Luân Ðôn, người ta đưa tôi vào ở trong ngôi chùa nhỏ nhưng sang trọng. Suốt ngày tôi không nói một lời, chỉ ngồi tụng kinh, lần tràng hạt trước bàn thờ Phật. Tôi nhận ra những ngày đó người ta tới chùa thật đông, đến vãn cảnh lễ chùa một phần nhưng phần lớn muốn xem ông Phật sống Ấn Ðộ mà báo chí đưa tin như sự kiện lớn. Một số người muốn xin tôi ban phước nhưng tôi từ chối nói rằng tôi là khách, việc đó là của vị sư trụ trì chùa.
 
Có lẽ qua báo chí Anh, gia đình vợ tôi được tin tôi tu đắc đạo rồi được đưa sang Luân Ðôn nên cha vợ tôi là ông Ibrahim làm đơn gửi viên Toàn quyền Anh tại Ấn Ðộ xin cho tôi trở về Ấn Ðộ với gia đình.
 
Trở lại Ấn Ðộ, người ta rước tôi về ngôi chùa mà trước đây tôi xin tu Phật. Một đám rước linh đình kéo dài dường như vô tận. Dân chúng quỳ dài suốt hai bên đường tôi sẽ đi qua, chắp tay vái lạy. Tôi nhận ra Mary vợ tôi dắt con trai Xô Chim của mình cũng quỳ trong những hàng người vô tận đó.
 
Từ khi tôi vào chùa, người ta hứng lấy nước tôi tắm đem về chia nhau làm thuốc trị bịnh, người bệnh vừa uống vừa thoa bóp. Người ta cũng chọn những cô gái đẹp con nhà quyền quý cho đến ở với tôi để lấy giống Phật. Trong vòng sáu tháng, nếu cô nào có thai đẻ con trai thì đứa nhỏ được đi tu Phật. Nếu không có thai hoặc đẻ con gái là trời Phật không nhận, cô gái trở lại cuộc sống bình thường. Nhờ có quy định này mà Mary được đến ở cùng tôi nên tôi có thêm đứa con trai tên Talep.
 
Gần hai năm sau khi tôi trở về, một bữa ông Ibrahim bảo :
 
- Anh có biết luật tu Phật là sau khi thành chính quả, Phật sống có hai năm để ban phước cho chúng sanh sau đó lên giàn hoả về trời không ?
 
Tôi nói tôi có biết. Ông lại nói :
 
-         Vậy anh có muốn về trời thiệt không ?
 
Tôi nói với ông rằng :
 
- Tôi người trần mắt thịt do cha mẹ sanh ra. Tôi còn có cha mẹ anh em. Những năm trong rừng tôi cố sống là để về với họ. Nay chưa được gặp họ, tôi về trời sao được ?
 
- Vậy chỉ còn một cách, tôi bố trí cho anh trốn. Có điều anh phải tuyệt đối tuân theo mọi chỉ dẫn của tôi.
 
Ông Ibrahim bí mật đưa tôi xuống cảng Bombay. Ông xuất một lô trái chà là và bom (táo) sang Việt Nam. Tôi được cho vô thùng táo rỗng có sẵn thức ăn, nước uống, phương tiện vệ sinh bằng cao su rồi được cẩu chuyển xuống tàu. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, tàu cập cảng Sài Gòn. Tôi được cẩu lên bờ cùng lô hàng, được chở ra khỏi cảng, tới một nhà kho. Người tâm phúc của ông Ibrahim đón tôi đưa về khách sạn, thuê phòng dưới tên Hăcxacôp Chandra thương gia Ấn Độ. Ngày hôm sau có xe đưa tôi về nhà ở Nam Vang. Ở nhà được ít ngày, do liên hệ của gia đình cha vợ tôi nên vua Cao Miên là Nôrôđôm mời tôi vào Hoàng cung. Nhà vua tiếp tôi trân trọng nhưng tôi biết trong đó có ý thử thách tôi vì chưa tin. Sau khi thử thách, biết tôi là Phật sống thiệt, nhà vua rất mừng vì đất nước đạo Phật là quốc giáo lại có được một vị Phật sống để thờ. Gia đình tôi xin với nhà vua đứng ra xây một ngôi chùa cho tôi tu hành ở Prệp Pra. Hoàng gia rất hoan nghênh, đề nghị góp số tiền lớn và cử người chủ trì việc xây cất sao cho đúng kiểu dáng và phong tục Miên. Cha vợ tôi chỉ phải góp một phần chi phí. Chùa xây xong, người ta làm lễ đón tôi vô chùa thật long trọng. Ðám rước dài từ Hoàng cung đến chùa với kiệu, trống, kèn, cờ quạt rợp trời, người hai bên đường xếp lớp quỳ lạy. Giống như ở Ấn Ðộ trước đây, người ta cũng đến lấy nước tắm của tôi làm thuốc trị bịnh và họ cũng tuyển con gái nhà quyền quý vào chùa lấy giống Phật.
 
Ngắt mạch văn kể chuyện, anh Hai Ðức cười, nói giỡn:
 
- Nhờ vậy ổng có thêm hai bà vợ người hoàng tộc Campuchia, một bà có con, ông già ngon quá ta !
 
Rồi vui chuyện anh kể: vào khoảng năm 1978 có một người Campuchia chạy loạn Pôlpôt sang Việt Nam thường tới thăm ông già, gọi bằng dượng, còn ông già gọi ông ta là bá tước, ông là cháu của bà vợ người hoàng tộc đó. Năm 1997 sau cơn bão số 5, trong đoàn đại biểu thị trấn Kep tỉnh Kampôt sang Kiên Giang cứu trợ, có người đàn bà tới thăm ổng và nhận là con gái. Ông già còn kể, lúc ở trong Hoàng cung, vua Nôrôđôm chọn người kế vị, có hỏi ông thấy hoàng tử Sihanuc thế nào? Ổng nói : “Được đó, nhưng phải cái hơi bị lùn, nếu cao hơn thì ngon.” Sau đó hoàng gia đúc tượng ông bằng bạc thờ trong Chùa Bạc.
 
Hai Ðức kể tiếp bằng giọng ông già:
 
- Ở chùa Prệp Pra dân cúng dường rất nhiều tiền, tôi xây bịnh viện, mướn bác sĩ đến chăm sóc miễn phí cho người nghèo. Làm như vậy là tôi thực hiện lời dặn của vị sãi cả chùa Tây Phương khi đưa tôi trở lại cuộc đời.
 
Ở Miên 5 năm, tới năm 1945 nghe tin nước nhà đuổi hết giặc Tây, giành được độc lập, tôi mừng quá nên quyết định trở về thăm gia đình. Hôm đó tôi mang theo một va ly bạc Ðông Dương, lái chiếc xe Renault màu đen của nhà chùa, nói là đi thăm ngôi chùa ở ngoại thành rồi lái xe qua biên giới về Châu Ðốc. Lúc đó Pháp bắt đầu chiếm lại Nam Kỳ, cuộc Nam Bộ kháng chiến nổ ra, Rạch Giá đã bị chiếm, tôi không về quê nữa mà ở lại tham gia kháng chiến tại Hồng Ngự, Long Châu Sa, làm trưởng ban trừ gian diệt tề rồi Giám đốc Ðề lao binh Khu 8. Sau đó làm Giám đốc phân Liên khu miền Tây. Trong những ngày chuẩn bị tập kết ở vàm Chắc Băng, bà Huỳnh Thị Tòng đưa con đến thăm. Bà Mary nhờ bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Miên đưa tới chỗ tập kết thăm tôi. Hai bà vợ tôi gặp nhau cùng tổ chức ăn uống vui vẻ. Ở lại với tôi một đêm rồi bà Mary theo ghe về Tân Hiệp lên xe nhà trở lại Nam Vang.
 
Kể đến đây, anh Hai Ðức nhìn tôi nói:
 
- Tôi thấy hình như có gì đó khó hiểu trong chuyện này. Khi kể với nhà văn Phạm Tường Hạnh, ông già không nói việc về Ấn Ðộ. Trong Hồi ký cô Thanh Xuân ghi cũng không viết. Nhưng sao ông già lại kể với tôi ?
 
Tôi nói với anh :
 
- Ðọc bài viết của ông Phạm Tường Hạnh, tôi thấy có chỗ không hiểu nổi là vì sao sau khi thành Phật sống, ông cụ về Campuchia mà không về Ấn. Tu thành Phật sống là chuyện lớn, là vinh dự cho nước Ấn, cho đạo Phật Ấn. Ðó là cái quả phúc lớn lắm, sao người Ấn lại không mang về xiển dương Phật giáo, ban phúc cho dân. Ông Nêru có quan hệ họ hàng với gia đình Ibrahim sao lại không biết lợi dụng Phật sống để khuếch trương thanh thế gia tộc, làm tăng uy tín cá nhân trong việc đoàn kết người Ấn chống xâm lăng ? Người Anh còn biết làm điều này nên muốn tranh thủ Phật sống nữa là ? Thắc mắc ấy tôi không biết hỏi ai. Ðến khi được anh Tư Thạch nói, trước đây, cụ có kể việc trở về Ấn rồi sau đó ông già vợ bố trí cho trốn qua Campuchia trong thùng đựng táo, giống như anh vừa kể, tôi hiểu là mình thắc mắc đúng và chuyện đã xảy ra như nó phải thế !
 
- Nhưng tại sao trong Hồi ký ông già không kể lại? Anh Hai Ðức vẫn băn khoăn.
 
- Có lẽ vầy, cụ không kể việc này vì cụ không muốn lý lịch vốn đã phức tạp của mình càng phức tạp hơn. Phải chăng ông Phật sống chân thành yêu nước hồn nhiên theo cách mạng, mặc áo cà sa đi vận động Tuần lễ vàng, tham gia Ủy ban Kháng chiến Hành chính huyện Hồng Ngự rồi Trưởng ban trừ gian diệt tề tỉnh Long Châu Sa, làm Giám đốc Đề lao binh... đã phần nào thấm thía cái không đơn giản của việc hoạt động cách mạng, nhất là trong phong trào chỉnh quân chỉnh cán năm 1953 ? Ngay cả việc bà Huỳnh Thị Tòng tới với cụ, cụ nhận là vợ chính thức rồi cũng kể với nhà văn Phạm Tường Hạnh như vậy. Chỉ sau này, do sự việc rõ ràng và cũng để tạ lỗi với bà Lê Thị Ngân nên trong Hồi ký cụ nói lại ? Tôi cũng có suy nghĩ thế này: cuộc đời cụ dài hơn trăm năm. Nhiều chuyện trước đây cụ không nhớ nữa nên những điều ông Phạm Tường Hạnh viết ra, cụ coi như bổn chánh. Hồi ký sau này cũng chủ yếu dựa vào bổn chánh đó? Trầm ngâm một lúc rồi tôi cười: phải chăng cụ cũng chơi trò khai man lý lịch ?
 
Tôi hỏi anh Hai Ðức :
 
- Cụ có nói với anh chuyện quy thành phần của cụ không ? Anh Tư Thạch nói là cụ kể như vầy : năm 1955, cụ ra Thanh Hoá một thời gian thì học cải cách ruộng đất trong quân đội. Lúc đó đơn vị thuộc quyền của đội cải cách. Một bữa toàn đại đội ngồi trong căn nhà năm gian của địa chủ bị tịch thu để dự cuộc bình xét thành phần. Anh em ngồi trên chiếu trải dưới đất. Cán bộ đội cải cách ngồi trên bàn nhòm xuống. Trung uý Lưu Công Danh ngồi phía trước, đối diện với anh em. Do lý lịch đã được nhà văn Phạm Tường Hạnh viết từ trước nên bữa đó không cần tự khai mà đội cử người đọc bản lý lịch dài của ông. Ðọc xong, mọi người phát biểu. Cuối cùng, đội trưởng nhận xét bằng giọng nặng chịch của dân miền biển xứ Nghệ : 
 
- Về anh Lưu Công Danh (trong thời gian cải cách, mọi đội viên đều được gọi bằng anh, không dùng đồng chí), trước hết chúng ta thấy trong cuộc họp hôm nay, anh Danh đã có thái độ thiếu nghiêm chỉnh. Khi nghe đọc lý lịch của mình, đáng lẽ phải thật chăm chú để thấy được cái tội lỗi của thành phần mình nhưng anh ta lại mất tập trung, phân tán tư tưởng, ngồi lúc để chân bên này lúc để chân bên khác. Nhân danh đội cải cách, tôi chính thức phê bình thái độ đó. Còn về thành phần của anh Danh, như các anh đã nghe đó, ba má anh ta là thợ làm thuê cho thực dân đế quốc, tức cộng tác với đế quốc. Hơn nữa lại có ruộng đất. Các anh có biết đất nhà anh Danh rộng thế nào không ? Gần 40 héc ta tức là hơn 100 mẫu Bắc Bộ. Ở miền Bắc cũng ít có địa chủ ruộng nhiều đến thế. Nhưng do hoàn cảnh Nam Bộ nên thành phần gia đình anh chỉ là phú nông. Như vậy là cách mạng đã khoan hồng nhiều lắm. Anh phải biết điều đó để cảm ơn cách mạng. Còn về bản thân, anh ta rất phức tạp, khó xếp vào loại thành phần nào : từ khi rời khỏi nhà, lúc mãi võ Sơn Ðông, lúc làm dân anh chị đứng bến xe, làm thông ngôn rồi làm quản lý cho chủ tư sản mại bản người nước ngoài, cuối cùng là hành nghề mê tín dị đoan. Vì vậy sau khi nghiên cứu và xin ý kiến của Ðoàn, chúng tôi nhất trí xác định thành phần giai cấp của anh Lưu Công Danh là thành phần vô sản lưu manh, hành nghề mê tín dị đoan !
 
- Có, ổng có kể với tôi chuyện đó, nhưng mãi sau này.
 
Anh Hai Đức xác nhận.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
VUA PHẬT VỀ TRỜI
 
 
 
Ðọc ký sự "Vua Phật Lưu Công Danh đi kháng chiến" của nhà văn Phạm Tường Hạnh đến đoạn sau khi sang Luân Ðôn, Phật sống Ba Danh được gia đình xin về Phnômpênh quả thật tôi thấy lạ và khó tin. Tôi nghĩ, một vị Phật sống như vậy phải là quốc bảo, là niềm tự hào của Phật giáo, của đất nước Ấn Ðộ. Công lao bỏ ra cho việc tu Phật không nhỏ. Vậy sao người Ấn không đưa ông về nước để tôn vinh đạo Phật Ấn Ðộ, để phật tử được hưởng phúc từ Phật sống mà lại chỉ vì hợp lý hoá gia đình mà cho ông sang Campuchia một cách dễ dàng ? Thật khó hiểu.
 
Tôi đem thắc mắc đó về Rạch Giá hỏi bạn bè, những người gần gũi cụ Ba Danh thì được trả lời : "Anh nghĩ đúng. Ổng cũng về Campuchia nhưng sau này, còn khi thành Phật thì từ Luân Ðôn ổng được đưa về Ấn Ðộ, sống trong ngôi chùa ông đã vào tu hành lúc đầu ở Ðề-li. Những tình tiết sống ở đó thì đại để cũng như bên Campuchia mà ông Phạm Tường Hạnh đã viết : người ta hứng nước tắm của ổng làm thuốc trị bịnh, làm nước phép và tuyển con gái đẹp nhà quyền quý đến chùa lấy giống Phật. Nhờ vậy mà bả được gần gũi ông, sinh ra người con tên Ta-lep. Nhưng gần hai năm sau, ông già vợ của ổng, ông Ibrahim biểu : "Luật tu Phật là sau khi đắc đạo, Phật sống có được hai năm sống trên trần để ban phước cho chúng sanh. Hết hạn hai năm phải về trời bằng cách lên dàn thiêu. Anh tính sao ?"  Ông Ba nhận ra sự việc nghiêm trọng và càng thấy ông già vợ Ibrahim thật chân tình với mình và cũng là con người rộng rãi. Ông Ba nói thiệt long : "Tôi là người phàm do ba má sanh ra, việc đi tu là bất đắc dĩ, thành Phật cũng do may mắn. Tôi còn ba má anh em ở Việt Nam, tôi muốn về gặp họ, chớ về trời làm gì ?" "Vậy được, để tôi lo." Ông Ibrahim trả lời.
 
. Ông Ibahim bí mật đưa chàng rể xuống cảng Bombay, trên tàu của hãng Messagerie Maritime Sài Gòn đi BomBay, nơi ông xuất một lô táo sang Việt Nam. Ông cho Phật sống vào trong một thùng đựng táo rỗng, trong đó có đủ thức ăn nước uống, phương tiện vệ sinh, đưa xuống bến rồi được cẩu chuyển lên tàu. Tàu cập bến Nhà Rồng, ông Ba được đưa lên bờ rồi gia đình đón sang Campuchia. Việc Phật sống tự nhiên biến mất cũng không làm cho phật tử xao động vì được giải thích là đã đến hạn nên ngài về trời.
 
Câu chuyện trên do anh Tư Thạch kể với tôi nhiều năm trước, sau này gặp, anh Hai Ðức cũng kể đúng như vậy.
 
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
TRỊ NHÂN VIÊN CANADA
 
 
 
Sau hai năm không thống nhất, cán bộ miền Nam tập kết nhớ quê hương gia đình nên rất buồn. Trong số này có thượng uý Lưu Công Danh. Ngồi chơi xơi nước ở Bộ Ngoại giao, nhàn cư, Ba Danh thường cùng một số bạn bè và các cháu học sinh miền Nam đi bát phố quanh Hồ Gươm. Khi có tiền thì vô nhà thuỷ tạ ăn kem Hồng Vân. Có bận mấy chú cháu đang ăn kem thì ông Trần Ngọc Năm cũng dân Rạch Giá dẫn mạng tới. Thấy bạn, Ba Danh mừng rỡ nói với đám trẻ :
 
- Kìa, chú bọn bay kia rồi, chào chú Năm đi !
 
Bọn trẻ mừng rỡ kêu chú cháu rối rít.
 
- Bọn bay thèm gì kêu đi, có chú bay đây trả tiền, khỏi lo ! Chỉ chờ có thế, đám trẻ hò nhau kêu món ăn. Hết đường thối lui, báo hại ông Năm trần thân chịu trận, chi hết số tiền mang đi trị bệnh, ngay sau đó phải lên tàu trở về Phú Thọ mượn tiền trở xuống.
 
Quanh Hồ Gươm thời ấy thường gặp từng nhóm ba người Ấn Ðộ, Ba Lan và Canađa đi với nhau. Họ vừa đi vừa nói chuyện sôi nổi. Họ là nhân viên của Ủy ban quốc tế giám sát thi hành Hiệp định Giơnevơ. Theo tâm lý chung của bộ đội lúc đó, Ba Danh rất ghét các nhân viên Canađa, định bụng sẽ tìm cách trị cho bọn này một trận. Buổi chiều đó, Ba Danh ăn mặc quân phục chỉnh tề, đội mũ lưới có đeo sao nghiêm chỉnh. Phía trước ông là ba nhân viên quốc tế đi hàng ngang, choán phần lớn con đường xi măng bên hồ. Nhân viên Canađa da trắng, to con nói say sưa với nhân viên người Ấn đi giữa, vừa nói tay vừa vung mạnh. Ba Danh đi tới gần, sát vào viên sĩ quan Canađa. Anh chàng này vung tay, gạt mũ của Ba Danh xuống đất. Bước lên trước, chặn đối thủ lại, Ba Danh chỉ tay yêu cầu y lượm mũ lên cho mình. Tay sĩ quan ngoại quốc đứng lại, trừng trừng nhìn người sĩ quan già bản xứ rồi đưa chân gạt chiếc mũ ra bên, định bước tiếp. Chỉ chờ có vậy, Ba Danh lao vào đánh. Viên sĩ quan biết võ nên né được đòn. Không chịu thua, Ba Danh rút dây lưng đánh tiếp. Viên sĩ quan Canađa vừa đỡ vừa lui, cuối cùng rớt xuống hồ cái ùm, ướt như chuột lụt. Người dân đông nghẹt đứng nhìn, được phen cười no bụng. Những năm đó ở Hà Nội, thường nghe lời đồn chuyện con gái đi làm khuya về qua cổng Ủy ban Quốc tế, bị nhân viên người Ấn bắt vào làm ẩu nên chuyện này làm người dân hả dạ. Công an kéo tới, đưa Ba Danh cùng sĩ quan Canađa vào đồn. Lát sau, người của Uỷ ban Quốc tế tới can thiệp, sợ Việt Nam bao che nhau xử thiên vị, yêu cầu dẫn độ về trụ sở của Uỷ ban Quốc tế đóng gần đấy. Một "phiên toà" được lập để xét xử tội phạm Ba Danh do một sĩ quan người Ấn đứng chủ, bên cạnh là một người Ba Lan và một người Canada. Nhiều sĩ quan và lính người Ấn, Ba Lan và Canađa đứng xem. Nhân viên Canađa tố cáo. Viên sĩ quan người Ấn đi cùng tường thuật, nói Ba Danh khiêu khích. Ông người Ba Lan cà lăm không nói được gì vì lúc đó đi phía kia không nhìn rõ. Ba Danh cãi :
 
- Tôi không khiêu khích ai cả, tôi là người đi đường, nếu vô tình làm rớt nón tôi thì phải lượm lên và xin lỗi tôi. Nhưng đằng này anh ta lại lấy chân đá nón tôi đi. Nón trên đầu là danh dự của một con người. Nón của tôi có ngôi sao vàng tượng trưng cho quân đội, cho quốc gia tôi. Khi quân đội và quốc gia bị xúc phạm, là người lính tôi buộc phải chống lại !
 
Ông sĩ quan chánh án nghe xong, phán :
 
- Ðây là hành động sĩ quan Việt Nam cố tình hành hung nhân viên Uỷ ban quốc tế, vi phạm quy chế hoạt động của Uỷ ban. Phải lập biên bản báo cáo về trên để kháng nghị với Chính phủ Việt Nam.
 
Viên sĩ quan ngồi bên cạnh cặm cụi viết biên bản. "Thằng Chà nầy cà chớn, nó dám binh thằng Canađa trắng trợn. Ðược, ông nội mầy cho mầy biết tay." Ba Danh nghĩ bụng. Viên chánh án người Ấn nhận tờ biên bản, đưa cho Ba Danh bảo ông ký vào. Ba Danh không cầm giấy mà nói khẽ câu gì đó. Thật bất ngờ, vừa nghe xong, viên sĩ quan quỳ sụp xuống lạy Ba Danh như tế sao. Chẳng ai bảo ai, mọi nhân viên người Ấn có mặt, cũng quỳ xuống vái "tên tội phạm". Chỉ đến khi Ba Danh nói điều gì đó, họ mới thôi vái và khúm núm đứng lên. Lúc này thái độ của viên sĩ quan người Ấn khác hẳn. Anh ta trở lại phê bình nhân viên người Canađa đã làm sai lại không biết xin lỗi nên mới có chuyện. Việc làm của ngài sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam là "tự vệ chính đáng". Mọi chuyện huề. Sau đó đám nhân viên người Ấn xếp hàng kính cẩn tiễn đưa Ba Danh.
 
- Anh Ba nói sao mà đám quan đám lính Chà Và lạy anh như vái ông Tà vậy ?
 
- Có gì đâu, mình chỉ xổ một câu Phật ngôn thôi mà !
 
Ba Danh đáp tưng tửng. Không có biên bản, chẳng có kháng nghị nhưng chuyện lan khắp Hà Nội, truyền về Bộ Ngoại giao. Ba Danh một lần nữa bị kiểm điểm về tội vô tổ chức, vô kỷ luật ảnh hưởng đến uy tín của quân đội cách mạng. Nhưng dường như từ đó, đám nhân viên người Canađa và người Ấn trong Uỷ ban quốc tế bớt lừng phèn !
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
PHẬT SỐNG THĂM LÀO
 
 
Do tác động tiêu cực của Hiệp định Giơnevơ, tình hình chính trị bên Lào rất xấu. Chính phủ Liên hợp ba phái của hoàng thân Phuma bị phái hữu khống chế, hai tiều đoàn quân Pathet Lào bị bao vây nguy ngập ở Cánh Ðồng Chum. Vô hình trung nước ta cũng bị bao vây về phía Tây. Làm chuyển biến tình hình chính trị ở Lào trở lại trung lập tích cực là yêu câu cấp thiết lúc đó, không chỉ có lợi cho ta mà còn tác động tốt đến cách mạng Lào. Người có vai trò quyết định trong việc này là vua Lào. Bác Hồ giao nhiệm vụ phải mời bằng được nhà vua Lào sang thăm nước ta. Một phái đoàn cấp chính phủ do Bộ trưởng Xuân Thuỷ dẫn đầu chuẩn bị lên đường. Thời gian này Lưu Công Danh công tác ở Bộ Ngoại giao. Bác Hồ gọi Ba Danh đến nói:
 
- Chú đi cùng để tham mưu cho phái đoàn.
 
- Thưa Bác, cháu sẽ làm gì ?
 
- Cái đó thì Ðoàn lo, còn việc của chú là mời bằng được nhà vua Lào sang thăm nước ta.
 
Sang Lào, Ðoàn ta được tiếp đón trọng thể, ở nhà khách Hoàng gia. Nhà vua hẹn tiếp Đoàn. Ông Ba Danh nói với Bộ trưởng Xuân Thuỷ :
 
- Chắc chắn nhà vua sẽ đãi cơm. Nếu đãi theo tư cách chính phủ thì nhận còn nếu nhà vua đãi theo nghi thức Hoàng gia thì đừng nhận lời !
 
Quả nhiên nhà vua mời cơm. Ông Xuân Thuỷ nhận lời nhưng không nói rõ là đãi tiệc theo nghi thức nào.
 
Hôm sau, nhà vua cho đưa kiệu long đình của vua, có cờ quạt chiêng trống cùng dàn nhạc đi kèm tới chỗ phái đoàn ta ở. Người phụ trách nghi lễ kính cẩn mời ông Ba Danh lên kiệu rước, còn phái đoàn ta có Bộ trưởng Xuân Thủy rồi Tố Hữu… đi bộ tháp tùng theo sau đến Hoàng cung. Vào dự tiệc, chỗ ngồi được bố trí như sau: chỗ cao nhất là Phật sống Ba Danh. Nhà vua Lào ngồi dưới. Bậc thứ ba là hoàng tộc. Cuối cùng là khách Chính phủ Việt Nam cùng Chính phủ Hoàng gia Lào.
 
Ðến khi dọn thức ăn, cũng theo thứ tự trên : mỗi món ăn được dâng phật sống nếm trước, đến vua rồi hoàng tộc và cuối cùng là khách Chính phủ Việt Nam !
 
Bữa tiệc diễn ra trong không khí trang trọng. Xong tiệc, Phật sống đứng dậy chuyển lời Hồ Chủ tịch kính mời nhà Lào vua sang thăm Việt Nam. Nhà vua kính cẩn nhận lời.
 
Việc chung tốt đẹp nhưng Phật sống thì buồn : về nước, ông bị phê bình : “Đồng chí Ba Danh còn nặng tư tưởng phong kiến, thần quyền làm mất thể diện đoàn Chính phủ Việt Nam trên trường quốc tế !” Từ một vị lãnh đạo cao cấp ngành văn hoá tư tưởng, một chỉ thị được đưa xuống : “Một người như thế không thể ở trong Đảng được. Từ nay không cho Lưu Công Danh sinh hoạt Ðảng nữa”. Kể chuyện này cho tôi, anh Tư Thạch nói, từ đó Ba Danh bị ngưng sinh hoạt Ðảng. Nhưng rồi nghĩ lại tôi thấy có lẽ không phải vậy. Vì nếu không còn là đảng viên thì sẽ không có chuyện được đi đào tạo ở Liên Xô. Thêm nữa, trong ký sự, nhà văn Phạm Tường Hạnh viết khi ở Hợp tác xã xe ba gác, ông làm bí thư chi bộ. Như vậy có thể là, đã có chỉ thị mồm của ông lớn nào đó không cho Ba Danh sinh hoạt Ðảng nhưng chỉ thị này không được thực hiện. Nếu vậy không hiểu ông Ba Danh ngưng sinh hoạt Ðảng từ thời gian nào ? Phải chăng khi nước nhà thống nhất, mừng quá ông xin phép về thăm nhà, chưa biết về đâu và đinh ninh sẽ trở lại nên không cắt giấy tờ mang theo, sau đó ở lại luôn (hay mang giấy tờ về mà không nộp ? Theo tôi khả năng này ít, mà chỉ có thể, vốn là người ít chịu ràng buộc của giấy tờ, khi được trở về thì vui quá, ông già khỏi cần !), kết quả là không có tờ giấy lót lưng như cách nói Nam Bộ ?
 
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
GẶP CON
 
 
Sau khi Tổng thống Praxát về nước thì gia đình ông Ibrahim biết được tình hình của người con rể Hăcxacôp Chanđra. Vợ và con ông xin sang thăm. Ðiều này lúc đó rất khó khăn không chỉ về phương diện ngoại giao mà còn cả nội vụ. Số là cán bộ sơ cấp Lưu Công Danh sống trong khu tập thể ở Phúc Xá. Không thể để Phật sống tiếp vợ con trong nhà tập thể. Vì quốc thể, chí ít cũng phải cho ông một chỗ ở riêng coi được. Sau nhiều tính toán, cơ quan Bộ Ngoại giao phân cho ông một phòng riêng rộng 16 m2 ở đường Khâm Thiên để chuẩn bị đón tiếp vợ con. Theo tình hình thời đó, một phòng ở như thế là tiêu chuẩn của cục, vụ trưởng. Cấp bậc thượng uý mà được như vậy cũng là ưu tiên chiếu cố quá cỡ rồi. Nhưng tránh tập thể này thì có tập thể khác. Nhà riêng của chú Ba liền thành nơi đi về của đám lính Nam Bộ lang thang sau khi cho giải ngũ tám vạn quân và cũng là của các cháu học sinh miền Nam. Ba Danh tự nấu lấy ăn, nồi niêu xoong chảo đút gầm giường. Người con trai lớn tên Xôchim cùng em là Talep theo tàu Hải quân của Ấn Ðộ cập bến Hải Phòng rồi lên Hà Nội đến thăm cha. Nhìn cảnh sống của người cha, hai anh em rất thương cảm. Anh khẩn thiết mời cha trở về Ấn Ðộ để được mẹ cùng hai anh em phụng dưỡng. Bây giờ Ấn Ðộ đã được độc lập rồi, không nô lệ như trước nữa. Ông Ba nói :
 
-         Biết mẹ con mầy thương tao nhưng tao là người Việt Nam, ở đây tao có vợ có con, tao phải chăm lo cho chúng và cũng còn nhiệm vụ xây dựng đất nước tao.
 
Không thuyết phục được cha, Xôchim có nguyện vọng làm cho ông căn nhà tử tế. Anh đề nghị Bộ Ngoại giao Việt Nam lo cho ông một căn nhà khang trang. Mua hay xây cũng được, hết bao nhiêu tiền anh trả. Bộ Ngoại giao ta hứa bỏ kinh phí cất nhà cho ông, không cần anh phải lo. Thực hiện lời hứa, Bộ cho xây một căn nhà sát bên nhà làm cho Viện sĩ Lương Ðịnh Của ở gần Nhà máy sứ Hải Dương. Ðến ở được ít bữa, ông bỏ về Hà Nội vì chỗ đó xa quá, bạn bè không tới được. “Sống một mình, buồn thúi ruột !” Ông già than thở khi trở về lại căn phòng cũ ở Khâm Thiên.
 
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
KỶ NIỆM VỀ NGUYỄN BÍNH
 
 
Năm Bốn lăm, Nguyễn Bính lang bạt tới Rạch Giá, tá túc ở đình thờ Nguyễn Trung Trực bên dòng sông Kiên. Vì mến tài thi sĩ nổi tiếng người Bắc, gia đình nhà thơ Đông Hồ đón ông ra Hà Tiên. Khi Cách mạng nổ ra, ông theo cách mạng, làm uỷ viên Uỷ ban khởi nghĩa Rạch Giá rồi đi kháng chiến, công tác trong Ban Tuyên truyền Khu 8, nổi tiếng với nhiều bài thơ, trong đó có bài Tiểu đoàn 307 được phổ nhạc hát tưng bừng. Lưu Công Danh với tên thường gọi Ba Chà làm Giám đốc Ðề lao binh có quen biết Nguyễn Bính. Nguyễn Bính ra Bắc tập kết, để lại người vợ miền Nam cùng cô con gái nhỏ.
 
Khi Ba Danh được điều từ trong Thanh ra giúp việc cho Bộ Ngoại giao, đang ngồi chơi xơi nước, cũng là thời gian Nguyễn Bính làm báo Trăm Hoa. Không hiểu trong báo viết gì đó đụng chạm đến miền Nam hay do tác động nào khác mà cánh bộ đội miền Nam bạn bè của ông trong đó có Ba Danh rất bất bình. Lúc đó Nguyễn Bính cùng người vợ mới sống trong ngôi nhà gần nhà thờ Hàm Long. Biết được Nguyễn Bính sáng đội nón lá, mặc áo rách đi bán báo Trăm Hoa, chiều ăn vận lành lặn tử tế vào nhà thờ uống rượu với cha cố, anh em càng buồn càng giận. Mấy anh em do Ba Danh đầu têu bàn nhau tìm Nguyễn Bính hỏi tội. Chặn nhà thơ ở đoạn đường gần nhà thờ Hàm Long, một người hỏi :
 
-         Anh là Nguyễn Bính phải không ?
 
-         Phải, đúng tôi !
 
-         Anh ăn cơm miền Nam, lấy vợ miền Nam sao anh lại nói xấu miền Nam ?
 
Nguyễn Bính gân cổ :
 
-         Tao viết đó, ai làm gì tao ?
 
-         Làm gì à ? Tao oánh cho mầy bỏ xừ !
 
Lập tức mấy anh em xô vào đánh hội đồng. Nguyễn Bính chạy có cờ rồi té ngửa. Bà vợ nghe om sòm ngoài phố, chạy ra thấy chồng bị đánh, liền la lối rầm trời. Mấy anh em bỏ chạy, bị công an bắt cả bọn vô đồn.
 
Cuối năm 1964, đang công tác ở Bộ Nông nghiệp, Lưu Công Danh được phân công về Nam Ðịnh củng cố hợp tác xã vì có việc bà con giáo dân đòi ra hợp tác xã. Ðêm 28 Tết, từ hợp tác xã, Ba Danh đi ngang phía khu Nhà thờ để ra bến xe Nam Ðịnh về Hà Nội thì thấy người đàn bà đội khăn trắng ngồi khóc thảm thiết trước ngôi nhà tranh. Ðộng lòng trắc ẩn, Phật sống hỏi :
 
-         Vì sao chị khóc ?
 
-         Chồng tôi vừa chết !
 
-         Chồng chị là ai?
-         Chồng tôi là Nguyễn Bính.
 
Nghe vậy, Ba Danh hỏi dồn :
 
-         Có phải Nguyễn Bính nhà thơ không ?
 
-         Phải !
 
-         Vậy thì tôi cũng biết ông ấy.
 
Bước vô nhà vắng teo, Ba Danh dở tấm chiếu cũ đắp lên người nằm trên chiếc giường tre thì đúng là Nguyễn Bính gầy ốm. Nhà trống trơn, không có gì đáng giá. Trong túi còn 70 đồng, ông đưa cho vợ bạn 20 đồng bảo đi mua áo quan, 10 đồng mua nhang đèn. Ba Danh ra vườn cắt lá chuối khô liệm bạn. Hai người khênh Nguyễn Bính cho vô hòm sau đó ba Danh ra bờ mương lấy đất sét trát khe ván. Ông cha bên nhà thờ hay tin sang giúp làm lễ. Bà Nguyễn Bính nói rằng khi chồng ốm, nhà thờ cho thuốc uống. Ngay trong đêm, ông cùng vợ Nguyễn Bính và đứa con gái nhỏ chở Nguyễn Bính bằng xe ba gác ra đồng chôn cất. Xong việc, Ba Danh lội bộ ra bến xe. Về Hà Nội, ông báo với nhà thơ Bảo Ðịnh Giang. Sau Tết nhà thơ Bảo Ðịnh Giang thay mặt Ban Thống nhất Trung ương và Hội Nhà văn Việt Nam về cùng với Hội Văn nghệ Nam Hà truy điệu nhà thơ Nguyễn Bính.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
HỢP TÁC XÃ XE BA GÁC
 
 
Sau khi đi học Liên xô không thành trở về, tổ chức cho ông Ba Danh về tạm sống ở chùa Quán Sứ với ý đồ để ông trở lại tu hành rồi công tác trong Giáo hội Phật giáo. Ba Danh biết ý đồ đó nhưng ông không thể nào trở lại tu hành được. Ông nghĩ, đã bỏ tu hành rồi bây giờ tu lại thì không giống ai, càng không giống với bản tính của mình. Bây giờ mà tu lại, trờ thành hoà thượng rồi làm lãnh đạo Hội Phật giáo thì chẳng khác nào kẻ lừa đảo. Ông xin nhận một công tác khác. Người ta đưa ra một số cơ quan để ông lựa chọn. Cuối cùng ông nhận làm chủ nhiệm hợp tác xã xe ba gác. Khó khăn mà tổ chức đưa ra là hợp tác xã ở Cầu Chui Gia Lâm là nơi có nhiều tay anh chị tranh bến tranh bãi, trấn lột các xã viên, làm rối loạn trật tự an ninh. Ba Danh thấy mình làm được việc này một mặt vì có võ mặt khác cũng vì trước đây hồi trẻ ông từng là tay anh chị, đứng ở bến xe Lạc Hồng Rạch Giá, có ít nhiều kinh nghiệm trong việc này. Quả là từ khi ông về, sau mấy trận dằn mặt đám anh chị Cầu Chui, tình hình an ninh bến tốt hơn, các xã viên yên tâm làm ăn. Nhưng rồi đám anh chị phục thù, chúng đặt bẫy khiến ông vô ý sập bẫy, bọn chúng bắt được. Chúng đánh ông thừa sống thiếu chết rồi do sợ cú đá thần sầu của ông, chúng ghè nát hai bàn chân  khiến ông ngất đi. Anh em trong hợp tác xã đưa ông đi cấp cứu. Bác sĩ ở Bệnh viện Việt Xô hội chẩn nói : phải tháo khớp rồi đưa ông đi Liên xô làm chân giả. Lúc tỉnh dậy, ông nói :
 
-         Ðể tôi tự chữa, hai chục ngày nữa tôi sẽ đạp xe tới gặp mấy ông.
 
Ông kêu chở ông về nhà. Ông nén đau tự nắn lại đám xương gân nát bấy rồi lấy thuốc trong bọc của mình ra bó, lấy băng quấn lại. Ít ngày sau toàn bộ đám xương cốt liền lại. Ông khỏi bệnh, đi đứng bình thường.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-18 02:54:58Tư Tứ>
PHẬT SỐNG  VỀ QUÊ
 
 
Năm 1963, ở tuổi ngoài sáu chục, ông Ba Danh được Cục Cơ khí Bộ Nông nghiệp cho về hưu nhưng ông Ung Văn Khiêm rút về làm việc trong Ban giao tế Trung ương. Khi miền Nam giải phóng, ông trở về Rạch Giá quê hương. Vội đi ông không mang theo thứ giấy tờ nào tuỳ thân cả. Một người bạn cùng quê tập kết trở về đang công tác trong tỉnh là ông Trần Ngọc Năm giới thiệu ông vào làm ở bộ phận y tế phục vụ Tỉnh uỷ. Lúc đó thuốc rất hiếm. Bằng những phương thuốc bí truyền, ông Ba Danh chữa trị cho nhiều người khỏi những bệnh hiểm nghèo. Tại đây có một kỷ niệm buồn : một bữa ông từ phòng chữa bệnh bước ra cùng ông Mười Dày, Bí thư Tỉnh uỷ thì gặp người quen cũ, cùng trong đoàn công tác sang Lào năm xưa, bây giờ cương vị rất lớn. Không hiểu vì sao ông này thù Ba Danh tới vậy. Trước đây ông kết tội Ba danh là nặng tư tưởng phong kiến, thần quyền rồi ra chỉ thị miệng không cho Ba Danh sinh hoạt Đảng. Nay vào Nam lại thấy Ba Danh trong cơ quan Tỉnh uỷ, đi cạnh Bí thư tỉnh nên cả giận, chỉ tay vào mặt ông Ba, người hơn mình hai chục tuổi :
 
- Mày cũng ở đây à ? Rồi quay sang Bí thư Tỉnh uỷ ra lệnh :
 
- Ðừng cho thằng này sinh hoạt Ðảng nữa !
 
Kỳ thực, ông Ba Danh không sinh hoạt Ðảng từ lâu rồi.
 
Sau thời gian làm việc tại cơ sở điều trị của Tỉnh uỷ, Ba Danh thấy mình được sử dụng không hết khả năng. Theo kinh nghiệm có từ miền Bắc, ông nói với ông Tám Quýt Phó bí thư :
 
- Mấy anh xài tôi vầy lãng phí quá, còn nhiều người cần tôi trị bịnh. Vậy mấy anh cho tôi sang Ty Y tế chỗ anh Tư Ðổng để tôi thành lập bộ phận Ðông y chữa trị cho cán bộ, cả cho dân, cố nhiên chăm lo cho mấy anh là nhiệm vụ hàng đầu.
 
Ðề xuất của ông được chấp nhận. Sang Ty Y tế, ông đứng ra xây dựng Bệnh viện y học dân tộc, rồi vận động thành lập Hội Ðông y. Cách thức làm việc thời đó là, lương y khám bệnh ra đơn sau đó đơn thuốc được đưa cho y sĩ đảng viên duyệt lại. Người này căn cứ vào chức vụ của người bệnh, nếu là cán bộ chức vụ thấp, anh ta được quyền gạch bỏ những vị thuốc quý hiếm, thay vào bằng vị khác, dành thuốc quý cho cán bộ cấp cao. Qua công đoạn này, đơn mới chuyển sang bộ phận hốt thuốc. Ông già cự nự :
 
- Tôi trị bịnh cứu người, nếu không có thuốc đó bịnh không hết. Phân biệt gì chớ phân biệt vậy đâu có được !
 
Do phản ứng như vậy mà ông bị cho là cứng đầu cứng cổ, không tuân theo lãnh đạo. Một số người trong bệnh viện làm giả thuốc của ông bán ra ngoài hay tìm cách ăn cắp bí mật các bài thuốc của ông. Thấy ở đó riết không ổn, ông xin nghỉ.
 
Ngay khi ông xin nghỉ, tổ chức của bệnh viện phát hiện ra ông không có hồ sơ giấy tờ gì hết nên cắt gạo cắt nhu yếu phẩm của ông. Ông già im lặng chịu trận, ráng chữa bệnh giúp dân, bà con cho gạo sống qua ngày. Thấy tình hình vậy, người con nuôi của ông gặp Tỉnh uỷ yêu cầu tính lại. Ba Danh rơi vào tình huống nan giải. Ông không có giấy tờ gì từ miền Bắc mang về. Cũng lại không phải nhân viên tuyển sau giải phóng. Không có quy định nào cho trường hợp của ông. Vì vậy Tỉnh uỷ Kiên Giang phải có cuộc họp quyết định cấp lại sổ gạo và nhu yếu phẩm cho ông, cho ông mức lương cố định 270 đ. Nhờ có lương, đời sống của ông đỡ hơn đôi chút.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
GẶP NĂM RÔ-BỚT
 
 
Anh Tư Thạch kể, một bữa anh đang trực ở cơ quan Ty Hải sản thì một ông già xin gặp, tác ông cao lớn, trông giống người Chà, nhìn mặt có nét quen quen. Ông già nói chậm chạp :
 
-         Tôi là Ba Danh. Tôi có quen biết ông Ba Ngọc (Ba Ngọc là anh trai Tư Thạch, công tác tại Sài Gòn). Cảnh nhà khó quá, ông làm ơn giải quyết cho mua ký lưới bén để mấy đứa nhỏ làm nghề !
 
Thời đó mọi thứ vật tư đều hiếm, giá ngoài chợ đen gấp năm bảy lần giá cung cấp. Không ít người mang giấy giới thiệu đến mua rồi bán lại, ăn chênh lệch. Ông già chỉ nói miệng không có cả mảnh giấy giới thiệu làm phép. Nhưng do biết tiếng ông Ba Danh, anh Tư Thạch nói :
 
-         Ðược rồi, tôi viết giấy để anh sang Công ty Hải sản chỗ anh Năm Ðăng mua. Nói xong anh viết giấy giới thiệu, ký tên, đưa cho khách. Chuyện đó lâu ngày cũng qua đi.
 
Bận gặp nhau, vui câu chuyện, ông Ba Danh bảo :
 
-          Bữa đó ông cho tôi mua một ký nhưng ông Năm chỉ cho nửa ký.
 
Tư Thạch cười :
 
-         Anh không hiểu sao, ông đó tên là Rô-bớt mà, ai xin mua cái gì mà ổng không bớt ! Thôi, anh  thông cảm, vật tư hiếm mà !
 
Sau này nhắc lại kỷ niệm đó, anh Năm Ðăng cũng cười vui.
 
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
NGÔI NHÀ CỦA PHẬT SỐNG
 
 
Năm 1978 Trần Hữu Ðức về Kiên Giang, biết ông Ba Danh làm thày thuốc ở Vườn lan của Tỉnh uỷ, anh vô xin phép gặp ba nuôi nhưng vì lý do bảo vệ Tỉnh uỷ, người ta không cho vô.
 
Năm 1984 anh làm Giám đốc Công ty xây lắp hải sản, có phương tiện chở đất san lấp mặt bằng. Một bữa người bạn là Trần Ngọc Năm, cán bộ trong tỉnh, đến kiếm xin mua đất đổ nền nhà cho người bạn của ông. Anh Ðức đề nghị đến coi mặt bằng để tính toán đường đi cùng khối lượng. Ông Năm dắt vô nhà thì Hai Ðức gặp ông Ba Danh, cha con gặp nhau mừng hết biết. Hóa ra ông Ba được tỉnh cấp cho một ngôi nhà vách ván nhưng nền quá thấp, thấp hơn mặt lộ nên nền nhà ẩm thấp, mái dột nát, trời mưa vừa nước dột vừa nước tràn vô. Ông Ba cùng hai con gái và 3 cháu ngoại sống nheo nhóc, cả nhà chỉ có một cái giường. Không hiểu sao, khi nghỉ làm việc ở Bệnh viện Y học dân tộc, tỉnh cho giường rồi bàn, tủ ông già không nhận. Hai Ðức tính toán, phải cần đến 100 m3 đất mới đủ. Anh bàn, lúc đầu làm hợp đồng chở 15 m3 cho đúng nguyên tắc, sau đó mỗi ngày anh tận dụng xe xí nghiệp đổ tới đủ lập nền nhà. Anh cho kích nhà lên cao 60 cm rồi xin được 6 bao xi măng tráng xung quanh nhà. Ðêm đó mất điện, phải cho xe Honda chạy bật đèn lấy ánh sáng làm. Trần Hữu Ðức mang tới chiếc đi văng và bộ bàn ghế đai, bây giờ vẫn còn. Khi mất, ông Ba Danh nằm trên đi văng đó.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
TƯỢNG APSARA
 
 
 
Không hiểu bạn đọc có nghĩ như tôi, là xuyên suốt ký sự Vua phật Lưu Công Danh đi kháng chiến không hề thấy nói đến bùa chú hay những sự việc mà ta vẫn quen gọi là mê tín dị đoan. Ngay đoạn mô tả khi từ Tây Phương trở về, Phật sống bị trói đưa lên giàn hỏa đốt, lửa cháy nóng lưng rồi tắt. Tại sao tắt ? Ta từng nhìn dàn thiêu, khi lửa cháy lên rồi, làm sao mà dập tắt ? Chỉ có thể tưới nước dập lửa hay rút củi. Có thể tin rằng, những người thiêu Phật sống không thể là người dập lửa. Vậy lửa tắt do đâu ? Ðó là câu hỏi không lời đáp ! Không hiểu sao, vốn là người thông minh, sáng tạo lại lý lắt nghịch ngợm mà ông Ba Danh không bao giờ thử hiệu quả của hai viên ngọc, một viên biết uống sữa, một viên biết bò mà khi trao cho ông, vị sãi cả chùa Tây Phương nói đeo nó thì tai qua nạn khỏi ? Ðấy là những bí mật quý giá đã theo Vua Phật về trời. Về bản chất, đạo Phật không duy tâm nhưng trong khi hành đạo, nhiều khi tăng sĩ đã dùng những phép mầu nhiệm để thuyết phục quần chúng. Lịch sử Phật giáo Việt Nam còn ghi chuyện Khương Tăng Hội thời Tam Quốc từ Giao Châu sang nước Ngô truyền bá đạo Phật phải dùng phép làm hiện ra hạt xá lỵ đập không vỡ mới thuyết phục được Ngô Tôn Quyền không những không giết mà còn theo Phật, cho dựng chùa Kiến Sơ ở Tràng An. Tôi nghĩ rằng người tu hành ở Ấn Ðộ như ông Ba Danh không thể không biết đến bùa chú, những phương tiện rất phổ biến của người Chà và (Ấn Ðộ). Tôi đoán là, vào thời gian học tập rồi được ghi lý lịch, ông Ba Danh đã tuyệt đối dấu những việc làm bị gọi là mê tín dị đoan mình biết.
 
Khoảng năm 1983, anh Tư Thạch làm chuyên gia kinh tế từ bên Campuchia về nước, đem tặng ông Ba Danh pho tượng vũ nữ Apsara nhỏ bằng đồng. Ông già mừng lắm đem để lên đầu hồi nhà. Ông nói :
 
-         Ðể tao khoẻ, bọn bay theo tao, đem cái này (tượng apsara) đi vô Cần Thơ, tao biết ở một nhánh sông có một tàu vàng của Miên bị chìm. Tao mang Apsara đi trước, bọn bay đi sau, tới chỗ nào nó chỉ, ta đào vàng.
 
Nhân dịp này ông Ba kể chuyện nuôi thiên linh. Lấy bào thai từ bụng mẹ gần sinh, tẩm thuốc rồi phơi trong bóng râm cho khô như cái gối ôm của con nít, lấy vải bọc lại rồi đeo trước bụng, trùm áo lên. Nuôi thiên linh phải tránh ánh sáng nên buồng của ông không có bóng đèn. Ông Ba nuôi một con thiên linh cái, ông bảo nó cũng khóc, cũng tập nói như đứa trẻ. Giọng nó nói nghe văng vẳng qua lỗ tai như ta nghe điện thoại. Có đêm mấy đứa trẻ đến bẻ trộm dừa trước cửa, thiên linh hoá ra hình đứa trẻ leo cây dừa tụt lên tụt xuống. Bọn trộm nói nhỏ với nhau: "Có ma bọn bây!" rồi tụt khỏi cây dừa bỏ chạy. Khi ông khám bệnh, thiên linh đoán bệnh rồi nói vào tai cho ông nghe. Khám bệnh cho anh Hai Ðức, nó mách ông "men gan". Ông bảo anh Ðức :
 
-         Mầy bị men gan đó mầy !
 
Rồi ông hốt thuốc cho anh. Sáng hôm sau ông tới kiểm tra xem uống thuốc ra sao. Ông bảo :
 
- Hồi đêm mầy đi đái hai lần: một lần 1 giờ, một lần 3 giờ. Anh Ðức hỏi :
 
- Sao ba biết ?
 
-         Thiên linh mét tao, ông già trả lời tỉnh queo.
 
Anh Ðức chịu cứng. Chuyện ông đánh cướp ở ngã tư Cây Bàng thị xã Rạch Giá cũng do thiên linh mách. Ngày đó chỗ này vắng người, cây cỏ um tùm. Về khuya, ông Ba đạp xe trên đường. Ðang đi thì thiên linh báo: "Cướp rình đó". Ông xuống xe. Hai thanh niên bước tới hỏi :
 
- Ê ông già, đi đâu giờ này?
 
- Tôi đi chơi về được không?
 
- Ông già để xe lại cho tụi tôi mượn coi.
 
-         Tôi già cả có chiếc xe đi sao các chú mượn ?
 
Chúng nhào vô, ông đá một thằng văng xuống lề, thằng còn lại bỏ chạy. Sáng hôm sau,  một thanh niên đến xin bó tay bị gẫy. Thiên linh báo ông biết đó là thằng cướp xe đêm qua. Bó tay xong, ông Ba nói với cậu thanh niên :
 
-         Tao bó tay cho mầy, lần sau đừng làm thế !
 
Nhiều lần thấy ông đang ăn cơm bỗng nói nhỏ như nói với ai đó : "Nè, ăn cơm đi!" Hỏi, ông bảo mời thiên linh ăn cơm. Ông nói : dùng thiên linh ăn thua do người điều khiển. Nếu bắt nó làm ác nhiều lần nó phản.                             
 
Tác giả ẩn danh kể rằng, ông Ba hướng dẫn anh cách nuôi thiên linh như sau :
 
Người nuôi thiên linh cái tìm đến mộ cô gái đồng trinh còn trẻ, bị chết bất đắc kỳ tử, đào mộ, cắt lấy đầu tóc cùng mảnh xương mỏ ác. Đem về, gọt lấy tóc phơi khô. Xương đầu và mỏ ác đem ngâm cho rã hết thịt, óc. Sau đó đem phơi thật khô rồi đốt tóc với xương mỏ ác thành than, nghiền vụn thành bột. Đi tìm một trái dừa già trên buồng dừa mà trái đó mọc chỉ thiên, tức mọc hướng ngược lên trời, mua về thắng làm dầu. Trộn bột tóc với dầu dừa, nhờ một cô gái đồng trinh, dùng lông gà hay cọ tẩm dầu dừa pha bột tóc bôi lên đầu lâu, phơi trong bóng râm. Khi khô thì bôi tiếp, phơi tiếp đến hết dầu dừa là được. Bọc đầu lâu trong mảnh vải, bỏ trong cái hộp gỗ, luôn mang theo bên người. Ông Ba bảo anh : “Chú có muốn giữ nó không, tôi cho chú?” Bạn tôi trả lời : “Không, em không dám, em sợ lắm!” “Vậy thì tôi phải thả nó vê trời” ông Ba nói.
 
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
NHẬN CHA NHẬN CON
 
 
Làm vua Phật, được nhiều cô gái trẻ đẹp đến chùa lấy giống Phật nên có lẽ Lưu Công Danh không nhớ mình có bao nhiêu vợ và lại càng không biết được có bao nhiêu con. Trong hồi ký, lúc ở bưng biền Ðồng Tháp, bà Huỳnh Thị Tòng sinh với ông người con gái, ông nhẩm số những người con của mình rồi đặt tên cho người con đó theo thứ là Bảy. Truớc khi ra Bắc tập kết, ông còn kịp có người thứ tám và thứ chín nữa. Ðấy là những người con chính thức, có môn bài. Còn những người vợ, người con khác ? Có Trời biết ! Vì vậy có những cuộc nhận cha nhận con thuộc loại giai thoại.
 
Sau trận bão số 5 năm 1997, thị trấn Kép của tỉnh Kampôt bên Campuchia có một đoàn sang Kiên Giang cứu trợ. Một người đàn bà hỏi thăm đến nhà Phật sống Ba Danh. Gặp ông, bà nhận là cha ruột. Thấy cha sống nghèo, bà hứa khi về nước sẽ gửi tiền để cha làm nhà. Nhưng đó chỉ là lời hứa.
 
Một người đàn bà từ Thốt Nốt sang trị bệnh. Bà nói bệnh, thầy Ba cho thuốc uống, bà xin ở lại nhà thầy để dưỡng bệnh. Uống hết mấy thang, bà đòi uống thuốc nữa, thầy bảo :
 
- Mầy không có bệnh, về được rồi.
 
Bà ra chợ mua đồ ăn về nấu mời cả nhà rồi đưa chiếc bùa vẫn đeo nơi cổ ra, trình mọi người, nói:
 
- Khi má tôi sắp chết, bả gói mảnh giấy làm cái bùa đeo trước ngực rồi biểu tôi: "Mầy giữ kỹ cái nầy, khi nào gặp ông Lưu Công Danh thì nhận cha mầy." Nói tới đó bà xé cái bọc, lấy mảnh giấy ra, đưa cho ông già, hỏi “Có phải cha đấy không cha?" Ông Phật sống nhìn dòng chữ rồi sững người: "Ờ, ờ phải. Mầy đúng là con tao!" Ông già nhớ lại thời Ðề lao binh !
 
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
NỖI LO THẦM KÍN
 
 
Những năm cuối đời, người thân của Lưu Công Danh nhận ra cụ có mối lo thầm kín : lo bị bắt cóc mang về Ấn Ðộ để đưa lên giàn hỏa. Khi truyền hình chiếu phim Tây du ký thì cụ lo : có nhóm người nào đó muốn bắt cụ để ăn thịt vì thịt Phật sống cũng như thịt thầy Ðường tăng, ăn được sẽ trường thọ ! Do nỗi lo này mà cụ không đi xa, luôn cảnh giác với người lạ, nhất là người Ấn. Có lần người con trai cụ, là Trung tướng Ðô đốc Hải quân Ấn Ðộ đẫn hạm đội Ấn sang thăm Việt Nam, mời cụ lên Sài Gòn chơi, cụ từ chối không đi. Tâm sự với anh Tư Thạch, cụ sợ rằng người Ấn tìm cụ về để đòi món nợ ngày xưa, rồi đưa cụ lên giàn hỏa.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
BÍ MẬT CỦA HAI VIÊN NGỌC
 
 
 
Cả Ký sự cả Hồi lý đều kể rằng, vị chủ trì chùa Tây Phương cho Lưu Công  Danh hai viên ngọc, đựng trong hai cái hộp, cho vào hai cái túi. Một viên biết uống sữa, một viên biết bò. Vậy số phận hai viên ngọc đó ra sao ?
 
Ký sự Vua Phật Lưu Công Danh đi kháng chiến viết : "Vị sãi cả cho tôi hai viên ngọc bọc trong hai cái túi, không nói là ngọc gì, cũng không phải chứng minh sự đắc đạo của tôi mà chỉ cho biết rằng có hai viên ngọc này thì có thể thoát được mọi tai ương."
 
Ở đoạn khác : "Buổi ăn đầy tháng đó, anh Lưu Công Danh đã đem hai viên ngọc được trao tặng ở chùa Tây Phuơng trước khi anh trở lại cuộc đời, vẫn trong cái bọc đeo trên cổ tặng vợ. Không phải anh ngại đeo hai viên ngọc đó trên cổ vướng víu mà anh muốn chị Huỳnh Thị Tòng gìn giữ vì ngọc này mỗi viên có một đặc tính. Một viên thì vài ba tháng phải được uống sữa, một viên thì biết "bò". Anh Lưu Công Danh đã phải chăm sóc hai viên ngọc này như chăm sóc con mọn mà chưa thể biết được nó có tác dụng như thế nào. Anh kể rằng, những khi cho ngọc uống sữa, anh  phải đi xin sữa của các bà mẹ đẻ con so vắt sữa vô cái ly nhỏ, đặt viên ngọc vô ly rồi thức canh cho nó uống. Anh nói nó uống một đêm thì hết nửa ly sữa đó và anh khẳng định rằng nó uống hết. Có đêm anh mệt quá ngủ gục, khi thức dậy thấy ly sữa đã hết rồi. Nhiều lần anh cố gắng thức suốt đêm để xem nó uống. Tới sáng, dù rất mệt nhưng anh vẫn ráng thức nhưng nó vẫn uống hết.
 
Tôi nói đùa : Một đêm như vậy phải mười hai giờ đồng hồ, nó khô đi là phải.
 
Anh cười bảo : Không biết có phải vậy không ?
 
Còn viên ngọc kia anh kể rằng, nếu bỏ ra ngoài thì một ngày đêm nó "bò" được hai ba chục phân.
 
Vì vậy, bao giờ hai viên ngọc này cũng phải có hai cái hộp nhỏ làm riêng cho chúng, có lỗ thông hơi cho thoáng và suốt ngày đêm đeo chúng trên cổ." (Tuyển tập Phạm Tường Hạnh, tr 825)
 
Ðoạn khác viết: "tàn bữa nhậu, trời vừa tối, tôi đi với anh Lưu Công Danh trở về ngôi nhà của đồng bào cho vợ chồng anh ở nhờ trước khi chia tay. Tôi bảo anh :
 
- Tới thăm và từ giã chị Ba, anh cho tôi coi hai viên ngọc.
 
- Mất rồi còn đâu.
 
- Sao vậy.
 
- Năm ngoái bả sinh đứa con út tại Quân y viện. Bữa bả ra viện, tôi có công việc không về cơ quan được. Ðơn vị nhờ một chú cựu tạm giam đi đón giùm. Hai chị em đi trên chiếc tam bản, vừa ra tới đầu vàm, nước ròng chảy xiết. Chiếc tam bản của bả, loạng choạng, bị nghiêng đi và chìm luôn. Chú cựu tạm giam sợ quá nhảy xuống vớt được hai mẹ con lên, còn đồ đạc trôi mất tiêu hết. Tới tối, chờ bà con anh em tới thăm về hết, bả mới dám nói rằng hai viên ngọc vì làm biếng không đeo lên cổ, vướng víu, nên giấu trong bọc quần áo đã trôi theo dòng nước." (tr. 829)          
 
Như vậy là, cả hai cuốn sách trên chỉ cho thấy sơ lược về đặc tính và tác dụng của hai viên ngọc : một viên biết uống sữa, một viên biết "bò" và có nó thì tai qua nạn khỏi, giúp thoát mọi tai ương mà không hề mô tả đặc điểm bên ngoài như kích cỡ, màu sắc của chúng. Một chi tiết đáng lưu ý: cả hai viên ngọc bị mất trong vụ đắm xuồng sau khi sinh người con thứ 3.
 
Thượng tuần tháng 12 năm 2003, tôi trở về Rạch Giá, cùng anh Tư Thạch bạn tôi đến thắp nhang viếng cụ Lưu Công Danh tại nhà số 64 D Lâm Quang Ky. Do anh Tư Thạch là chỗ quen thân nên mọi người đối với chúng tôi chân tình. Cô Tám Lưu Thị Nga kể nhiều chuyện về cụ rồi hồ hởi đưa khoe chúng tôi hai viên ngọc đường kính mỗi viên khoảng 5-6 mm, giống như chiếc trứng thằn lằn nhưng tròn vo, màu xanh cẩm thạch lẫn với vân trắng, hay có thể nói chính xác hơn, màu trắng xen lẫn màu xanh cẩm thạch trông như mây. Do sự đan xen của các vân mầu như vậy nên chúng tôi cảm thấy màu sắc hai viên ngọc không ổn định, có vẻ như đổi mầu, dường như mây vần vụ. Hai viên ngọc được cẩn trong hai hoa tai bằng đồng, trước đây cô vẫn đeo nhưng nay ốc vặn bị lỏng nên không dám đeo vì sợ rớt. Cô cho biết, ngày trước, đeo bông tai khi cô mạnh thì hai viên ngọc màu tươi sáng còn khi cô mệt, hai viên ngọc màu tối đi. Một lần cô đeo bông tai qua phà Vàm Cống, có người nài nỉ đòi mua. Cô nói nó không phải ngọc, chỉ là miếng nhựa đồ chơi con nít, cô lấy đeo, người kia không chịu, cứ đòi mua. Khi anh Tư Thạch hỏi cô có viên ngọc khi nào, cô nói :
 
- Khi ba từ miền Bắc về, nói : “Ba thương con gái nhứt, ba mang về cho con. Con Bảy không khôn không giữ được, ba cho con Tám. Ba mở mảnh vải bằng sa đỏ có đôi bông tai cẩn ngọc. Giao cho tôi, ba nói : đeo nó sẽ tai qua nạn khỏi, làm ăn may mắn, con đừng làm mất, cũng đừng bán.” Cô nói nhờ đeo bông tai ngọc mà cô cũng có lần gặp may, không bị tăng xông.
 
Hai viên ngọc này là như thế nào ? Lưu Công Danh có được chúng trong trường hợp nào ? Do hai viên ngọc vị sãi cả chùa Tây Phương tặng không được mô tả nên ta không biết đặc điểm nhận dạng của chúng. Liệu có khả năng hai viên ngọc cô Lưu Thị Nga đang giữ và cặp ngọc từ chùa Tây Phương chỉ là một ? Không ai trả lời nổi, chỉ biết giữa hai cặp ngọc có chung một tác dụng : đeo vào thì tai qua nạn khỏi, làm ăn may mắn !
 
Có thể ngờ rằng, cặp ngọc cô Lưu Thị Nga hiện giữ chính là hai viên ngọc mà cụ Ba Danh nhận được từ vị sãi cả chùa Tây Phương ? Hai viên ngọc không bị mất như cụ đã kể với nhà văn Phạm Tường Hạnh.
 
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
VỀ THỜI GIAN ÐI TU TRONG RỪNG GIÀ
 
 
Theo nhà văn Phạm Tường Hạnh thì bác sĩ Ngô Văn Quỹ coi trên bản đồ thấy lộ trình tu Phật của Lưu Công Danh "có đi một đoạn qua nước Miến Ðiện rồi vòng lên phía Bắc, rẽ trái lần theo dãy Hy Mã Lạp Sơn để tới Tây Phương suốt trong 10 năm gian khổ." Cuốn hồi ký Phật sống Lưu Công Danh lại ghi nhiều con số khác nhau : "chắc thời gian đi trong rừng sáu, bảy năm trời gian khổ" (Tr 41), "Tròm trèm chục năm chớ ít sao" (tr. 44) rồi " Hơn chục năm trời gian khổ hiểm nguy" (tr 111) Do những con số khác nhau đó, trong suy nghĩ của tôi nảy sinh câu hỏi : con số nào phù hợp với thực tế ? Ðể trả lời câu hỏi này, phải biết được chính xác thời gian vào và ra khỏi rừng. Muốn vậy phải theo sát bước đi của nhà tu hành.
 
Hồi ký ghi "Tôi đến Nam Vang đúng vào dịp người dân Campuchia làm lễ chịu tuổi (khoảng tháng 3 âm lịch năm 1933)". Ở chỗ khác ghi : "Ðó là mùa xuân năm 1935, tôi đã được làm cha mà tôi không biết." (tr. 38). Tính lui lại thời điểm mùa xuân năm 1935 chín tháng là thời gian Ba Danh từ chùa trở lại nhà và sinh hoạt vợ chồng với bà Mary rồi hoài thai người con đầu lòng, thì muộn nhất khoảng mùa thu (tháng 7) năm 1934 Lưu Công Danh vào rừng. Còn thời gian ra khỏi rừng ? Hồi ký ghi : "Tôi trụ trì ngôi chùa PrệpPra gần 5 năm, từ năm 1941-1945" Nếu điều này đáng tin thì thời gian Lưu Công Danh hoàn thành việc tu hành là năm 1941. Như vậy, thời gian đi trong rừng là từ 1934 đến 1941 tức khoảng 8 năm.
 
Tuy nhiên, theo những câu chuyện các ông Trần Hữu Ðức cùng Ðặng Hữu Thạch kể thì từ Luân Ðôn, Ba Danh không về Campuchia mà về Ấn Ðộ và ở New Delhi gần 2 năm. Nếu năm 1941 ông tới Camphuchia thì hai năm trước, tức năm 1939 ông đã ra khỏi rừng, đi Luân Ðôn rồi về Ấn Ðộ. Như vậy thời gian ông đi trong rừng là 6 năm, từ 1934 đến 1939. Ðấy là theo tính toán, còn nếu suy luận, ta thấy, năm 1941 Thế chiến II đang căng thẳng, nước Anh bị tàu chiến Ðức phong toả nghiêm nhặt, việc ra vào rất khó khăn và nguy hiểm. Vì vậy việc đưa một ông vua Phật vào nơi gian nguy ít khả năng xảy ra. Trong khi đó, năm 1939 nước Anh còn hòa bình, nên việc đưa ông Phật sống đến Anh khả thi hơn. Trong các ghi chép, Ba Danh không nhắc gì đến Thế chiến 2 cũng góp phần chứng tỏ điều này.
 
Nhân đây có lẽ cũng nên làm rõ một vài mốc thời gian nữa. Hồi ký nói : "tôi chính thức lập gia đình cuối năm 1931." (tr 17) Khi ông trốn khỏi gia đình thì "đứa con lớn 5 tuổi, đứa nhỏ 2 tuổi". Nếu theo những mốc thời gian trên thì thời điểm ông trốn khỏi nhà phải là năm 1931 + 5 = 1936. Chính xác hơn phải là năm 1937 ! Ðiều này không đúng bởi lúc đó ông đang một thân một mình lần mò trong rừng già Ấn Ðộ. Vậy trong những mốc thời gian trên, mốc nào cần xem lại ? Năm cưới vợ thường là mốc thời gian khó quên nhưng ở đây, có lẽ Phật sống đã lẫn. Ðể tránh điều mâu thuẫn trên, phải lui năm cưới vợ của cụ xuống 2 năm, tức là năm 1929, ngay sau khi rời bỏ cô bạn ở Cần Thơ. "Chắc quý độc giả khi có trong tay cuốn sách này sẽ không trách sự nhớ lẫn lộn của người già như tôi." Ở một chỗ nào đó trong hồi ký cụ Ba Danh nói thế. Chúng ta hiểu cụ, không hề trách cụ mà chỉ muốn làm cho những gì cụ kể được rõ ràng minh bạch đáng tin hơn.
Như vậy, theo tính toán của tôi, những mốc thời gian chính trong cuộc đời Phật sống Ba Danh là :
 
Năm sinh : 1901
Năm lấy vợ : 1929
Năm vào rừng : 1934
Năm ra khỏi rừng : 1939. Cũng năm này ông về Ấn Độ và năm 1941 sang Campuchia trụ trì ở chùa Prệp Pra.
 
Tuy nhiên, trong ghi chép của người bạn tôi do chính Cụ Ba Danh kể thì thời gian đi tới chùa Tây Phương là gần 6 năm, thời gian trở về ngắn hơn, khoảng 2 năm. Tuy khẳng định không đến hàng chục năm nhưng giữa 6 năm và 8 năm đang là việc tồn nghi. Còn tồn nghi cả chuyện Phật sống trốn khỏi Ấn Độ trên tàu chở táo !
 
Để làm cứ liệu cho độc giả, tôi xin chép ra đây Bản khai thành tích tham gia kháng chiến của Lưu Công Danh :
 
Họ và tên thật : Lưu Công Danh, sinh năm 1901.
 
Chánh quán: xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, Kiên Giang.
 
Trú quán: 187 đường Lâm Quang Ky, khu phố 9 phường Vĩnh Lạc, thị xã Rạch Giá.
 
Dân tộc Kinh. Tôn giáo Đạo Phật. Văn hóa lớp 5/10.
 
Ngày tham gia kháng chiến : Ngày 19 tháng 8 năm 1945.
 
Quá trình tham gia kháng chiến : 19/8/46 đến 12/46: Tham gia ủy viên UBKCHC huyện Hồng Ngự, Châu Đốc. Tích cực tham gia vận động sư sãi và đồng bào Miên chống chia rẽ, ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp.
 
12/46 đến 12/47 : được ông Ung Văn Khiêm phân công trong ban vận động Tuần lễ vàng.
 
12/47 đến 12/54 : làm trưởng ban trừ gian diệt tề tỉnh Long Châu Sa, Giám đốc Đề lao binh Khu 8 và thành lập đại đội Võ trang tuyên truyền hỗ trợ cho Tiểu đoàn 307 và dạy võ cho các chiến sĩ Tiểu đoàn 307. Khi sáp nhập Khu 8 và Khu 9 thành Phân liên khu miền Tây, làm Giám đốc Phân liên khu miền Tây.
 
12/54 đến12/57: Tập kết ra Bắc, làm cán bộ khung đoàn an dưỡng 78. Sau chuyển về Sư đoàn 330 làm giám đốc lò gạch.
 
1/1958 đến 12/1962: Được đề bạt thượng úy, thành lập nông binh của Sư 330, sau là Nông trường Lam Sơn Thanh Hóa. Được lệnh chuyển về Vụ Giao tế Bộ Ngoại giao phục vụ cho Trung ương đón tiếp Tổng thống Ấn Độ sang thăm Việt Nam và đi cùng đoàn Việt Nam sang thăm Ấn Độ và các nước láng giềng, do đồng chí Xuân Thủy phụ trách.
1/63 đến 9/75: Được chuyển về Cục cơ khí Bộ Nông nghiệp. Cho nghỉ hưu tháng 6 năm 1963 nhưng không nghỉ vì ông Ung Văn Khiêm rút tôi về phân công trong Ban giao tế Trung ương.
 
10/75 đến 12/84 : Được Ban Thống nhất cho đi phép về thăm miền Nam và tìm lại gia đình. Về gặp Tỉnh ủy Kiên Giang, phân công các công tác: phục vụ trị bịnh cho một số đồng chí lãnh đạo của tỉnh, đưa vào thành lập Bệnh viện y học dân tộc của tỉnh. Tháng 12/84 nghỉ chánh sách.
 
Được cấp nhà số 187 Lâm Quang Ky, Vĩnh Lạc, Rạch Giá, Kiên Giang.
 
Khen thưởng : Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc, 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang: Nhất, Nhì, Ba.
 
Kỷ luật : không.
 
Tự đề nghị mức khen : Đề nghị Đảng, Nhà nước xét khen thưởng công lao thành tích qua hai thời kỳ theo cánh sách hiện hành.
 
Làm tại Vĩnh Lạc, ngày 13 tháng 8 năm 1997.
 
Ký tên : Lưu Công Danh (Ba Chà).
 
Bản khai được viết bằng thứ chữ nghiêng đều, rõ ràng, chữ khá đẹp. Chắc là do người viết dùm vì khác hẳn với chữ ký nguệch ngoạc, quá xấu.
 
Kết quả đề nghị này, cụ Ba Danh được thưởng Huy chương Chống Mỹ cứu nước hạng Nhất. Ký ngày 24/5/1999.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
LỜI CẢM ƠN CỦA VUA PHẬT
 
 
Trong Hồi ký, Lưu Công Danh viết : "Nhờ Ðảng và cách mạng, tôi đã trở thành một Lưu Công Danh có ích cho đời" (tr. 4). Với nhiều người thì đây là cách nói quen thuộc cũ mòn. Nhưng với Lưu Công Danh, chúng ta hiểu ở con người hồn nhiên vô tư này, đó là những lời gan ruột. Vị bồ tát đại từ đại bi nhận về mình mọi điều trắc trở còn giành cho cuộc đời lòng yêu thương cùng sự hàm ơn. Hiểu Lưu Công Danh như vậy nên chúng ta cần công bằng với cụ.
 
Theo tôi, nếu nói đến ơn thì sau ơn hai đấng sinh thành dưỡng dục, người ơn lớn nhất đối với Lưu Công Danh là ông Ibrahim. Ông bồ tát này thực sự đã nhiều lần tạo nghiệp cho Lưu Công Danh : từ phu khuân vác thành một người quản lý, từ người làm thuê thành con cái của danh gia vọng tộc. Và lần nữa : từ ông Phật sống Ấn Ðộ sắp lên giàn thiêu trở thành ông Phật sống Cao Miên được tôn thờ trọng vọng sau đó trở lại cuộc đời. Không chỉ Lưu Công Danh mà cả dân tộc Việt chúng ta cũng mang ơn ông bồ tát này. Việc gầy dựng một người làm thuê thành con cái trong nhà là việc thế gian thường tình. Nhưng việc cứu Ba Danh ra khỏi giàn hoả mang nhiều ý nghĩa. Nếu ông không phải là con người khoáng đạt mà chỉ là một phật tử thi hành nghiêm quy định của Phật pháp thì tự nhiên nhi nhiên, sau hai năm đức cao vọng trọng, Phật sống Hăcxacôp Chanđra bước lên giàn hoả. Lịch sử Phật giáo Ấn Ðộ có trang mới về tấm gương một Phật sống vẹn toàn. Và như vậy cái tên Lưu Công Danh sẽ vô tăm tích cùng mây khói. Dân tộc Việt không hề biết là mình từng có một Lưu Công Danh Phật sống để mà chiêm ngưỡng để mà tự hào. Nhờ được sống trở về tu hành ở Campuchia rồi về nước tham gia kháng chiến, chúng ta mới có Phật sống là bộ đội Cụ Hồ.
 
Sau ông Ibrahim thì đó là công của Phật giáo Ấn Ðộ, của những tăng hữu đã giúp ông trên đường tu hành, dạy ông kinh Phật, Yôga, chia sẻ với ông những phương thuốc Ấn Ðộ bí truyền giúp ông tự bảo vệ mình trong hoàn cảnh khắc nghiệt. Và đó cũng là những phương tiện để sau này ông cứu giúp chúng sinh.
 
Công bằng mà nói thì khi trở về với dân tộc với cách mạng, Phật sống Lưu Công Danh đã là một quả phúc lớn để cách mạng và đất nước thụ hưởng. Về vật chất, đó là va ly bạc Ðông Dương cùng chiếc xe hơi tuy nhỏ nhưng là tài sản quý báu trong buổi đầu dựng nghiệp của chính quyền cách mạng. Quả phúc lớn vô giá là cái danh cái tiếng : Phật sống theo Cụ Hồ đi kháng chiến. Trong vòng năm năm, trùng với thời gian Mặt trận Việt Minh thành lập thì Phật sống trở thành vị quốc sư giáo chủ của Phật giáo Campuchia. Không chỉ được người dân Khmer tôn thờ mà còn được nhiều người Việt từng sang Cao Miên biết tiếng với danh nghĩa Phật sống Ấn Ðộ. Anh Tư Thạch kể rằng, năm 1974, trên đường về Nam, một đêm nghỉ chân trong căn nhà sàn của gia đình Campuchia vắng chủ, trong ánh đèn dầu, anh nhìn lên bàn thờ thấy ảnh một vị hòa thượng dáng tiên phong đạo cốt, tay chống gậy, mặc áo cà sa vàng rực trông rất ấn tượng. Sau này gặp Ba Danh, anh nhận ra đúng đó là vị phật trong ảnh năm nào. Khi nhận ra vị Phật sống Ấn Ðộ mình từng ngưỡng vọng lại là người Việt trong áo cà sa vàng rực rỡ cổ động cho Tuần lễ vàng thì đó là sức ủng hộ vô cùng lớn cho cách mạng, cuốn hút được bà con Cao Ðài, Hòa Hảo cùng các phật tử đi theo Cụ Hồ.
Khi cách mạng phân công làm Giám đốc Ðề lao binh thì do lòng nhân từ, vị bồ tát đã cứu độ chúng sinh, giúp cho những chiến sĩ hàm oan không bị đẩy vào hoàn cảnh khốn khó trong vòng tù tội. Và cũng nhờ sự phát hiện của ông mà nhiều cán bộ chiến sĩ được giải thoát cả về thân xác cả về danh dự.
 
Ra ngoài Bắc, từ một người lính, Lưu Công Danh tham gia đoàn ngoại giao Chính phủ đi thăm nhiều nước. Việc gặp phu nhân Tổng thống Ấn Ðộ Praxat để xoay chuyển cuộc hội đàm đang căng thẳng, việc mời nhà vua Lào sang thăm Việt Nam… là những cống hiến vô giá vô hình của ông bằng cái nghệ thuật mà con người hiện đại gọi là loppy - vận động hành lang. Rồi sau đó, trên con đường độc hành của mình, dưới tên lương y Ba Danh, ông góp cho y học cổ truyền Việt Nam những phương thuốc quý cùng cứu chữa hàng nghìn bệnh nhân. Ông thành ân nhân cứu tử, ân nhân tái sinh của hàng trăm con người mắc bệnh nan y.
 
Một quả phúc nữa Lưu Công Danh để lại cho dân Việt là tấm gương về một con người có tâm, có ý chí và nghị lực lớn lao, một mình cô độc luồn lách đi trong rừng hết năm này sang năm khác, vượt qua những thử thách ngặt nghèo, gian nguy, nhiều lần mấp mé giữa sống và chết. Trong hoàn cảnh ấy, một con người đã không mất hy vọng, vẫn giữ lòng yêu cuộc sống, hoàn thiện nhân cách, đạt tới vinh quang cao nhất của tu hành, trở về với cộng đồng rồi mang tài năng học được trong khổ luyện, cứu giúp chúng sinh bằng tấm lòng bồ tát. Trong thời gian dài hàng nửa thế kỷ, như vị bồ tát độc hành, Lưu Công Danh âm thầm nêu tấm gương phục vụ quên mình vì đồng loại, một việc làm mang tầm vóc của Đức Phật.
 
Nếu nói về ơn nghĩa thì cả Lưu Công Danh cả chúng ta phải biết ơn nhà văn Phạm Tường Hạnh. Năm chục năm trước, vì công vụ, nhà văn viết lý lịch anh bộ đội Lưu Công Danh. Nửa thế kỷ sau, vì tình người, vì trách nhiệm của người cầm bút, chính ông đã phát hiện lại Ba Danh đang chìm trong quên lãng. Chính nhờ sự phát hiện này, một lần nữa Lưu Công Danh được tái sinh.
 
Muốn công bằng, phải nói rằng, những năm cuối đời, cụ Lưu Công Danh sống lặng lẽ. Như ngọn đèn không sáng được chân, người dân Kiên Giang chỉ biết đến cụ như là một ông lang có môn thuốc trị gãy xương. Ðến với cụ phần nhiều là bệnh nhân, những người nhờ cụ chữa bệnh và cả những người bệnh được cụ chữa khỏi, đến thăm hỏi và nuôi cụ bằng chút quà thuộc loại cây nhà lá vườn dân dã khi giạ gạo, khi ít khô, ít lít nước mắm. Trong ngôi nhà cấp bốn xập xệ, cụ không treo Huân chương Chiến thắng hạng Nhì do Ðại tướng Võ Nguyên Giáp ký ngày 9 tháng 3 năm 1958. Không ít người nhìn cụ bằng con mắt nghi ngại : ông già kháng chiến hai mùa mà sao ra về không mảnh giấy lót lưng, gần như sống bằng mấy đồng trợ cấp xã hội. Chắc ở ngoải có chuyện chi đây ? Không ai nhắc đến Phật sống, dường như đó cũng chỉ là những lời đồn thất thiệt. Nhưng từ khi ký sự Phật sống Lưu Công Danh đi kháng chiến đăng báo, mọi sự khác hẳn ! Người Rạch Giá Kiên Giang như bừng tỉnh vì nhận ra một Ba Danh mới, tỏa ánh hào quang. Nhất là khi đọc báo biết Ba Danh còn sống, bạn bè chí cốt rồi những người chịu ơn ông, hầu hết là người tiếng tăm hiển đạt từ khắp nơi trong nước tới thăm, tạo cho dân Rạch Giá cái nhìn khác... Các hội đoàn đến chúc thọ, Tỉnh uỷ, Uỷ ban tặng quà, tặng nhà tình nghĩa. Cũng đến lúc này cụ mới dám tự tin, làm tờ khai thành tích kháng chiến để nhận Huy chương Kháng chiến hạng Nhất. Như cục đá từ lâu lăn lóc góc nhà, nay Lưu Công Danh bỗng là ngọc tỏa hào quang trên ban thờ. Không có gì lạ bởi đấy là cuộc đời ! Không chỉ Lưu Công Danh mà cả Kiên Giang cũng biết ơn nhà văn già đã phát hiện cho họ thấy linh vật của mình. Một tiếc nuối: giá mà biết cụ sớm hơn !
 
Chúng ta còn nhớ, vị trụ trì chùa Tây Phương nói với Lưu Công Danh : "Trở về giúp ích cho đời." Vậy thế nào là giúp ích cho đời ? Theo quan niệm nhà Phật, làm một vị Phật sống đức cao vọng trọng giúp chúng sinh ổn cố tâm linh, hướng về cõi thiện là giúp ích cho đời. Mang những bài thuốc học được trong khi tu luyện ra trị bệnh cứu người cũng là giúp ích cho đời. Nhưng theo quan niệm thế tục, phải quyền cao chức trọng mới cống hiến được nhiều. Vì thế nhà nước đưa Ba Danh ra nước ngoài đào tạo để trở thành cán bộ quân sự tầm cỡ. Nhưng ý tốt đã không thành. Sau ba học kỳ vất vả, Lưu Công Danh phải về nước với thành tích học tập thê thảm : chưa hề bắn đạn thật trúng bia cũng không thể trình bày nổi một phương án đánh trận dù chỉ là nhắc lại giáo trình ! Vì sao vậy ? Phải chăng vì Lưu Công Danh dốt không học được ? Chúng tôi không tin vậy. Một con người năm sáu năm trời đơn độc ngoan cường sống sót trong rừng già Ấn Ðộ, học thuộc hàng vạn câu kinh bằng tiếng Phạn, không lẽ không thuộc nổi một vài trang giáo án ? Một võ sư từng thông thạo quyền cước, luyện mắt nhìn chọi lại mặt trời không lẽ không biết bóp cò cho viên đạn trúng đích ? Nếu vậy phải chăng do ông cố tình dốt, cố tình dở để chối bỏ việc học ? Không phải vậy ! Chính vì ham muốn tiến bộ mà ông xin được đi học. Chúng tôi đoán là, chính Lưu Công Danh không hiểu mình cũng như tổ chức không hiểu Lưu Công Danh nên đưa ông đi đào tạo trái với thiên mệnh của ông. Ông Phật sống từng đặt một chân lên cõi niết bàn khi trở về đời sống giữa nhân gian không thể là con người của trận mạc ! Nếu hiểu mình hơn, Lưu Công Danh phải xin đi học y, học dược thì với kinh nghiệm quý báu của mình kết hợp với y lý dược lý của khoa học hiện đại, hẳn ông sẽ giúp đời được nhiều hơn. Học không xong nhưng ưu ái của Nhà nước với ông vẫn nhiều. Tổ chức đã dành cho Lưu Công Danh được tự chọn làm người lãnh đạo, người quản lý. Với cấp bậc đại uý thời đó, người ta thường giữ chân giám đốc này giám đốc khác nhưng rất vô tư, Lưu Công Danh đã nhận một vị trí thấp nhất trong những bậc thang quan chức : chủ nhiệm hợp tác xã xe ba gác ! Và rồi với công việc này, ông cũng nhờ người khác làm giúp để dành thời gian rị mọ đi theo cái nghiệp của mình : trị bệnh cứu người. Chính trong lĩnh vực không được nhà nước đào tạo này, Lưu Công Danh đã cống hiến tốt nhất cho nhân dân cho đất nước !
 
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
LỜI CẢM ƠN CỦA VUA PHẬT
 
 
Trong Hồi ký, Lưu Công Danh viết : "Nhờ Ðảng và cách mạng, tôi đã trở thành một Lưu Công Danh có ích cho đời" (tr. 4). Với nhiều người thì đây là cách nói quen thuộc cũ mòn. Nhưng với Lưu Công Danh, chúng ta hiểu ở con người hồn nhiên vô tư này, đó là những lời gan ruột. Vị bồ tát đại từ đại bi nhận về mình mọi điều trắc trở còn giành cho cuộc đời lòng yêu thương cùng sự hàm ơn. Hiểu Lưu Công Danh như vậy nên chúng ta cần công bằng với cụ.
 
Theo tôi, nếu nói đến ơn thì sau ơn hai đấng sinh thành dưỡng dục, người ơn lớn nhất đối với Lưu Công Danh là ông Ibrahim. Ông bồ tát này thực sự đã nhiều lần tạo nghiệp cho Lưu Công Danh : từ phu khuân vác thành một người quản lý, từ người làm thuê thành con cái của danh gia vọng tộc. Và lần nữa : từ ông Phật sống Ấn Ðộ sắp lên giàn thiêu trở thành ông Phật sống Cao Miên được tôn thờ trọng vọng sau đó trở lại cuộc đời. Không chỉ Lưu Công Danh mà cả dân tộc Việt chúng ta cũng mang ơn ông bồ tát này. Việc gầy dựng một người làm thuê thành con cái trong nhà là việc thế gian thường tình. Nhưng việc cứu Ba Danh ra khỏi giàn hoả mang nhiều ý nghĩa. Nếu ông không phải là con người khoáng đạt mà chỉ là một phật tử thi hành nghiêm quy định của Phật pháp thì tự nhiên nhi nhiên, sau hai năm đức cao vọng trọng, Phật sống Hăcxacôp Chanđra bước lên giàn hoả. Lịch sử Phật giáo Ấn Ðộ có trang mới về tấm gương một Phật sống vẹn toàn. Và như vậy cái tên Lưu Công Danh sẽ vô tăm tích cùng mây khói. Dân tộc Việt không hề biết là mình từng có một Lưu Công Danh Phật sống để mà chiêm ngưỡng để mà tự hào. Nhờ được sống trở về tu hành ở Campuchia rồi về nước tham gia kháng chiến, chúng ta mới có Phật sống là bộ đội Cụ Hồ.
 
Sau ông Ibrahim thì đó là công của Phật giáo Ấn Ðộ, của những tăng hữu đã giúp ông trên đường tu hành, dạy ông kinh Phật, Yôga, chia sẻ với ông những phương thuốc Ấn Ðộ bí truyền giúp ông tự bảo vệ mình trong hoàn cảnh khắc nghiệt. Và đó cũng là những phương tiện để sau này ông cứu giúp chúng sinh.
 
Công bằng mà nói thì khi trở về với dân tộc với cách mạng, Phật sống Lưu Công Danh đã là một quả phúc lớn để cách mạng và đất nước thụ hưởng. Về vật chất, đó là va ly bạc Ðông Dương cùng chiếc xe hơi tuy nhỏ nhưng là tài sản quý báu trong buổi đầu dựng nghiệp của chính quyền cách mạng. Quả phúc lớn vô giá là cái danh cái tiếng : Phật sống theo Cụ Hồ đi kháng chiến. Trong vòng năm năm, trùng với thời gian Mặt trận Việt Minh thành lập thì Phật sống trở thành vị quốc sư giáo chủ của Phật giáo Campuchia. Không chỉ được người dân Khmer tôn thờ mà còn được nhiều người Việt từng sang Cao Miên biết tiếng với danh nghĩa Phật sống Ấn Ðộ. Anh Tư Thạch kể rằng, năm 1974, trên đường về Nam, một đêm nghỉ chân trong căn nhà sàn của gia đình Campuchia vắng chủ, trong ánh đèn dầu, anh nhìn lên bàn thờ thấy ảnh một vị hòa thượng dáng tiên phong đạo cốt, tay chống gậy, mặc áo cà sa vàng rực trông rất ấn tượng. Sau này gặp Ba Danh, anh nhận ra đúng đó là vị phật trong ảnh năm nào. Khi nhận ra vị Phật sống Ấn Ðộ mình từng ngưỡng vọng lại là người Việt trong áo cà sa vàng rực rỡ cổ động cho Tuần lễ vàng thì đó là sức ủng hộ vô cùng lớn cho cách mạng, cuốn hút được bà con Cao Ðài, Hòa Hảo cùng các phật tử đi theo Cụ Hồ.
Khi cách mạng phân công làm Giám đốc Ðề lao binh thì do lòng nhân từ, vị bồ tát đã cứu độ chúng sinh, giúp cho những chiến sĩ hàm oan không bị đẩy vào hoàn cảnh khốn khó trong vòng tù tội. Và cũng nhờ sự phát hiện của ông mà nhiều cán bộ chiến sĩ được giải thoát cả về thân xác cả về danh dự.
 
Ra ngoài Bắc, từ một người lính, Lưu Công Danh tham gia đoàn ngoại giao Chính phủ đi thăm nhiều nước. Việc gặp phu nhân Tổng thống Ấn Ðộ Praxat để xoay chuyển cuộc hội đàm đang căng thẳng, việc mời nhà vua Lào sang thăm Việt Nam… là những cống hiến vô giá vô hình của ông bằng cái nghệ thuật mà con người hiện đại gọi là loppy - vận động hành lang. Rồi sau đó, trên con đường độc hành của mình, dưới tên lương y Ba Danh, ông góp cho y học cổ truyền Việt Nam những phương thuốc quý cùng cứu chữa hàng nghìn bệnh nhân. Ông thành ân nhân cứu tử, ân nhân tái sinh của hàng trăm con người mắc bệnh nan y.
 
Một quả phúc nữa Lưu Công Danh để lại cho dân Việt là tấm gương về một con người có tâm, có ý chí và nghị lực lớn lao, một mình cô độc luồn lách đi trong rừng hết năm này sang năm khác, vượt qua những thử thách ngặt nghèo, gian nguy, nhiều lần mấp mé giữa sống và chết. Trong hoàn cảnh ấy, một con người đã không mất hy vọng, vẫn giữ lòng yêu cuộc sống, hoàn thiện nhân cách, đạt tới vinh quang cao nhất của tu hành, trở về với cộng đồng rồi mang tài năng học được trong khổ luyện, cứu giúp chúng sinh bằng tấm lòng bồ tát. Trong thời gian dài hàng nửa thế kỷ, như vị bồ tát độc hành, Lưu Công Danh âm thầm nêu tấm gương phục vụ quên mình vì đồng loại, một việc làm mang tầm vóc của Đức Phật.
 
Nếu nói về ơn nghĩa thì cả Lưu Công Danh cả chúng ta phải biết ơn nhà văn Phạm Tường Hạnh. Năm chục năm trước, vì công vụ, nhà văn viết lý lịch anh bộ đội Lưu Công Danh. Nửa thế kỷ sau, vì tình người, vì trách nhiệm của người cầm bút, chính ông đã phát hiện lại Ba Danh đang chìm trong quên lãng. Chính nhờ sự phát hiện này, một lần nữa Lưu Công Danh được tái sinh.
 
Muốn công bằng, phải nói rằng, những năm cuối đời, cụ Lưu Công Danh sống lặng lẽ. Như ngọn đèn không sáng được chân, người dân Kiên Giang chỉ biết đến cụ như là một ông lang có môn thuốc trị gãy xương. Ðến với cụ phần nhiều là bệnh nhân, những người nhờ cụ chữa bệnh và cả những người bệnh được cụ chữa khỏi, đến thăm hỏi và nuôi cụ bằng chút quà thuộc loại cây nhà lá vườn dân dã khi giạ gạo, khi ít khô, ít lít nước mắm. Trong ngôi nhà cấp bốn xập xệ, cụ không treo Huân chương Chiến thắng hạng Nhì do Ðại tướng Võ Nguyên Giáp ký ngày 9 tháng 3 năm 1958. Không ít người nhìn cụ bằng con mắt nghi ngại : ông già kháng chiến hai mùa mà sao ra về không mảnh giấy lót lưng, gần như sống bằng mấy đồng trợ cấp xã hội. Chắc ở ngoải có chuyện chi đây ? Không ai nhắc đến Phật sống, dường như đó cũng chỉ là những lời đồn thất thiệt. Nhưng từ khi ký sự Phật sống Lưu Công Danh đi kháng chiến đăng báo, mọi sự khác hẳn ! Người Rạch Giá Kiên Giang như bừng tỉnh vì nhận ra một Ba Danh mới, tỏa ánh hào quang. Nhất là khi đọc báo biết Ba Danh còn sống, bạn bè chí cốt rồi những người chịu ơn ông, hầu hết là người tiếng tăm hiển đạt từ khắp nơi trong nước tới thăm, tạo cho dân Rạch Giá cái nhìn khác... Các hội đoàn đến chúc thọ, Tỉnh uỷ, Uỷ ban tặng quà, tặng nhà tình nghĩa. Cũng đến lúc này cụ mới dám tự tin, làm tờ khai thành tích kháng chiến để nhận Huy chương Kháng chiến hạng Nhất. Như cục đá từ lâu lăn lóc góc nhà, nay Lưu Công Danh bỗng là ngọc tỏa hào quang trên ban thờ. Không có gì lạ bởi đấy là cuộc đời ! Không chỉ Lưu Công Danh mà cả Kiên Giang cũng biết ơn nhà văn già đã phát hiện cho họ thấy linh vật của mình. Một tiếc nuối: giá mà biết cụ sớm hơn !
 
Chúng ta còn nhớ, vị trụ trì chùa Tây Phương nói với Lưu Công Danh : "Trở về giúp ích cho đời." Vậy thế nào là giúp ích cho đời ? Theo quan niệm nhà Phật, làm một vị Phật sống đức cao vọng trọng giúp chúng sinh ổn cố tâm linh, hướng về cõi thiện là giúp ích cho đời. Mang những bài thuốc học được trong khi tu luyện ra trị bệnh cứu người cũng là giúp ích cho đời. Nhưng theo quan niệm thế tục, phải quyền cao chức trọng mới cống hiến được nhiều. Vì thế nhà nước đưa Ba Danh ra nước ngoài đào tạo để trở thành cán bộ quân sự tầm cỡ. Nhưng ý tốt đã không thành. Sau ba học kỳ vất vả, Lưu Công Danh phải về nước với thành tích học tập thê thảm : chưa hề bắn đạn thật trúng bia cũng không thể trình bày nổi một phương án đánh trận dù chỉ là nhắc lại giáo trình ! Vì sao vậy ? Phải chăng vì Lưu Công Danh dốt không học được ? Chúng tôi không tin vậy. Một con người năm sáu năm trời đơn độc ngoan cường sống sót trong rừng già Ấn Ðộ, học thuộc hàng vạn câu kinh bằng tiếng Phạn, không lẽ không thuộc nổi một vài trang giáo án ? Một võ sư từng thông thạo quyền cước, luyện mắt nhìn chọi lại mặt trời không lẽ không biết bóp cò cho viên đạn trúng đích ? Nếu vậy phải chăng do ông cố tình dốt, cố tình dở để chối bỏ việc học ? Không phải vậy ! Chính vì ham muốn tiến bộ mà ông xin được đi học. Chúng tôi đoán là, chính Lưu Công Danh không hiểu mình cũng như tổ chức không hiểu Lưu Công Danh nên đưa ông đi đào tạo trái với thiên mệnh của ông. Ông Phật sống từng đặt một chân lên cõi niết bàn khi trở về đời sống giữa nhân gian không thể là con người của trận mạc ! Nếu hiểu mình hơn, Lưu Công Danh phải xin đi học y, học dược thì với kinh nghiệm quý báu của mình kết hợp với y lý dược lý của khoa học hiện đại, hẳn ông sẽ giúp đời được nhiều hơn. Học không xong nhưng ưu ái của Nhà nước với ông vẫn nhiều. Tổ chức đã dành cho Lưu Công Danh được tự chọn làm người lãnh đạo, người quản lý. Với cấp bậc đại uý thời đó, người ta thường giữ chân giám đốc này giám đốc khác nhưng rất vô tư, Lưu Công Danh đã nhận một vị trí thấp nhất trong những bậc thang quan chức : chủ nhiệm hợp tác xã xe ba gác ! Và rồi với công việc này, ông cũng nhờ người khác làm giúp để dành thời gian rị mọ đi theo cái nghiệp của mình : trị bệnh cứu người. Chính trong lĩnh vực không được nhà nước đào tạo này, Lưu Công Danh đã cống hiến tốt nhất cho nhân dân cho đất nước !
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-17 19:33:31Tư Tứ>
GHI CHÉP CỦA TÁC GIẢ ẨN DANH
 
PHẦN THỨ NHẤT
 
SỰ TÔN KÍNH VÀ NGƯỠNG MỘ PHẬT SỐNG
 
 
"Văn kỳ thinh bất kiến kỳ hình"
 
Một ngày bãi trường năm 1943, má dẫn tôi đi chùa để dâng hương cúng Phật. Theo thói quen, sáu tháng đầu năm má tôi đi chùa ngày 30 còn sáu tháng cuối năm người đi chùa vào ngày rằm. Ðến chùa, sau khi dâng lễ cho lục nhận xong, má vào Ðiện lạy Phật, tôi cũng theo má vào lạy Phật. Lễ xong, má tôi ra ngồi nghe lục Cả kể về sự tích của Phật. Sau đó lục Cả báo tin : Lục vua bên Nam Vang cho biết, ở Nam Bộ có một người sang Ấn Ðộ tu đắc quả được công nhận là vị Phật sống. Vị Phật sống này có tên là Ba Danh. Phật sống sẽ sang đây thuyết pháp ở các chùa lớn. Các chùa phải bảo vệ và đón tiếp, sau đó báo cho con sóc đến nghe thuyết pháp. Nghe xong, má tôi hỏi :
 
-         Thưa lục Cả, khi nào vị Phật sống sang đây ?
 
Lục Cả trả lời chưa rõ.
 
- Vậy khi nào vị Phật sống sang đây, lục Cả nhớ báo cho con hay để đến nghe Phật thuyết pháp.
 
Má tôi nói. Lục Cả hứa sẽ báo tin. Riêng tôi có tính hiếu kỳ, nghe vậy thì mong đợi.
 
Má tôi vẫn đi chùa nhưng không nghe tin Phật sống đến. Từ đó đến ngày tôi tham gia kháng chiến năm 1948 tôi không được tin gì về Phật sống nữa. Tuy vậy trong lòng tôi vẫn le lói niềm hy vọng.
 
 
PHẦN 2
 
CHUYỆN PHẬT SỐNG ÐƯỢC NGHE KỂ
 
 
Năm 1954 tập kết ra Bắc, tôi được biên chế vào Ðội kiểm soát lưu động 3 Quân khu Tả Ngạn để bảo vệ cửa sông Văn Úc và sông Thái Bình, chuẩn bị tiếp quản Hải Phòng. Sau khi tiếp quản Hải Phòng, đơn vị cử tôi đi học Trường Hàng hải, sau đó lại học Trường Hoa tiêu cảng Hải Phòng. Hai trường nầy đều do Tổng cục thuỷ bộ mở. Một buổi tối chủ nhật, chúng tôi ngồi lại uống trà nghe đồng chí Phạm Văn Bơi và Ðặng Thái Nguyên quê ở Bến Tre và Cần Thơ kể chuyện ông Phật sống Ba Danh đi Tây Phương :
 
Theo ông Ba Danh kể lại, ở Ấn Ðộ có lệ 3 năm, 6 năm, 9 năm thì toàn nước Ấn có tuyển người đi Tây Phương. Vì có đi không có về nên có năm không ai ghi tên. Ông Ba Danh đến Ấn Ðộ được 3 năm thì có cuộc tuyển người đi Tây Phương. Ông tự nguyện đăng ký đi. Ðợt đi nầy có 6 người nam (đi Tây Phương không tuyển nữ). Sau khi ghi tên, ông đến nơi tập trung phải chịu nhiều cuộc lễ do chùa đặt ra rất là khắc khổ như tập ngồi thiền nhiều ngày, nhịn ăn nhiều ngày, chỉ được uống nước hoa quả. Trước khi đi hai ngày phải ép thức ăn trong bao tử ra hết, sau đó được uống nước hoa quả và tắm nước thơm, cạo đầu, thay quần áo, rồi nhận giấy thông hành để xuất trình khi đến những cảnh chùa gặp trên đường. Sau đó được cấp chén đũa của chùa theo lễ đi Tây Phương. Ông chịu bao đau khổ thì đến ngày lên đường. Cả 6 người được cấp một số lương thực và nước uống. Sau đó 6 người được chùa tiễn lên đường và chỉ phác hoạ hướng đi và phải ghé lại hàng trăm ngôi chùa trong núi rừng mới đến chùa Tây Phương.
 
Sau những lời dặn của vị sãi cả cùng gia đình, 6 người thành tâm bước theo đường mòn vào núi rừng hoang dã âm u tịch mịch. Cuộc đi phải đương đầu với bao toán cướp hung dữ, cọp, beo, rắn độc. (Ở Ấn Ðộ, gia đình nào có người đi Tây Phương thì được tôn vinh và kính trọng)
 
Cuộc đời dấn thân vào gian lao nguy hiểm. Ðêm leo lên cây nghỉ, ngày lần mò đi chịu đói chịu khát. Ði được 6 tháng thì lạc mất 2 người. Ðến đầu năm thứ 3 thì chỉ còn lại một mình trong cuộc hành trình đến Tây Phuơng. Cô đơn trong núi rừng đói khát, có nhiều nơi hoang vắng âm u đến ghê sợ ! Chỉ có lòng tin đến chùa Tây Phương để rồi trở về là nguồn an ủi mạnh nhất.
 
Theo truyền thuyết : sau khi Ðức Thích Ca đắc đạo, Ngài dẫn 30.000 tín đồ đến núi Kê Túc. Tại đây có một hang động lớn, phong cảnh đẹp lại âm u tĩnh mịch để hành đạo. Ngài chia 30.000 tín đồ ra như sau :
 
-         Tốp lo thiết kế.
-         Tốp lo hậu cần.
-         Tốp lo kỹ thuật.
-         Tốp lo thi công.
-         Tốp lo sức khoẻ.
 
Làm trong 30 năm mới xong. Ông Ba Danh kể về chùa Tây Phương như sau :
 
- Một dãy núi cao hùng vĩ, xung quanh bao bọc bởi rừng già, có suối chảy quanh. Ngôi chùa nằm trong hang núi được kiến thiết tráng lệ nguy nga. Tượng Phật được làm bằng đá hoa cực kỳ đẹp và tinh xảo. Bước vào trong chùa thấy tượng Phật Thích Ca ngồi chính giữa, xung quanh hương hoa tỏa mùi thơm ngào ngạt, không khí trang nghiêm cực độ. Dưới tượng Thích Ca có một vị hoà thượng ngồi xếp bằng, tay trái đưa lên ngang tim, tay phải để lên đầu gối. Thân người chỉ còn da bọc xương, hai mắt nhắm nghiền. Trước mặt vị này có một tô nước và dĩa hoa quả tươi. Vị này ngồi yên không thấy cử động. Ngoài cửa chùa có một vị ngồi trên một tảng đá, dựa lưng vào vách núi, hai tay chắp lại, tư thế ngồi xếp bằng. Rễ cây bồ đề mọc phủ hai bên má. Trước mặt vị này cũng có một tô nước và một dĩa hoa quả tươi.
 
Chùa nầy có trên 200 vị sư, tuổi ít nhất là 60, cao nhất hơn trăm tuổi. Chỉ có vị sư nhỏ độ 40 tuổi. Những người may mắn đi đến chùa Tây Phương mà không được công nhận là Phật sống thì ở lại hay về tuỳ ý. Nhưng có mấy người đến được đâu? Ða số họ chết dọc đường do đói khát, cọp, rắn độc và mọi bệnh tật.
 
Trên đường đến chùa Tây Phương, gặp chùa nào ông cũng ghé lại trình giấy ấn đi Tây Phương và ở lại dưỡng sức để đi tiếp. Ðoạn đường nào dài mà khó đi thì nghỉ lại độ một tháng. Có chùa chỉ nghỉ một tuần rồi đi tiếp. Cứ thế mà dấn bước. Cuộc hành trình tự nguyện với lòng tin tưởng.
 
Ông không ngờ đó là chặng đường tới đích. Ông lật sổ ra xem, đã mười ngày đi ròng rã mà không gặp ngôi chùa nào. Một mình giữa núi rừng hoang không vết chân người. Người thấm mệt, đói, khát, có phần nản chí. Ý nghĩ ấy thoáng qua. Bỗng ông nghe có tiếng nước chảy, ông lần đến nơi. Quả là có nước từ núi cao chảy xuống. Mừng quá, ông vội uống và lấy bình dựng đầy nước, ngồi nghỉ một lát rồi tiếp tục đi.
 
Trời về chiều, qua cánh rừng thưa, ông nhìn trước mặt có một quả đồi, trên đồi có một cây cao to. Ông liền đi về phía quả đồi, leo lên đồi rồi trèo lên cây quan sát. Bỗng thấy trước mặt qua ánh mặt trời phản chiếu, ẩn hiện một ngôi chùa. Ông quá mừng, liền tụt xuống, nhắm hướng ngôi chùa đi tới, lòng hân hoan tin tưởng. Ðến cửa chùa thì trời cũng tối. Cái tối ở núi rừng, trong khi mặt trời vẫn còn ở chân trời. Ông chắp hai tay trước ngực, cúi đầu đi thẳng vào chùa. Một vị sư ra tiếp. Ông lấy giấy ra trình. Vị sư nhận giấy, đi vào bên trong, mấy phút sau có một vị sư già ra đón ân cần, đưa ông đến chỗ ăn nghỉ rồi sau đó đưa tới Ðiện thờ Phật tổ, nơi làm lễ hàng ngày. Ông làm lễ và nghe kinh đến khoảng nửa đêm thì xong cuộc lễ, trở về nghỉ. Sáng hôm sau, khi làm lễ xong nhà sư già mời ông uống trà. Trong câu chuyện thăm hỏi, nhà sư cho biết, chùa này cách chùa Tây Phương 30 ngày đường. Nếu đi giỏi thì thời gian sẽ ít lại. Phân nửa đường dễ đi, còn phân  nửa vô cùng khó khăn, nhưng nếu có quyết tâm và lòng thành cao thì đến được. Cách nay độ vài chục năm có một đoàn 3 người đã qua đây để đến chùa Tây Phương, nhưng sau đó không thấy quay lại đây. Còn nếu người đắc quả, được nhận ấn công nhận là Phật sống thì người đó cũng phải trở lại chùa này, sau đó mới về nơi xuất phát, vì đây là quy định của Phật tổ. Còn chùa nầy, mỗi năm hai lần đến chùa Tây Phương. Nghe vậy ông mừng vô hạn, như được vật quý vô giá vì gần 6 năm còn chịu được gian khổ nguy hiểm. Nay còn 30 ngày đường thì nhằm nhò gì ! Lòng tin cùng sức mạnh nơi ông được tăng lên vạn lần.
 
Sáng hôm sau, lễ Phật xong, ông từ giã nhà sư già rồi hăng hái lên đường, nhắm hướng chùa Tây Phương tâm niệm, bước đi mà không thấy mệt ! Vào một buổi chiếu tà, ông ngồi nghỉ ở một gốc cây, mở sổ ra xem, đã qua 25 lần mặt trời mọc lặn, nghĩa là đã 25 ngày đường mà chưa thấy bóng dáng chùa Tây Phương đâu. Ông quyết định nghỉ lấy sức để ngày mai đi tiếp. Ông liền leo lên cây cao tạo chỗ ngủ chu đáo. Sau đó ngồi đọc kinh. Ðang ngồi đọc kinh trên chạc cây thì bỗng bên tai văng vẳng tiếng chuông. Ông lắng tai nghe rồi xác nhận tiếng chuông là thật. Ông mừng đến chảy nước mắt và la lên : Ta sắp đến chùa Tây Phương rồi ! Lòng thành của ta được đền đáp và chắc chắn là thành công. Phật tổ không phụ lòng ta ! “Tu nhứt kiếp, ngộ nhứt thời” là thế ! Ông Ba nói. Ðêm đó ông ngồi đọc kinh cho đến sáng. Sáng ra ông lấy tay vớt sương trên lá để rửa mặt. Sau đó ông tụt xuống ngồi xếp bằng, hai tay chắp lại, mặt hướng về phía có tiếng chuông chiều qua niệm kinh theo quy định. Tụng niệm xong, ông lại lên đường. Chiều ngày thứ 26 của chặng đi cuối cùng, ông đến chùa Tây Phương, nhận được sự đón tiếp long trọng theo nghi lễ của nhà chùa. Sau lễ đón, nhà sư nhỏ dẫn ông đến nơi để tư trang, cũng là nơi nghỉ trong những ngày ở lại chùa. Sau đó dẫn ông đến Ðiện thờ Phật tổ. Tại Ðiện Phật tổ, sau này nhiều lần ông đến đọc kinh. Mỗi lần ông đến đọc kinh đều có hai nhà sư chứng kiến.
 
Chùa Tây Phương như truyền thuyết tôi kể truớc, nhưng khi đến mới thấy đồ sộ tráng lệ, nguy nga, tinh xảo ngăn nắp đâu vào đấy, giống như một cung điện toàn bằng đá có nhiều màu sắc, mỗi nơi mỗi chỗ được bài trí hài hoà. Còn phong cảnh xung quanh thật là thuỷ tú sơn kỳ, trong sân là kỳ hoa dị thảo. Nơi này được thiên nhiên cùng con người kiến tạo thành ngôi chùa tuyệt tác.
 
Theo quy định thì những người đi tu mà đến được chùa tây Phương sau khi nghỉ để học kinh tại chùa độ 1 tháng, thì cứ 3 ngày một lần đến trước Ðiện thờ Phật tổ đọc các kinh đã được học, đến khi nào được vị sư ngồi dưới Phật tổ gật đầu thì mới đắc quả thành Phật sống. Mỗi lần đọc kinh đều có hai vị sư giám sát. Tôi đến đọc hai lần, coi như không đạt. Tôi về phòng đọc lại cho kỹ và thật nhuyễn.
 
Lần thứ 3 tôi đang đọc được phân nửa thì bỗng bao tiếng chuông vang lên. Ðó là dấu hiệu báo tôi đắc quả. Tuy mừng lắm nhưng tôi vẫn ngồi im chờ đợi những điều gì đó sắp diễn ra. Sau tiếng chuông thì 200 vị sư kéo đến tề tựu trước Ðiện thờ. Tất cả cùng đọc kinh. Khi ngừng đọc kinh thì hai vị sư già đến cạo đầu tôi và vảy nước thánh lên người tôi. Tiếp đó họ dùng đèn cầy đốt ấn đồng in lên đầu tôi 12 nốt. Sau đó mọi người cùng đọc kinh rồi đưa tôi về phòng nghỉ. Ngày hôm sau tôi được 200 nhà sư đưa đến trước Ðiện thờ để tôi cầu nguyện còn các vị chúc mừng tôi đắc quả. Tôi được nhà chùa cấp y phục Phật sống và chuỗi bồ đề cùng những thứ vật dụng dùng cho Phật sống. Mỗi đêm ra Ðiện cầu nguyện, tôi đi trước rồi các vị sư tùy thứ bậc theo sau. Quả là qua khổ hạnh thì đến vinh quang ! Thức ăn nước uống, nước rửa mặt, ngay cả nước tắm cũng được chu cấp đầy đủ hàng ngày.
 
Việc quan trọng nhất là ấn Phật tổ và những bảo pháp của Phật Thích Ca để đóng dấu công nhận những ai đắc quả thành Phật sống được lưu truyền và giữ tại chùa nầy, không chùa nào khác có được.
 
Cái hộp đá giữ bảo vật nầy được đặt trước mặt vị sư ngồi dưới tượng Thích Ca. Người được công nhận Phật sống ngoài giấy tờ công nhận còn được trao cho 2 vật báu làm tin để mang về nơi xuất phát. Trên đường về nơi xuất phát nếu ghé chùa nào cũng phải xuất trình ra để được chứng minh.
 
Trên đường trở lại nơi xuất phát, Phật sống có ghé lại ngôi chùa cuối cùng trước khi tới chùa Tây Phương. Ông trình ấn tín cùng giấy tờ và 2 vật báu cho các nhà sư xem. Nhìn thấy những vật này, các nhà sư trong chùa chắp tay xá ông ba xá. Sau đó họ tiễn ông lên đường bằng cách dùng kiệu khênh đi một đoạn đường dài rồi mới chia tay.
 
Khi đi gần 6 năm, khi về 2 năm. Lý do ông ít ở lại các chùa như lúc đi. Khi về, ông cảm thấy như có người dẫn đường và bảo vệ.”
 
Sau khi đồng chí Bơi kể xong, tôi hỏi :
 
- Hiện giờ ông Ba Danh ở đơn vị nào ?
 
Ðồng chí trả lời :
 
-         Ông Ba đã đi học quân sự ở Liên Xô.
 
Ðồng chí cũng cho biết : quê ông Ba ở Rạch Giá. Tôi ghi nhớ địa chỉ quê hương ông Ba vào óc và nuôi hy vọng : nhất định sẽ gặp được vị Phật sống mà mình ngưỡng mộ từ năm 1943 tại ngôi chùa Bổng Thanh, Sóc Trăng, khi vị lục cả kể tin này cho má tôi nghe.
 
 
PHẦN 3
 
DI NGÔN CỦA PHẬT SỐNG
 
 
Sau giải phóng, tôi về công tác tại Kiên Giang vào cuối năm 1975. Sau khi ổn định công việc, chủ nhật tôi lân la hỏi thăm về ông Phật sống Ba Danh tập kết ra Bắc hiện trở về đang ở đâu ? Không ai biết, bặt vô âm tín.
 
Hơn 10 năm sau, vào năm 1987, tình cờ tôi hỏi một người mới quen tại quán cà phê thì người này nói :
 
-         Ông Ba Danh đang ở gần nhà tôi.
 
Tôi mừng vô hạn độ : “Việc mò kim đáy biển mà mò được quả là may mắn.” Tôi hỏi cụ thể nơi ông Ba ở rồi gọi một xị rượu thuốc cùng dĩa gà xé làm cuộc nhậu với người bạn mới để ăn mừng.
 
Trở về cơ quan, ngồi vào bàn làm việc, nhưng tôi không làm được việc gì. Ðầu óc luôn nghĩ về ông Phật sống, về ngày mai diện kiến mình sẽ nói gì. Cả đêm thứ Bảy không tài nào tôi ngủ được, cứ mơ mơ màng màng về ông Phật sống. Sáng Chủ nhật, tôi mang một quyển sổ, ghé quán ăn sáng, uống ly cà phê đậm rồi lên đường đến nhà ông Ba Danh. Gần đến nhà ông, tôi hỏi thăm một người đi đường, người đó chỉ cho tôi ngôi nhà của ông. Cảm ơn người chỉ đường, tôi bước từ từ mà lòng quá hồi hộp, tim nhảy liên hồi, vừa mừng toại nguyện, vừa lo việc diện kiến, tôi đứng lại trấn tĩnh rồi bước vào cổng, nhìn hàng ba thấy có một người ngồi trên chiếc giường nhỏ. Tư thế ngồi xếp bằng, hai tay để lên hai đầu gối. Tôi bước đến cúi đầu chào và hỏi :
 
- Thưa ông, ông có phải là ông Ba Danh Phật sống không ?
 
Ông nhìn tôi cười và nói :
 
- Phải, tôi là Ba Danh Phật sống đây. Rồi ông nói tiếp, tôi chờ đón chú đã hơn 1 giờ rồi !
 
Câu nói nầy làm tôi bàng hoàng ngạc nhiên cao độ. Tôi liền hỏi :
 
- Sao ông Ba biết tôi đến mà chờ ?
 
- Biết chớ, sao mà không biết được ! Hai đêm rồi tâm linh báo cho tôi : có người đến thăm tôi vào sáng nay. Người đó với tôi có sự đồng cảm từ lâu. Việc đi Tây Phương tôi giữ kín từ lâu, nay sẽ kể lại cho người đó nghe, đó là mệnh lệnh tâm linh. Vậy hôm nay tôi nhận chú làm em. Mời chú vào nhà.
 
Tôi bước theo ông vào nhà. Ông chỉ chiếc ghế mời tôi ngồi rồi mời tôi uống nước. Tôi ngồi ghế còn ông Ba ngồi trên bộ ván kê sát bàn. Ông bảo người nhà :
 
- Ðóng cửa lại, có ai hỏi thì nói hôm nay ông bận.
 
Ông trở lại ngồi ở tư thế xếp bằng, đầu hơi ngả về trước, hai tay để lên hai đầu gối. Hai mắt nhắm lại, ông nói :
 
- Chú nghe tôi kể đây !
 
Tôi đáp dạ rồi ngồi im.
 
- Tôi kể về nguyên lý của đạo Phật rồi kể tiếp về Vũ trụ, con người và tôn giáo.
 
- Dạ, xin nghe ! Tôi nói.
 
- Chú đã được nghe về cuộc hành trình đi Tây Phương của tôi do hai người kể phải không ?
 
Nghe ông hỏi vậy, tôi hoảng hồn và lo lắng, chỉ kịp đáp :
 
- Dạ, đúng vậy !
 
- Vậy tôi chỉ kể về sự đắc đạo của tôi tại chùa Tây Phương. Việc chú nghe hai người kể về tôi có phần chính xác.
 
Sau khi tôi đắc đạo, làm mọi thủ tục để được công nhận là Phật sống, tôi ở lại chùa ba tháng để học thêm kinh và những lời dạy của Thích Ca. Mở đầu, Ðức Thích Ca dạy :
 
Ø Người tu hành không cầu danh lợi.
 
Ø Không cần phải đến chùa tu, có thể tu tại gia, mỗi đêm ngồi nguyện, làm nhiều việc thiện và hướng dẫn người xung quanh làm việc thiện.
 
Ø Không nghĩ đến những điều tà tâm.
 
Ø Hàng ngày phải học chữ để tự đọc kinh.
 
Ø Ai làm được như vậy sẽ đắc đạo.
 
Tôi ngồi thiền định 3 ngày đêm không ăn không uống, hai tay chắp lại, hai mắt nhắm, với lòng thành kính cao độ. Mãi đến đêm thứ ba, tâm linh tôi mới nhận được điều răn dạy thuyết pháp.
 
Trước đó, tôi cảm thấy một luồng ánh sáng chói loà sau đó có màu xanh hòa vào màu sáng, tôi có cảm giác như là gió hiu hiu. Tôi cố mở mắt nhưng không tài nào mở được. Toàn thân cũng không cử động được nữa. Nhưng trong con người cảm thấy nhẹ nhàng, hân hoan kỳ lạ !
 
Tại Ðiện thờ chỉ có mình tôi. Sự tĩnh mịch im lặng trong đêm giữa rừng núi hoang dã bao phủ ngôi chùa. Tôi chỉ còn cảm nhận được mùi thơm của hương hoa từ bàn thờ toả ra. Nhiều khúc trầm hương, kỳ nam được bọc trong bao gấm đặt xung quanh điện thờ luôn tỏa hương ra tăng thêm sự trang nghiêm.
 
Bỗng tai tôi nghe tiếng nói, giọng nói trầm phát ra từ đâu đó vọng tới :
 
- Nầy đệ tử, nay ngươi đã đắc đạo và được công nhận là Phật sống, ngươi phải trở lại nơi xuất phát để truyền giảng đạo cho phật tử và người ngoài đời rõ nguyên lý đạo Phật chân chính. Tin ngươi đắc đạo đã được truyền đến ngôi chùa nơi ngươi xuất phát. Ở đó đang mong chờ ngươi về. Ta đã gắn cho ngươi hai bảo pháp là điện cơ nhân và tâm linh đồ bằng hình thức đóng ấn lên đầu nhà ngươi 12 nốt. Từ nay cuộc sống của nhà ngươi phải hết lòng vì đạo và do ta điều khiển.
 
Ta là thần Tam Tông chuyên lo về tôn giáo. Muốn đạo Phật tồn tại bền lâu và phát triển thì phải có lòng tin cao sâu tuyệt đối ở tâm linh, biểu hiện ra hành động từ vị chân tu đến hàng phật tử để cảm hoá mọi tầng lớp xung quanh. Lòng tin tuyệt đối, bền vững là một sức mạnh cực kỳ to lớn sẽ giúp cho Ðạo, cho quốc gia được an cư lạc nghiệp, nền đạo đức của đạo và quốc gia được toàn thiện. Muốn được thế thì phải làm được một cách hoàn chỉnh và triệt để như: Loại ra khỏi đạo Phật mọi truyền thuyết hoang đường và mê tín dị đoan trong đạo và ngoài đời càng nhanh càng tốt, để tiến tới 3 tôn giáo lớn là Phật giáo, Cơ đốc giáo và Hồi giáo sẽ thống nhất lại để cho toàn thế giới sống trong cảnh đời đạo hoà đồng vui sống trong đoàn kết. Vì giáo chủ Giêsu, giáo chủ Môhamet và giáo chủ Thích Ca đều do ta tạo lập nên. Tuy ba đạo có nhiều điều khác nhau nhưng cùng chung một việc lớn : làm thiện tránh ác, vì mọi người và đưa mọi người đến tâm linh thánh thiện. Ta đang tìm người và phương cách hoà hợp thống nhất 3 đạo lớn do ta tạo lập.
 
Phật chỉ có một lòng thành mong muốn đem lại cho mọi người được hưởng công bằng, bác ái, giúp đỡ nhau mọi trường hợp khó khăn gặp phải: người giúp đỡ người chứ Phật không có phép mầu nào để trị các bịnh tật mà con người mắc phải. Người mắc bịnh thì có người tìm mọi cách chữa trị, đó là việc làm thực tế giữa người với người. Phật không bao giờ can thiệp mà cũng không can thiệp được. Phật dạy cho mọi người phải có lòng từ bi hỉ xả với mọi người. Làm được việc này thì tâm linh sẽ được thanh thản.
 
·        Từ bi hỉ xả có nghĩa là : Không cố chấp không gây hận thù, không đố kỵ không vu oan điều ác. Không oán không hờn, không giận, có lòng thành cảm hoá người khác. Nghiêm khắc với mình, phải rộng rãi tha thứ, có lòng bao dung quảng đại.
·        Từ bi bác ái có nghĩa là : phải có lòng yêu thương mọi người vô hạn, cưu mang người bất hạnh.
·        Cứu độ chúng sinh thoát khỏi cảnh trầm luân bể khổ, có nghĩa là dạy người làm thiện tránh điều ác, tà tâm. Cứu giúp người khi gặp nạn do mưu sinh cuộc sống chính đáng. Giáo hóa mọi người làm điều thiện tránh điều ác để khỏi bị lao tù, bị tra khảo, bị tàn tật do hiềm khích gây nên. Làm điều ác thất đức là mình tự tạo cho mình sa vào cảnh trầm luân bể khổ vậy. Người làm được nhiều việc thiện thì cuộc sống được vui tươi, tâm linh trong sáng và vui vì mình có ích cho mọi người.
·        Người hành đạo không được vụ lợi, không tham danh lợi, phải làm chủ được mình trong mọi trường hợp hỉ, nộ, ái, ố, nhất là với tửu, sắc. Nghiêm cấm không được dùng mỹ nữ ca múa trước bàn thờ Phật.
·         Ta có giảng cho Thích Ca việc : "Tu nhứt kiếp, ngộ nhứt thời" câu nầy có nghĩa là : một số người nào đó vốn hiền lành, vì thiếu suy nghĩ, lỡ làm điều ác, thất đức, sau đó ăn năn, hối hận, tỉnh ngộ từ bỏ cái ác, làm việc thiện thì được hưởng ân huệ câu nói trên.
 
Còn những hạng người từ vua, quý tộc đến thứ dân luôn nghĩ đến điều ác, làm nhiều việc ác, thất đức, không hề làm điều thiện, khi gặp tai họa thì đến cầu xin với lòng giả dối, cầu mong Phật cứu tai qua nạn khỏi để sau đó lại làm ác. Hạng người nầy không được hưởng ân huệ câu trên. Phật đâu có phép mầu nào để cứu! Phải để cho hạng người đó bị luật đời nghiêm trị nhằm răn đe kẻ khác.
 
·        Còn vô số người đến cầu lộc, cầu tài, cầu duyên. Nếu hạng người nầy làm việc có nhân đức, không làm việc phi pháp thì không cần phải cầu khẩn gì cả.
 
Còn nếu khi cầu khẩn mà lòng không thành, dạ không ngay, có tính lợi dụng thì Phật nào ban cho. Mà thực tế Phật cũng không cho được! Thích Ca từ bỏ mọi quyền quý cao sang tột đỉnh để lo cứu độ thì đâu có nghĩ tới những việc đó nữa.
 
·        Khi ta đưa Thái tử đi hành đạo ta có dạy cho Thái tử 5 điều cấm như sau :
 
1.     Nhất bất sát sinh.
2.     Nhị bất vu đạo.
3.     Tam bất tà dâm.
4.     Tứ bất vọng ngữ.
5.     Ngũ bất ẩm tửu.
 
Riêng điều cấm thứ nhất phải hiểu như sau : không được giết người cướp của và vì tư thù vô cớ. Ðược quyền bảo vệ mình khi có kẻ muốn giết mình.
 
·        Bài cầu nguyện cho các phật tử :
 
Nay với lòng thành cầu nguyện : trên có Trời, dưới có Ðất, được chia bốn phương tám hướng cầu mong Phật tổ cải tạo cho được huệ tâm, huệ tánh, huệ nhãn, huệ nhĩ, huệ tưởng tâm linh siêu phàm hướng về Tây Phương, nay nguyện cải tà quy chánh theo Phật, lo tu tâm dưỡng tánh, luôn luôn làm đúng theo lời răn dạy của Phật. Làm không đúng xin chịu mọi hình phạt của Phật !
 
·        Trong dân gian có nói :
 
Các vị ở cõi trên được giáng thế đầu thai làm con của người trần, những người này được nổi danh, tài ba lỗi lạc, sức khoẻ phi thường, uyên thâm nhiều lĩnh vực. Hoặc có người ngớ ngẩn bỗng nổi lên thông minh. Việc nầy trong đạo Phật phải được loại ra vì mang tính hoang đường mê tín dị đoan. Ai tự xưng như vậy là kẻ mị dân, lừa bịp. Không có đấng trên trời đầu thai hay giáng thế, không thể có và không bao giờ có việc đó. Việc tồn tại của con người là do quy luật tự nhiên ban cho, tuyệt nhiên không có đấng nào can thiệp vào việc sinh tồn của con người và cũng không thể can thiệp được !
 
·        Mỗi con người sinh ra có hai bảo vật :
 
          1. Ðiện cơ nhân : sự sống.
          2. Tâm linh đồ : trí tuệ.
 
Nhưng điện cơ nhân và tâm linh đồ của mỗi người đều ở trạng thái khác nhau. Người cực mạnh, người mạnh vừa, người trung bình, người thì yếu. Vì thế cho nên sự phát triển thể chất và trí tuệ khác nhau như : có người mới sinh ra đã có thể lực cường tráng, có người bình thường bỗng phát triển toàn diện, có người thông minh kiệt xuất trên nhiều lĩnh vực, có người phát triển kém. Tất cả các việc đó không phải do ăn uống mà giúp cho sự phát triển nên hay có một vị thần nào ban cho. Ðó là do bao lớp người cường tráng, thông minh đã qua đời ở mọi lứa tuổi, khi chết thì điện cơ nhân và tâm linh đồ xuất khỏi thể xác và tập hợp lại từng cặp bay lơ lửng trong không gian ở trạng thái vĩnh hằng bất diệt. Lớp lớp người sau sinh ra mà có sự trùng hợp với điện cơ nhân và tâm linh đồ của những người trước thì người sau được cộng hưởng thừa kế : cực mạnh, mạnh, trung bình, yếu mà biểu hiện ra.
 
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-17 19:37:07Tư Tứ>
SỰ HÌNH THÀNH VÀ CẤU TẠO CỦA VŨ TRỤ
 
 
Vũ trụ là cái túi khổng lồ vĩ đại, gọi là túi Càn Khôn. Hiện có hàng triệu Mặt trời, hàng tỷ tỷ hành tinh, thiên thạch lớn nhỏ đều nằm trong cái túi này. Trong túi Vũ trụ luôn luôn biến đổi.
 
Tất cả vật thể trong Vũ trụ không có đấng tối cao siêu nhân nào tạo ra tạo vật, mà mọi vật được tạo ra là do quy luật tất yếu của tự nhiên. Các đấng siêu nhiên chỉ lo chăm sóc, phân bổ, thuần dưỡng để mưu sinh tồn tại và phải chịu quy luật của tự nhiên chi phối.
 
        1. Hình thành Vũ trụ.
        2. Vũ trụ tĩnh.
        3. Vũ trụ động.
 
Theo quy luật phát sinh và biến đổi, từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao cực đại. Sự hình thành Vũ trụ sơ khai là do quy luật tất yếu của tự nhiên không có ý thức, không có một phép mầu vạn năng nào tạo ra vật thể của Vũ trụ.
 
·        Vũ trụ tĩnh : Vật chất trong túi vũ trụ dầy đặc, dồn nén tứ phía ở dạng nằm yên, chuẩn bị có sự biến đổi lớn lao đến tử điểm.
·        Vũ trụ động :
 
Do động lực phản ứng hóa sinh tạo nên một tiếng nổ ban đầu cực đại rồi cứ thế nổ lan  truyền khắp Vũ trụ và lửa cháy bùng lên dữ dội tạo ra gió và khói đến ức vạn năm.
 
Theo quy luật, có khởi đầu thì có kết thúc. Khi tiếng nổ im dần, lửa cũng tắt dần sau ức vạn năm. Các vật cháy nóng kết lại thành cục, thành hòn cực to đến nhỏ có khắp nơi và nguội dần tụ họp lại chia thành 3 khu vực trong Vũ trụ :
 
      1. Khu vật thể.
      2. Khu khí giữ hơi nước.
      3. Khu thạch thủy.
 
Ba khu vực này dần dần ổn định.
 
·        Khu vật thể có sự liên kết lại hình thành các khối cực to, trung, nhỏ cách nhau xa hay gần. Những vật thể có hình tròn thì di chuyển có quy luật. Còn những vật thể có nhiều hình dạng khác, sự chuyển động không theo quy luật nào.
 
Trong khu vật thể có 4 quy luật nghiêm nhặt là :
 
1. Sự kết dính lạnh.
2. Sự kết dính nóng,
3. Sự không kết dính.
4. Sự phân rã,
 
Ở Ðịa cầu thì áp dụng 4 quy luật trên như sau :
 
 1. Sự kết dính lạnh : không chiến tranh
 2. Sự kết dính nóng : có chiến tranh.
 3. Sự không kết dính : Trung lập
 4. Sự phân rã để có sự liên kết mới. Quy luật phân rã chi phối 3 quy luật trên rất nghiêm khắc, cũng như quy luật hợp tan - tan hợp.
 
Không có lòng tin tuyệt đối thì không có bền vững. Trong đạo Phật có Ðức tin tuyệt đối để thắng sự ngờ vực. Không có nghi ngờ thì đạo Phật bền vững.
 
·        Khu thể khí : là khu làm tấm đệm cho vật thể tránh va chạm. Nhờ có khu khí mà các vật thể được an toàn, ít có sự va chạm.
 
·        Khu thủy thạch : Khu nầy tạo ra sự sống cho các vật thể được sinh tồn.
 
Cả ba khu nầy có sự hoà hợp cao độ theo quy luật tất yếu của tự nhiên.
 
Trong khu vật thể có cả triệu khối lửa đang cháy như Mặt trời. Mỗi cái cách nhau xa lắm. Mỗi cái đều phải chịu theo một quy luật riêng : ngược xuôi khác nhau, đó là vẻ đa dạng của khu vật thể. Còn Mặt trời hiện ta thấy, đó là nguồn lực tạo ra sự sống cho nhiều nơi chứ không phải chỉ có Ðịa cầu là độc nhất đâu. Sự bốc cháy của Mặt trời vĩnh hằng là vì : Nếu mặt trời đứng yên một chỗ thì sự bốc cháy đó sẽ tắt đi vì hết nhiên liệu dự trữ. Nhưng Mặt trời lại đi chu du trong Vũ trụ vật thể nên được bổ sung vật liệu cháy liên tục nơi ít nơi nhiều. Vì thế, theo chu kỳ nhất định, khi Mặt trời chu du đến nơi có nguồn nhiên liệu dày đặc thì nó phát nổ cháy bùng lên dữ dội.
 
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
VỀ ÐỊA CẦU HIỆN NAY
  
 
Sau vụ bùng cháy nổ cực đại của Vũ trụ, Vũ trụ vật thể trong đó có Ðịa cầu hình thành. Ðịa cầu lúc đó là một khối lửa, gồm nhiều tảng được kết lại, sau ức vạn vạn năm thì nguội dần, nhưng vẫn còn rất nóng. Ðịa cầu đầu tiên không có biển, sự lồi lõm không lớn lắm. Ðịa cầu lúc đầu có 4 Mặt trăng lớn nhỏ khác nhau. Ðịa cầu đầu tiên không có nước. Rồi bất ngờ một khối thạch thuỷ khổng lồ lao vào Ðịa cầu còn nóng bỏng. Nước đá gặp nóng thì chảy lan tràn tạo ra khói mù mịt. Khói tạo thành mây giữ nước lại tuần hoàn. Nước bao phủ làm cho Ðịa cầu nguội dần. Ở nơi cạn thì thực vật đơn giản hình thành, đó là sự sống phôi nha và có sự phát triển cực nhanh bao phủ Ðịa cầu tới một độ dày khủng khiếp. Rồi trong 4 Mặt trăng, cái lớn nhất lao vào Ðịa cầu tạo nên một cái hố thật lớn và sâu, nay gọi là biển. Sau đó nước chảy vào biển liên tục. Những nơi cao trên Ðịa cầu lộ ra rất rộng, ở những nơi này thực vật bị chết hoàn toàn vì thiếu nước. Sau đó thực vật cấp cao được hình thành, toàn Ðịa cầu cây to dầy đặc được ức vạn năm.  Rồi lần lượt hai Mặt trăng nữa lao vào Ðịa cầu tạo ra 2 cái biển lớn tiếp theo, thế là nước được dồn vào 3 cái biển khổng lồ. Lớp cây to lớn bị chết khô. Lúc nầy đất lộ ra mênh mông. Lớp thực vật sau được hình thành tuần tự sống ung dung. Ðộng vật sơ khai cũng xuất hiện. Khắp nơi có nhiếu loài, đa số là loài ăn cỏ và phát triển rất nhanh. Nước rút xuống 3 cái biển liên tục, nên mặt Ðịa cầu nơi cao bị khô. Cây thiếu nước chết dần. Ðộng vật thiếu thức ăn và nước cũng chết theo. Nước biển bắt đầu mặn dần. Ba Mặt trăng rơi xuống Ðịa cầu tạo ra nhiều vết nứt lớn và dài sau này trở thành những con sông lớn như hiện nay. Những nơi có nhiều đảo ở biển do Mặt trăng tạo nên. Cây phát triển theo bờ sông, lưu vực sông, từ đó lan ra các thung lũng. Ðộng vật cũng phát triển theo.
 
Sau ức vạn vạn năm, Ðịa cầu bình ổn, thực vật phong phú, động vật cũng đa dạng. Ðịa cầu bắt đầu có mưa, nhờ đó động vật thực vật phát triển nhanh hơn. Rồi bỗng nhiên một thiên thạch cỡ lớn rơi xuống giữa cái biển lớn, nên sức tàn phá Ðịa cầu về lục địa không lớn lắm, chỉ làm cho nước mặn tràn lan toàn mặt địa cầu làm huỷ diệt thực vật động vật toàn bộ, vì nước mặn và sức nóng. Do đó Ðịa cầu trở nên hoang sơ ghê rợn. Số thực vật, động vật bị vùi sâu ở nơi thung lũng, dòng sông bị lấp cạn khắp nơi trên Ðịa cầu.
 
Thiên thạch sau khi rơi xuống giữa biển, tan ra tạo nên một số lục địa ở biển như hiện nay là các đảo, bán đảo. Sau đó ức vạn năm, lớp mặt Ðịa cầu nhờ được mưa xua nước mặn về biển, thực vật cao cấp, động vật đa dạng hình thành và phát triển nhanh nhờ điều kiện sống phù hợp do thiên nhiên tạo ra.
 
Con người xuất hiện ở giai đoạn nầy. Con người xuất hiện là do một số người ở hành tinh khác du ngoạn đến đây tạo nên. Nhưng bất hạnh cho số người này là sau khi tạo xong con người ở Ðịa cầu thì họ nhận được tin hành tinh nơi họ ở bị tai hoạ diệt vong. Tin đến họ thì ở đó đã bị diệt vong từ lâu rồi. Thế là họ đành ở lại Ðịa cầu, hoà hợp với số người mà họ tạo nên. Họ chỉ huy xây dựng một khu để ở. Vì lúc đó người chưa đông nên khu xây dựng không lớn lắm. Khu đó đã bị chôn vùi, xác của lớp người này cũng được yên nghỉ tại đó và được số người họ tạo nên xây đền thờ tưởng niệm họ nơi người da đỏ cư ngụ.
 
·        Trước khi tôn giáo xuất hiện thì trên Địa cầu có 6 vị xuất hiện như sau :
 
1.  Ðấng Quang minh vạn năng tối cao điều khiển chung.
2.  Ðấng Kiến tạo vạn năng lo cuộc sống cho muôn loài.
3. Ðấng Hoá công vạn năng lo bảo vệ muôn loài.
4. Ðấng Khai hoá vạn năng lo cho sự hiểu biết của muôn loài.
5. Ðấng Tam tông vạn năng lo tôn giáo cho loài người.
6. Ðấng tồn tại vạn năng lo sự tồn tại, giới tính muôn loài.
 
Sáu đấng nầy chỉ lo cho Ðịa cầu và có công lớn về chăm sóc con người cùng vạn vật của Ðịa cầu.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
VỀ SỰ HÌNH THÀNH TÔN GIÁO
 
 
Riêng Ðịa cầu trong hệ Mặt trời là nơi đẹp nhất, hấp dẫn nhất, quyến rũ nhất, làm cho các hành tinh khác phải ghen tỵ. Ðịa cầu đã 4 lần có con người xuất hiện :
 
- Lần thứ nhất : con người vừa văn minh biết chế tạo và xây cất thì bị diệt vong toàn bộ do thời tiết quá lạnh.
 
- Lần thứ hai : con người đã văn minh hơn lần trước thì cũng bị diệt vong do khí hậu quá nóng.
 
- Lần thứ ba : bước sang văn minh toàn diện như chế tác, đúc kim khí, chinh phục đại dương… cũng bị diệt vong do bịnh tật, chiến tranh, chất độc, nắng hạn làm suy kiệt nguồn sống.
 
- Lần thứ tư : con người hiện nay, do 4 nhóm người ở hành tinh khác đến chinh phục nên tạo ra 4 nhóm người :
 
   1- Màu da đen tượng trưng cho đất.
   2- Màu da trắng tượng trưng cho tuyết
   3- Màu da đỏ tượng trưng cho lửa
     4- Màu da vàng tượng trưng cho ánh sáng.
 
Bốn màu da ở bốn nơi riêng biệt nên tiếng nói khác nhau, cuộc sống khác nhau, mỗi nơi có một tôn giáo riêng, do trí tuệ không đồng đều và sống biệt lập trong thời gian dài. Cuộc sống của người lúc sơ khai trí tuệ thấp kém, cuộc sống gần hoang dã nên rất sợ các hiện tượng thiên nhiên gây nên làm ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh mạng như : giông bão, sấm sét, lũ lụt, động đất… Nên họ tin rằng có những vị thần linh điều khiển các hiện tượng đó và chắc là có vị thần linh khác cao tài hơn, sẽ chế ngự được các hiện tượng trên. Từ đó thấy cần phải cầu khấn, cúng tế vị thần tài cao đó và họ cũng đặt tên cho vị thần đó luôn.
 
Tôn giáo sơ khai lúc này : Tìm sự tin tưởng để chống sự lo sợ. Thế là tất cả họ đều tôn vinh vị thần cao siêu mà họ tưởng tượng ra và thờ cúng rất là nghiêm trang, để cầu mong được phù hộ che chở. Vật tế thần có nơi không dùng loài vật mà dùng con trai con gái còn nhỏ để tế rất là tội lỗi. Tôn giáo nầy được gọi là tôn giáo Ðức tin chống lại sự sợ hãi. Cũng từ đó tiến lên thành tôn giáo đẳng cấp. Các đền thờ được xây dựng nguy nga, tượng thờ được sơn son thiếp vàng và đặt ra mọi hình thức tế lễ rất là cầu kỳ khó hiểu. Rồi còn đặt ra kinh, lời nguyện, tang lễ, hôn lễ, coi ngày coi tuổi, xem vận hạn, cầu may, cầu tài, cầu lộc... làm nhiều việc mê tín dị đoan khác.
 
Tôn giáo đẳng cấp xem thường và khinh rẻ thứ dân bần hàn mặc dù hàng thứ dân này làm ra mọi thứ nuôi sống họ và hoa quả cúng tế hàng ngày cho thần linh mà họ thờ. Cũng là tôn giáo lại đố kỵ, chia rẽ kẻ chánh, kẻ tà cấm kỵ nhau. Mọi hình thức nầy đều do người đứng đầu tôn giáo chủ quản tạo ra cả. Vì thế ta quyết định thành lập một tôn giáo chân chính để đem lại niềm tin cho đại đa số người bần hàn đang bơ vơ và bị khinh rẻ. Số người nầy thật đáng thương.
 
Muốn thu phục lòng tin và nhân tâm mọi tầng lớp trong quốc gia, ta suy nghĩ kỹ, chọn người giáo chủ hiện tại phải có quyền thế tột đỉnh, giầu sang nhất mà dám từ bỏ mọi thứ danh lợi đó để hành đạo. Người đó tiêu biểu là người xả thân vì từ bi bác ái vì người bần hàn ; góp công xây dựng nền đạo đức cho xã hội mới. Cho nên ta chọn Thái tử sắp được truyền ngôi để hành đạo thực hiện Chân-Thiện-Mỹ sẽ được mọi người kính nể, lớp quyền quý kính phục. Trong người Thái tử cũng có hai bảo bối :
 
- Ðiện cơ nhân : bảo toàn sự sống.
- Tâm linh đồ : nguồn tư duy trí tuệ.
 
Nhưng bảo bối của ta cũng vậy, mà có nội dung siêu đẳng hơn ở chỗ :
 
- Có sự sống để làm gì ?
- Có tư duy trí tuệ siêu đẳng để làm gì ?
 
Tâm linh đồ sinh ra trí tuệ siêu đẳng để góp phần với mọi người tạo nên nền đạo đức mới : thương yêu nhau, xoá bỏ mọi hận thù, không tư thù cá nhân vì tư thù cá nhân dễ biến thành ra thù cả họ hàng làng nước. Từ bi hỷ xả - từ bi cứu độ - xả thân vì mọi người - không vụ lợi. Ðiện cơ nhân : Bảo toàn sự sống. Sự sống phải có ích cho mọi người, sống để làm việc thiện, sống không tà tâm.
 
Về cứu nhân độ thế : Phật không có phép màu nào để cứu người hay giúp người đến cầu khẩn mọi điều mong ước: giàu có, tai qua nạn khỏi, công danh vững bền, con cháu thành đạt, hiển vinh. Người trần thế bị các bệnh tật thì cũng do người trần thế tìm phương cứu chữa. Phật không cứu chữa các loại bệnh tật được. Người trần thế muốn làm giầu thì nên làm giàu chân chính bằng tài sức của mình còn muốn tai qua nạn khỏi thì đừng làm điều ác, lừa gạt, gian dối, tham lam, ích kỷ thì tránh được tai họa vậy.
 
    Nguyên lý của đạo Phật :
 
  - Dạy mọi người làm điều thiện tránh điều ác.
  - Cải tà quy chính, tu nhất kiếp ngộ nhất thời.
  - Loại bỏ các thuyết hoang đường, mê tín dị đoan.
  - Không có việc luân hồi nhiều kiếp.
   - Không có Diêm vương xử đối với người trần thế làm ác. Người làm ác nhất là các hung thần gây chiến tranh xâm lược.
   
Tôn giáo đối với quốc gia :
   
Tôn giáo không đứng ngoài quốc gia. Tôn giáo cũng là con dân của quốc gia, vì quốc gia bảo vệ tôn giáo nên tôn giáo phải trung thành với quốc gia, phải làm tròn nhiệm vụ công dân với quốc gia.
Tôn giáo không làm chánh trị, mà tôn giáo cùng quốc gia xây nền đạo đức hướng thiện, bác ái, công bằng. Ðức tin : Chân - Thiện - Mỹ góp phần cho cuộc sống thanh bình. Mỗi tín đồ tôn giáo có hai trách nhiệm :
 
Ø Tôn trọng và chấp hành nghiêm minh luật pháp quốc gia ban ra vì lợi ích quốc gia.
Ø Tôn trọng các điều nguyện, điều răn của đạo ban hành một cách tự nguyện thành tâm và nghiêm minh.
Ø Ðời có trước, đạo có sau nên đời đạo phải yêu thương nhau như tình cốt nhục. Ðạo phải làm gương và phải tôn trọng mọi thuần phong mỹ tục của tổ tiên truyền lại.
 
Phần ta thuyết pháp về đạo cho ngươi nghe, ngươi nhớ mà ứng dụng khi hành đạo, không làm sai.
 
Thiện cũng có tiếng thơm lưu truyền cho mai sau, được đời kính trọng.
 
Ác cũng có tiếng xấu lưu truyền là lời nguyền rủa, bị đời oán trách.
 
Khi chết con người chỉ mang theo Thiện và Ác.
 
Vậy nhà ngươi nhớ khi hành đạo.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
TIÊN ÐOÁN SỐ PHẬN CỦA PHẬT SỐNG
 
 
Còn riêng phần số phận của ngươi như sau :
 
Nhờ ngươi thành tâm đi Tây Phương nên ngươi đến nơi tảng đá có mũi tên khắc 3 chữ "Ðổi tâm linh". Ðây là nét bút tích Thích Ca. Ai tìm được tảng đá nầy thì đó là người đắc đạo. Vì một tảng đá nhỏ giữa núi rừng trùng điệp, người có căn tu luyện mới gặp được. Ngươi đã được thụ phong Phật sống tại chùa Tây Phương và ta đã đóng dấu ấn 12 nốt trên đầu và một dấu ấn vuông trong tâm có chữ Vạn. Dấu ấn 12 nốt trên đầu về phía trước mỏ ác có nghĩa là ta đã nạp điện cơ nhân và tâm linh đồ cho nhà ngươi rồi đấy. Kể từ nay ngươi là người môn phái của ta, bất luận ngươi ở đâu cũng do ta điều khiển.
 
Qua gần 6 năm thành tâm đi Tây Phương tìm đến Phật để thụ giáo, về sự gian khổ, nguy nan nhờ lòng thành kính nhất tâm nên ngươi vượt qua được mà đi đến đắc quả như hôm nay. Tin ngươi đắc quả đã được báo về nơi ngươi xuất phát rồi. Tin đã đến nơi, mọi người đang chờ chào đón tôn vinh khi ngươi về. Khi về ngươi cũng còn gặp gian nan nguy hiểm, nhưng đó là sự thử thách nên ngươi đừng sợ vì có 4 kỷ vật mà chùa Tây Phương đã ban cho ngươi, khi bị hành hung mà họ nhìn thấy 4 kỷ vật đó là họ trở lại bảo vệ an toàn cho ngươi trên đường về.
 
Khi đi gần 6 năm, khi về độ 2 năm vì ngươi ít ghé lại các chùa và nhờ sự đưa đón của các chùa, chỉ đường cho ngươi đi nhanh, đức tin giúp cho ngươi có sức mạnh.
 
Về đến nước Ấn Ðộ, hai năm sau đó chánh quyền Anh đưa ngươi về Anh quốc vì sợ uy tín của ngươi động viên dân Ấn đòi độc lập. Sang Anh quốc, ngươi được bảo vệ chu đáo, ăn ở sang trọng nhưng bị biệt lập. Ở Anh quốc 2 năm, ngươi nhờ chính phủ Ấn can thiệp cho ngươi về một vương quốc có biên giới liền với nước ngươi được sinh ra. Ở vương quốc này, ngươi được vị vua cất cung điện cho ngươi ở và được tôn vinh vì sự thành chánh quả của ngươi là đức Phật sống. Lục vua của nước nầy cũng được các chùa ở Ấn báo tin sự đắc quả của ngươi thành Phật sống. Các chùa nầy cũng mong nhà ngươi đến thuyết pháp. Các chùa đã báo tin cho các chùa lớn trong toàn quốc.
 
Ngươi ở lại vương quốc nầy cho đến khi nước Việt Nam có chính biến đòi độc lập với Pháp, ngươi phải trở về nước tham gia vào việc chống ngoại xâm. Sau đó ngươi được gặp lại người vợ ở Ấn. Tiếp đó ngươi được cử qua một nước ở châu Âu để học quân sự hơn một năm. Tại nơi học, tâm linh của ngươi được báo là nước nầy sẽ có chính biến lớn thay đổi cả màu cờ, cả khối tan rã. Ngươi đem việc nầy ra nói lại với người cùng học. Sau đó ngươi  được cho về nước với lý do học kém vì sợ ảnh hưởng đến ngoại giao hai nước.
 
Về nước, đến khi nước nhà toàn thắng, ngươi được về quê quán trở lại đời thường và tịch diệt ở nơi hẻo lánh. Sau khi ngươi tịch diệt, ta thu lại : điện cơ nhân và tâm linh đồ. Ta không cho hai bảo vật ấy xuất ra bay trong không gian. Ðiện cơ nhân và tâm linh đồ của ta có khác với mọi người là :
 
   - Không tham danh trục lợi,
   -Xoá bỏ mọi hận thù, không ích kỷ.
   -Bình đẳng, bác ái, công bằng với tất cả.
   -Làm mọi điều thiện, tránh mọi điều ác.
   - Góp phần xây nền đạo đức tiến tới Chân - Thiện - Mỹ cho quốc gia để người dân dần dần thoát khỏi cảnh trầm luân bể khổ trong ngục tù.
 
Duyên nợ của ngươi với Phật chỉ có thế. Vì lòng thành kính của ngươi khi đi Tây Phương được Thích Ca thu nhận đắc quả thành Phật sống. Nhà ngươi là người thứ ba sau khi Thích Ca tịch diệt được công nhận là Phật sống. Khi ngươi tịch diệt thì thể xác không còn nhưng danh hiệu Phật sống tại chùa Tây Phương được lưu giữ và cả nước Ấn ai cũng tôn kính ngươi.
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
TIÊN ÐOÁN VỀ THẾ SỰ
 
 
Bây giờ ta nói tiên đoán thế sự cho ngươi biết trước :
 
Cả địa cầu đã có hai lần khủng hoảng :
 
   - Khủng hoảng thiếu.
   - Khủng hoảng thừa.
 
Lần thứ ba nầy là khủng hoảng về tiền, tiếp đó lâm vào cảnh khủng hoảng bão hòa. Cuộc khủng hoảng nầy đưa cả Ðịa cầu vào cảnh náo loạn vì sự sống còn của mỗi quốc gia. Trật tự thế giới đang thay đổi đáng kinh ngạc.
 
Khi một vài nước bước vào nền văn minh công nghiệp sẽ có mâu thuẫn mới là : tranh giành làm bá chủ để chiếm hết nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho nền văn minh công nghiệp đó. Vì thế nước mạnh đi xâm lược nước yếu là lẽ tất nhiên mà xâm lược theo kiểu thời Trung cổ mới đáng sợ.
 
Một nước mạnh nào đó sẽ tạo ra khổ nhục kế để tạo lòng căm thù trong nước cao độ, bên ngoài lôi kéo đồng minh vào trả thù cho khổ nhục kế để cùng đi xâm lược không tuyên bố. Nếu nước nào không ủng hộ trả thù khổ nhục kế thì khó ở yên.
 
Khi khổ nhục kế bị bại lộ thì mất lòng tin của dân trong nước, bên ngoài thì đồng minh hiểu rõ là bị lừa lâu nay, tất cả trở cờ chống lại nước tạo ra khổ nhục kế. Từ chủ chiến có đồng minh đông, dân trong nước ủng hộ cao trở lại thế cô lập chờ chết. Vì tiền cạn, tiềm lực quân sự tê liệt, nền kinh tế ảm đạm cùng cực. Nhân mạng bị hao 5.724.000 người. Nước chủ chiến nay thành nước chủ hàng, mộng làm bá chủ nay tan mộng thành bá bại.
 
Nước chủ chiến sau trận đại bại nầy, các tướng chuyên đi xâm lược và các nhà khoa học phản nhân loại chắc là không có đất để dung thân. Các chính khách của nước chủ chiến tạo ra khổ nhục kế chỉ học mọi cách phá hoại và xâm lược, chưa có ông nào học sử đã qua số phận của kẻ thiện chiến xâm lược như : Thành Cát Tư Hãn, Napoléon… kết cục thế nào. Nước nào muốn tồn tại vinh quang nên phải biết cách ăn ở với các nước khác.
 
·        Ðộ 4800 năm nữa, ngày Chúa giáng sinh không có trăng.
  
Trong Hệ Mặt trời hiện nay chỉ còn Ðịa cầu là còn sự sống, đã bước vào văn minh công nghiệp cũng sắp đến điểm tàn. Còn các hành tinh trước kia đều có sự sống đến văn minh cực điểm, sau đó bị hủy diệt hoàn toàn. Khi phát triển nền văn minh công nghiệp thì kèm theo nhiều căn bệnh lạ xảy ra, do nền hóa sinh phát triển cao mà sự bảo hộ không có.
 
·        Tam Tông kết luận :
 
   - Có con người là có tất cả.
   - Không có con người là không có gì cả.
 
Thiên nhiên tính ôn hoà nhưng con người đang làm thái quá, phá quy luật ôn hoà thì sẽ bị thiên nhiên trừng phạt bằng hai hình thức :
 
-         Nóng đến cực điểm.
-         Lạnh đến cực điểm.
 
Sự sống trên Ðịa cầu sẽ bị diệt vong hoàn toàn. Bài thuyết pháp của ta là căn bản ngươi ứng dụng khi hành đạo.
 
Ta đi đây !
Ngươi mau trở về nơi xuất phát.
 
Nói đến đây ông Ba Danh bỗng mở mắt ra và hỏi tôi :
 
- Chú có ghi lại đầy đủ không ?
 
Tôi thưa : Dạ có !
 
Tôi ngước nhìn đồng hồ trên bàn thờ là 13g00. Thế là từ 8 giờ ông Ba Danh nói một mạch đến 13 giờ.
 
Sau đó ông đổi tư thế ngồi rồi chậm rãi nói :  Sau khi tôi đắc đạo, tôi ở lại chùa Tây Phương 3 tháng để học thêm kinh và được nghe bài thuyết pháp nầy. Tôi giữ kín mấy chục năm. Tâm linh tôi bảo phải truyền lại cho chú. Nay tôi đã theo mệnh lệnh tâm linh truyền lại cho chú. Chú hãy giữ kín. Khi nào tôi tịch diệt chú mới được phổ biến. Còn chú khi về hưu nên ra hướng Ðông mà cư ngụ. Ở đó chú sẽ cảm nhận được và chú sẽ gặp lại người chú mến mộ.
                                                                                          
Ðường Lâm Quang Ky Rạch Giá.
Tháng 6 năm 1987
 
 
Tôi về viết lại, có đọc cho ông Phật sống nghe 2 lần và được ông xác nhận là đúng.
 
Sau buổi tiếp kiến đó, cứ một tuần tôi đều đến thăm ông tại nhà. Lần thứ hai tôi được nghe thêm :
 
Danh xưng trong đạo Phật có 6 bậc :
 
1.     Ðấng là mình không thấy được.
2.     Ðức là mình thấy được.
3.     Tỳ kheo : cận vệ phật tử.
4.     Pháp : người giảng đạo.
5.     Tăng lữ và ni cô là người mới thọ giáo.
6.     Tiểu : người học đạo.
 
Ngày 01.7.1987
 
Lần thứ 4 đến thăm, ông kể 9 việc khi ông hành đạo ở Ấn Ðộ, Tích Lan, Tây Tạng, Nê Pan, Miến Ðiện, Lào, Thái Lan, Khơ Me, Trung Quốc, nghe "có phần ly kỳ"
 
Ngày 15.7.1987.
 
 
Câu chuyện ngày 18.7.1987 :
 
Như anh nói với chú, lúc Thích Ca đắc quả có dẫn theo 30 000 tín đồ xây dựng chùa Tây Phương tại một vùng rừng núi đại ngàn ở Ấn Ðộ. Sau khi làm xong chùa Tây Phương, Thích Ca có quy định một vùng đất Phật. Chùa Tây Phương nằm trong vùng đất nầy. Ranh giới chia đất Phật và đất trần gian có chứng tích của Thích Ca khắc vào vách đá tạo một vùng rừng núi đại ngàn hiểm trở, tại đó ghi như sau : Trên đá có khắc một mũi tên chỉ hướng chùa Tây Phương, dười mũi tên có 3 chữ “Ðổi tâm linh”, tạm hiểu có nghĩa là, ai đi qua khỏi mũi tên là đất Phật thì tâm linh người đó được biến đổi. Tâm linh đã biến đổi thì mới đến chùa Tây Phương được. Ai đến chùa Tây Phương được thì sẽ đắc quả !
 
Vị sư trụ trì chùa Tây Phương thọ trên trăm tuổi khẳng định : quyển chứng tích của Thích Ca có ghi chứng tích Ðất Phật, Ðất trần. Nhưng chứng tích đó ở tại đâu ta cũng không biết ! Ðã có rất nhiều người nhiều lần đi tìm mà không gặp. Có lẽ chứng tích đó để cho người trần thế thành tâm đi tu Phật, ai mà tìm được chứng tích đó mới đến được chùa Tây Phương để trở thành chánh quả. Từ Thích Ca tịch diệt đến nay mới có hai người tìm được chứng tích đến chùa Tây Phương được phong Phật sống, người thứ ba là ngươi đó. Còn quyển chứng tích của Thích Ca đã thất truyền từ lâu, lý do : Có một vị sư chân tu uyên thâm, minh triết, sống cách nay hơn 500 năm. Khi vị sư nầy xem quyển chứng tích của Thích Ca thấy có ghi : Ai mà trở thành Phật sống đến tuổi 49 - 59 - 69 - 79 - 89 - 99 - 109, phải tự thiêu, tro cốt được  đem về nơi chùa phát nguyện lưu giữ... Vị sư khẳng định : Câu nói Phật truyền đó không phải của Thích Ca mà là của những ai ganh tỵ với người thành tâm đi tu đắc quả. Câu đó làm mất đi sự nhân từ, bác ái, bao dung của Thích Ca. Từ đó quyển chứng tích thất truyền. Ðến nay các nhà sư chỉ còn nhớ có chứng tích khắc trên đá chia ranh giới đất Phật. Nhưng mới chỉ có 3 người tìm thấy chứng tích đó.
 
Việc đi tu Phật không rõ ai quy định ở trang kinh sách nào mà có lệ từ 6 đến 12 năm thì có đợt tuyển người đi Tây Phương tu Phật, số lượng từ 3 đến 6 người, tùy năm. Ði Tây Phương tu Phật đã bao lần đi mà không thấy ai về. Những người không về họ ở đâu thì không ai biết. Chùa chỉ lo tuyển đi chứ đâu có lo chuyện về hay không vì đi tu là tự nguyện với lòng thành của mỗi người.
 
Phương tiện giao thông liên lạc lúc đó quá ư lạc hậu. Việc đi tu Phật ra đi không hề có bản đồ, địa bàn, cũng không ai rõ chùa Tây Phương ở đâu ! Sau cuộc tiễn đưa, người đi tu Phật cứ thành tâm, tin tưởng, chấp nhận mọi nguy hiểm, gian khổ mà đi xuyên qua rừng núi hoang vu, vượt suối leo đồi với lòng thành và sự tin tuởng. Cuộc sống ăn lá, ăn trái cây rừng, còn uống thì uống nước mưa, nước suối và sương đọng trên lá. Còn đau ốm thì dùng lá cây, rễ cây rừng mà nhai nuốt chứ đâu có phương tiện nấu. Thú dữ và rắn độc thì quá nhiều. Còn ngủ, lúc đầu leo lên cây cao, sau không cần leo cao, có hang thì ngủ trong hang núi, khi thì sườn núi, khe núi, thạch bàn, lấy lá cây, cỏ tươi, khô làm chiếu, gối. Những lúc mưa tầm tã cả tuần thì ngồi thu lu trong hang, khe núi hay dưới gốc cây cổ thụ mà đọc kinh cầu nguyện. Rất may là rừng Ấn Ðộ không có lầy, đất pha sỏi cát nên khô ráo và cứng.
 
Lòng cứ tâm niệm, cứ thành tâm tin tưởng mà đi. Đi cả ngày cả đêm trong núi rừng hoang vắng không có dấu chân người.
 
·        Sự bất ngờ đem đến đắc quả
 
Anh tìm thấy chứng tích của Thích Ca quả là việc ngẫu nhiên, bất ngờ. Khi khởi hành, các vị sư đâu có nói đến chứng tích mà chỉ dặn thành tâm, tin tưởng thôi mà cũng chẳng nói chùa Tây Phương ở nơi nào !
 
Trong rừng trái cây, lá cây ăn được không phải nơi nào cũng có. Có khi gặp rất nhiều trái cây hay lá cây ăn được, có nơi rất hiếm. Nước uống cũng nơi có nơi không nên phải dự trữ nhiều ngày, cho dù phải mang nặng.
 
Trước ngày gặp chứng tích, anh tới khu rừng có nhiều trái cây ăn được và ngon nên anh hái trái dự trữ. Anh nghỉ dưới gốc cây đại thụ, đọc kinh cầu nguyện tới gần sáng. Rồi ở tư thế ngồi thiền, anh ngủ luôn cho tới sáng. Sáng ra anh lạy 4 hướng, tụng kinh cầu nguyện xong chuẩn bị lên đường. Lúc đó anh thấy trong người phấn chấn lạ thường, thể lực như được tăng lên. Anh bước những bước dài và nhanh trên đất khô ráo. Anh nhắm hướng rặng núi cao mà đi tới. Khi còn cách núi một quãng ngắn thì bỗng nhiên tay chân bủn rủn, người mệt lả. Anh cố lê bước đến chân núi tìm chỗ bằng phẳng ngồi, thì trời đã về chiều, độ khoảng 4 giờ. Anh ngồi thiền đọc kinh độ 10 phút. Bỗng nhiên lá khô bay xoay quanh người anh như cơn gió trốt ở quê ta. Anh vẫn ngồi thiền tụng niệm. Khi gió yên, anh nhìn về phía trước cách độ 5 mét, lá khô bay đi gần hết, để lộ ra phiến đá lớn bằng phẳng, nằm nghiêng, có một rãnh sâu. Thấy lạ, anh ngừng tụng kinh và bước đến. Ðến gần phiến đá bỗng anh thấy trong người khoẻ ra và mắt sáng lạ thường, tâm linh tỉnh táo, người phấn chấn hân hoan, cảm như có ai mời ngồi. Anh ngồi xuống, lấy tay phủi hết lá khô còn vương trên đá. Anh nhìn thấy ai đục một mũi tên dài độ 2 m, sâu 2 cm, rộng 10 cm. Dưới mũi tên có 3 chữ “Ðổi tâm linh” bằng chữ Phạn. Mừng quá, anh liền quỳ lạy 4 hướng rồi tụng kinh cho đến tận nửa đêm. Anh vẫn ngồi thiền và suy nghĩ : Chắc là mũi tên nầy chỉ hướng chùa Tây Phương. Qua mũi tên là đất Phật. Gặp chứng tích nầy là đến chùa Tây Phương được. Cảm thấy như có ai dẫn đường, anh quỳ lạy 4 hướng rồi ngồi thiền tụng kinh cho đến sáng. Sáng ra anh mở túi lấy quả rừng, lá rừng ra ăn, rồi uống nước suối, lấy nước đọng trên lá cây rửa mặt. Xong rồi ngồi thiền tụng kinh chờ mặt trời lên. Anh nhìn mặt trời cùng mũi tên chỉ hướng rồi định ra đường đi. Bước được khoảng 20 bước, anh quay lại nhìn coi xem có đi đúng hướng không ? Rồi theo hướng đã xác định đó, anh đi tiếp. Ði được hơn 2 ngày đêm thì vào buổi chiều bên tai anh vẳng có tiếng chuông từ rất xa. Anh lần theo tiếng chuông bước tiếp. Tới chiều thì anh đến được ngôi chùa, nhìn lên bảng chữ Phạn ở cổng, anh mừng hết biết vì đó chính là chùa Tây Phương.
 
 
 
Đêm cuối cùng ở đất Phật, được nghe đấng Tam Tông thuyết pháp
 
Đi tu Phật là học theo gương của Thích Ca. Thích Ca đi tu có đấng Tam Tông bảo trợ, nên Ngài dứt khoát từ bỏ quyền quý cao sang, vợ đẹp con ngoan, cung tần mỹ nữ… để đi tìm chân lý cứu người bần hàn thoát khỏi cảnh trầm luân bể khổ. Ngài đã quyết tâm dấn thân vào gian lao khổ ải, lòng tin không lay chuyển nên Ngài đắc quả.
 
Ngày nay ta đi tu Phật thì có đức Thích Ca là gương sáng cho ta noi theo. Tên Ngài lan tỏa và ăn sâu vào tâm trí của mọi người có đạo hay không có đạo, đều được tôn kính chân thành. Nếu ta có quyết tâm cao theo gương của Thích Ca thì ta cũng được đắc quả, vì ta làm theo thuyết pháp của Thích Ca.
 
Sau khi anh đắc quả được thọ phong Phật sống, anh ở lại chùa Tây Phương hơn 3 tháng để ôn lại kinh và học những lời răn của Phật và học ngữ Phật, từ Phật để giao dịch với các nhà sư mọi chùa cùng chính khách khi gặp gỡ.
 
Ngày anh từ giã chùa Tây Phương, các vị sư tiễn đưa độ 100 m rồi dừng lại đọc kinh chúc phước. Chia tay các vị sư, anh quyết định đi tìm lại nơi có mũi tên chứng tích để giã từ đất Phật, Anh đi liên tục ngày đêm với tâm niệm phải tìm lại được chứng tích. Quả nhiên, đến chiều ngày thứ hai thì anh gặp được, dường như có người dẫn đường cho anh tới. Đến nơi, anh quỳ xuống lạy bốn hướng xong rồi ngồi thiền tụng kinh để giã từ đất Phật. Anh ngồi thiền đến nửa đêm với tâm niệm cầu mong được nghe đấng Tam Tông thuyết pháp. Bỗng anh cảm thấy như có luồng gió nhẹ thổi vào mặt rồi như có luồng ánh sáng trắng bao phủ xung quanh. Anh vẫn ngồi bất động. Bên tai nghe rõ có tiếng nói :
 
- Ngươi từ giã chùa Tây Phương để về nơi xuất phát. Chỉ còn đêm nay là ngươi từ giã đất Phật tại nơi chứng tích của Thích Ca. Ngươi làm điều nầy là đúng lễ của người chân tu có lòng thành kính cao cả. Ta là đấng Tam Tông đây. Ta đưa ngươi đến chứng tích để người từ biệt vì ngươi không trở lại đây lần thứ hai. Vì ngươi có lòng thành kính, ta phải bảo vệ ngươi cho đến lúc tịch diệt bằng điện cơ nhân và tâm linh đồ.
 
Sáng mai ngươi tự đi về, ta sẽ gặp lại ngươi nơi biên giới Ấn -Trung, tại cây đại thụ sát chân núi, ta đón ngươi tại đó. Từ đó, người đi hơn hai ngày đường nữa, ngươi sẽ gặp con đường mòn quanh co để ra đến lộ. Con lộ nầy có bảng chỉ đường bằng tiếng Phạn. Trên đường đi ngươi sẽ còn gặp 3 lần nguy hiểm, sau đó thì an toàn vô sự.
Nay ngươi có hỏi ta việc gì không ?
 
- Được đấng Tam Tông cho phép, pháp tăng Phật tử xin hỏi :
-         Từ đây đến 30 năm nữa thế giới có gì mới? Còn Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Cao Ly, Nhật Bản thế nào ?
 
Ngươi nghe ta nói đây :
 
- Độ 10 năm nữa có cuộc chiến tranh Á-Âu lớn lắm. Sau cuộc chiến nầy có nhiều nước Á- Âu thoát khỏi cảnh sống nô lệ. Thế giới lập lại nền trật tự mới. Thế lực các nước giằng co nhau. Nước gây chiến tranh bại trận đầu hàng. Sau chiến tranh, Ấn Độ được độc lập nhưng không còn nguyên vẹn : Đông Hồi, Tây Hồi, Nepal, 3 nước nầy không còn là tiểu vương quốc của Ấn Độ nữa. Còn Kashmir cũng bị chia làm 3 : Ấn Độ một phần, Trung Quốc một phần và Tây Hồi một phần. Cuộc tranh giành tại đó giữa Ấn Độ và Trung Quốc khó tránh khỏi nổ ra chiến tranh. Nhưng sau chiến tranh là hoà bình lâu dài. Còn Ấn Độ với Tây Hồi thì có sự tranh chấp rất lâu dài vì không ai nhường cho ai, người dân chịu nhiều đau khổ. Phải chờ đến Tổng thống Tây Hồi là người sinh ra tại Ấn Độ, còn Thủ tướng Ấn Độ sinh ra tại Tây Hồi, như tiền định. Vì nhớ cội nguồn nên sự thù hằn, tranh chấp được giải quyết ôn hoà đi đến hòa bình lâu dài. Vì nghĩa cũ tình xưa nơi cất tiếng khóc chào đời, nhớ lại dòng sữa ban đầu rồi cơm ăn nước uống mà việc giải quyết có lý có tình êm đẹp hơn.
 
Sau chiến tranh, Việt Nam độc lập nhưng còn phải trải quan hai cuộc chiến tranh chống xâm lược xong rồi mới hoàn toàn độc lập thống nhứt, được thế giới kính nể.
 
Trung Quốc độc lập sau Ấn Độ nhưng không trọn vẹn lãnh thổ. Chế độ quân chủ bị xóa hoàn toàn. Chế độ mới vì người nghèo được thành lập. Còn Cao Miên. Ai Lao nhờ cùng Việt Nam đứng lên chống ngoại xâm nên Việt Nam được độc lập thì hai nước nầy cũng được độc lập. Riêng nước Cao Miên phải gặp một đại hoạ. Sau đại hoạ thì được an cư. Nước Cao Ly độc lập chia hai thành Nam, Bắc là do cường quốc chiến thắng muốn "chia sức mạnh". Nhật đầu hàng vô điều kiện nhưng vẫn còn vua. Vua lỗi thời, trước sau cũng bị phế truất. Ngươi hãy nhớ lời ta dặn, ta đi đây !
 
Anh đã truyền lại bài thuyết pháp của đấng Tam Tông cho chú nghe đó.
 
-         Thưa anh Ba, Em xin phép anh Ba được hỏi anh một việc, nếu anh Ba cho phép.
 
- Được, chú cứ hỏi, mà có phải việc của đời tôi không ?
 
- Đúng, em hỏi như thế. Tôi trả lời. Xin anh Ba cho biết nguyên nhân hay động cơ nào mà anh đang sống yên vui lại bỏ đi tu Phật?
 
- Cái nầy có nhiều người hỏi anh. Ngay cấp trên cũng đôi lần hỏi anh câu đó nhưng anh chỉ trả lời qua loa cho xong chuyện là “buồn vì việc gia đình!" Nhưng với chú, anh sẽ nói sự thật. Như anh đã tâm sự với chú lần trước, anh sinh ra và lớn lên đều trên sông nước, rày đây mai đó nên đã tạo cho anh có dòng máu lãng tử, thích phiêu lưu mạo hiểm, ham hiểu biết những điều mới lạ, thích hiếu kỳ, ưa nghe chuyện thần thoại. Bản chất anh có phần ngang tàng, tính tình cứng cỏi. Anh đã thuộc nằm lòng câu Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng ! Thấy người bị hiếp đáp không thể bỏ qua. Nhưng được cái bản chất anh trung thực, thương người, vui vẻ, dễ hoà hợp với mọi người, không so bì ganh tỵ, biết nhường nhịn đúng nơi đúng chỗ, trầm tĩnh và quyết đoán. Con người anh là như thế. Khi lên Cao Miên thì nảy nở cái mới là thích làm những việc mà rất ít người làm được. Anh có một cơ thể tráng kiện nên thích mạo hiểm là lẽ đương nhiên. Anh cũng lại có khí phách quân tử Tàu được thể hiện qua việc đánh bọn cướp đất thuê cho điền chủ tại quê anh. Anh có tham gia vụ nầy nhưng không đánh chết người mà người khác đánh. Nhưng anh nhận là chính anh đánh chết người.
 
Anh đã có vợ và có con, sau vụ nầy anh phải trốn lên xứ Long Xuyên, ở đây có một gia đình cưu mang anh. Được mấy tháng rồi anh có một người vợ tại đây. Vì trốn ở đây không thể lâu được nên anh bàn với gia đình phải lên Campốt mới an toàn. Thế là anh lên Campốt vừa trốn vừa kiếm sống. Ở Campốt anh xin làm phu khuân vác nhưng công việc quá ít, thu nhập không đủ xài. Anh nghe nhiều người nói ở Batđomboong có bến tàu lớn, có nhiều việc làm. Anh liền đi tới đó. Chuyến đi này gọi là chuyến đi định mệnh.
 
Anh đến làm được vài tháng, cuộc sống được ổn định, việc làm nhiều, thu nhập khá. Rồi một hôm có một người Ấn Độ đến gặp anh, ông bảo anh đi làm việc với ông, làm thông ngôn tiếng Việt để giao dịch với sở kiểm lâm. Ông đang khai thác rừng mà kiểm lâm phần đông là người Việt. Anh nhận lời và đi theo ông về Nam Vang. Chuyến đi nầy là chuyến đi định mệnh thứ hai. Đang từ một phu khuân vác trở thành người thông ngôn tiếng Việt, được ở một mình một phòng trong một vi la rộng lớn. Sau đó ông giới thiệu anh với gia đình. Gia đình ông có 3 người, gồm hai ông bà và cô con gái đã lớn. Ông có hai cửa hàng vải tại chợ Nam Vang, tại đó có 20 người làm, còn tại nhà có hai người giúp việc. Ngày thứ tư ông phân công cụ thể cho anh rồi đưa anh vào rừng. Tại đây ông giới thiệu anh với trạm kiểm lâm và công nhân khai thác rừng. Trong rừng ông có căn nhà gồm 3 phòng, một phòng khách và hai phòng ngủ. Một phòng cho ông, một phòng cho khách. Ông mua cho anh chiếc xe đạp để tiện việc đi lại giao dịch. Ông trả lương cho anh hơn công nhân một bậc.
 
Có lần ông chủ lên trước ngày phát lương. Xe đến tận nhà, ông xách va ly lên mở phòng, cất va ly rồi ông trở ra phòng khách, hỏi anh một số công việc. Anh trả lời xong, ông bảo anh đi cùng ông đến đội vận chuyển. Ông hỏi người đội trưởng vế tiến độ công việc, được trả lời là làm đúng kế hoạch được giao. Bỗng dưng ông đứng thừ người một lúc rồi chào mọi người, bước nhanh về xe. Ông mở cửa bước lên xe, vẫy tay chào anh rồi phóng nhanh đi. Thấy thái độ vội vã của ông chủ, anh nghĩ ở nhà có việc gì mà ông quên dặn lại. Anh trở lại nhà sàn, lên phòng khách, nhìn qua phòng ông thấy cửa chưa đóng. Anh đi tới nhìn vô phòng thì thấy chiếc va ly còn đó, chìa khoá còn ở trong ổ khoá. Anh bước tới chiếc va ly, tò mò mở ra xem thì thấy trong va ly đầy bạc Đông Dương, có nhiều xếp bạc giá 100 đồng còn mới nguyên. Anh đem va ly bỏ sang phòng anh, lấy mền tủ lại rồi đóng cửa phòng ông chủ cẩn thận. Sau đó anh ra phòng khách ngồi suy nghĩ : nên xử lý như thế nào ? Trả lại hay lấy rồi bỏ trốn ? Dùng xe đạp chở va ly ra bìa rừng, không đi đường chính mà đi theo đường mòn của xe bò xe trâu có rất nhiều lối. Đi một đoạn xa rồi lẩn vô rừng trốn, chờ tối ra đường chính về Nam Vang. Đầu óc anh luôn nghĩ như thế. Anh lại vô phòng mở va ly bạc ra xem rồi khoá lại, cứ làm như thế nhiều lần. Tiền nầy là tiền trời cho, cả đời làm cơ cực chưa chắc có được ! Tiền nầy lấy đem về cho cha mẹ vợ con thì cuộc sống sẽ sung sướng, không còn lam lũ cơ cực. Anh nằm nhìn lên trần nhà, trong óc bỗng loé lên ý nghĩ là không lấy. Không thể lấy vì ông chủ quá tốt với mình. Mình lấy là mình đê hèn. Bản chất mình không cho phép mình làm như thế. Lấy là nhục nhã là ô danh, nếu chẳng may bị bắt thì mắc hai tội : tội giết người và tội ăn cắp. Mình lấy thì không còn thể thống gì là quân tử Tàu. Bản chất mình không phải là đồ phản chủ. Cả đêm anh cứ suy nghĩ lấy hay không lấy ? Cuối cùng anh quyết định là không lấy. Giữ kỹ, chờ ông chủ lên trả lại sẽ được tiếng thơm cho mình và cho ba má vợ con. Sau khi dứt khoát là không lấy, anh ngủ một giấc cho đến sáng.
 
Nghe con gà nòi gáy, anh dậy làm mọi công việc xong thì nghe có tiếng xe hơi. Anh biết đó là xe ông chủ lên. Anh xuống cầu thang như mọi lần đón ông chủ. Khi xe dừng, anh đến mở cửa xe. Anh cùng ông chủ lên nhà, đến phòng khách. Ông chủ nhìn thấy phòng đã khoá, còn anh thì không nói gì. Nhìn ông chủ vẻ mặt đăm đăm hơi buồn. Lúc nầy anh mới nói : "Thưa ông chủ, hôm qua ông chủ bỏ quên lại cái va ly. Tôi cất kỹ va ly cho ông chủ. Tôi định hôm nay ông chủ không lên thì tôi mang về bằng xe đạp cho ông chủ." Nghe nói, ông chủ ngước nhìn anh, còn anh đi về phòng mang va ly ra. "Thưa ông chủ va ly đây. Xin ông mở ra xem kỹ lại." Ông chủ nhận va ly và để lên bàn, chính tay ông mở ra xem. Ông thấy còn nguyên không mất dấu. Xem xong nét mặt ông lộ vẻ vui mừng hẳn lên. Ông chủ liền lấy một xếp bạc trong va ly ra tặng anh. Anh nhìn ông chủ, nói : "Thưa ông chủ, tôi không thể nhận số tiền nầy vì tôi đã có lương và tiền thưởng hàng tháng. Sự ưu ái của ông chủ đối với tôi đã quá nhiều rồi. Mong ông chủ hiểu cho và cất số tiền nầy đi, tôi xin biết ơn ông chủ !"
 
Ba ngày sau, ông chủ cho xe lên rước anh về Nam Vang và giao cho anh từ nay thay mặt ông lên phát lương. Khoảng tháng sau ông chủ gả con gái cho anh và cho anh một tiệm bán vải.
 
- Thưa anh Ba, em xin hỏi anh về chiếc va ly bạc : Chiếc va ly nầy ông chủ thử anh hay bỏ quên thực sự?
 
- Lúc đầu anh cũng có suy nghĩ như chú và cũng có nhiều người hỏi như chú. Sự thực thì thế nầy : Chiếc va ly chứa bao nhiêu tiền anh không rõ nhưng lý do để lại là quên thiệt. Sau đó ông nói lại với anh là số tiền đó đem lót tay cho kiểm lâm chuẩn bị kiểm tra, đóng búa cuối mùa khai thác gỗ và trả tiền gỗ. Sáng hôm đó ông mở két lấy tiền, rồi ông khoá lại nhưng để quên chìa khoá trên đầu tủ. Mãi khi lên đến đội khai thác ông mới nhớ lại. Ở trong két là vàng và tiền ông chuẩn bị đem về Ấn Độ nên ông vội về nhà, để quên va ly. Về đến nhà thì két an toàn, sau đó va ly cũng nguyên vẹn, thế là nhờ Phật phù hộ.
 
Chuyến đi định mệnh thứ 3
 
Chuyến đi nầy từ Nam Vang đến Tân Đềli thủ đô Ấn Độ. Trong chuyến đi nầy anh đã nhập quốc tịch và mang tên Ấn Độ. Chuyến đi nầy đưa anh đến vinh quang tột cùng ít người làm được. Việc đi tu Phật, anh nói thực để chú nghe. Anh vốn có dòng máu lãng tử, thích mạo hiểm, thích nơi kỳ bí. Hai chữ Tây Phương từ lâu là sự đam mê của anh, anh luôn nghĩ tới. Nơi đó thế nào mà được gọi là Tây Phương ? Người ở Tây Phương như thế nào ? Nơi đó có tuyệt trần không ? Má anh theo đạo Phật, bà luôn nói : “Phải ăn chay niệm Phật, làm lành để khi chết được về Tây Phương làm ruộng Phật.” Câu nói nầy không riêng má anh nói mà có cả bao triệu người nói như vậy. Ước mơ là thế nhưng có ai tới được Tây Phương đâu ? Còn với anh, hai chữ Tây Phương như là có duyên nợ tiền căn.
 
Năm 1933 anh sang đến Tân Đềli vài tháng, vào một ngày đẹp trời, anh dạo phố, đến gần một ngôi chùa, thấy có nhiều người đang bàn tán với nhau về việc tuyển người đi tu Phật ở Tây Phương, còn thiếu một người. Được tin nầy anh hân hoan phấn chấn vô cùng. Anh reo lên nho nhỏ : trời giúp ta ! Thời cơ cho ta, một dịp may mắn đến. Vận mạng ta được quyết định chuyến nầy, không thể bỏ lỡ cơ hội có một không hai. Anh bước vô gặp vị sư hỏi thủ tục đi tu Phật như thế nào ? Vị sư trả lời :
 
- Đi tu phật là tự nguyện, ai đi cũng được.
 
Anh liền ghi tên. Anh vừa ghi tên xong thì nghe tiếng chuông tiếng trống vang rền báo tin vui đã tuyển đủ người đi tu Phật ở Tây Phương. Còn anh vừa ngơ ngác vừa vui mừng : quả là chuyến đi mơ ước của nhiều người mà mấy ai đạt được. Chuyến đi nầy cực kỳ quan trọng, mình không tốn kém gì cả mà đạt được nguyện vọng gần như siêu phàm. Quả là duyên tiền định. Sự ước mơ từ lâu nay bất ngờ đến với mình: "Giấc mơ đã trở thành sự thật!" Trước có Tam Tạng đi Tây Phương thỉnh kinh, nay có mình đi Tây Phương tu Phật thì làm sao mà không vui sướng tự hào được ?
 
Nhà sư tiễn anh ra cửa chùa, dặn sáng mai đến làm thủ tục. Ở cửa chùa mọi người nhìn anh với vẻ kính nể. Anh thong thả về nhà để báo tin cho gia đình. Nào ngờ anh về đến nhà thì thấy cả gia đình và họ hàng nhà vợ đứng ngồi chật cả trong ngoài phòng khách chờ anh về chúc phước. Anh không ngờ tin đến với gia đình nhanh thế. Mọi người tránh cho anh bước vô phòng. Anh vừa ngồi xuống, mọi người vây xung quanh, có cả ông bà nhạc và vợ anh nhìn anh vẻ tôn kính lạ thường. Riêng vợ anh nhìn anh bằng con mắt trìu mến.
 
Anh báo tin :
 
- Con đã ghi tên đi tu Phật ở Tây Phương. Sáng mai con lên chùa để làm thủ tục.
 
Gần 7 giờ sáng hôm sau gia đình và họ hàng tề tựu đông đủ tiễn anh lên chùa. Trên đường anh thấy nhiều phật tử đến đưa tiễn anh rất tôn kính. Thấy vậy anh thêm phấn khởi và tin tưởng.
 
Đến chùa anh bước vào trình diện vị sư cả. Người đi tiễn đứng chật ngoài hiên và sân chùa. Anh trình diện xong thì một hồi chuông liên thinh vang rền không ngớt. Khi anh làm xong lễ quy y thọ giáo thì tiếng chuông ngưng. Anh được cấp y phục và mọi thứ cần thiết cho cuộc hành trình. Anh ở lại chùa một tuần để học kinh và ngữ Phật để giao tiếp dọc đường. Một tuần lễ anh chăm chỉ học kinh và tập ngồi thiền cả ngày lẫn đêm với lòng thành kính. Lòng tin giúp anh vượt qua khó khăn ban đầu nên được vị sư cả khen ngợi. Sự khen ngợi của vị sư làm anh càng tin tưởng và quyết tâm hơn. Sau đó anh được cho về nhà nghỉ trong một tuần để hàn huyên với thân nhân và mua sắm những thứ cần thiết cho hành trình.
 
Anh về đến nhà, cởi áo cà sa, ra tiệm mua kim chỉ. Loại chỉ lớn hơn bình thường và những chiếc kim đít vàng loại tốt nhứt cùng một con dao loại thiệt tốt, đem về bọc trong nhiều lớp vải. Anh lấy một chai thuỷ tinh nhỏ, cho sáp vô rồi để kim vào cho khỏi sét. Sau đó tìm mua những thứ thuốc rất cần. Vợ anh may cho anh mấy chiếc cà sa bằng loại vải thật tốt. Đêm đó anh ngồi thiền đến nửa đêm, anh vào phòng cởi áo cà sa ra nằm nghỉ, độ mười phút sau có người đẩy cửa bước vào. Đó chính là vợ anh. Nàng tự nguyện đến và ở lại cả tuần lễ với sự yêu thương trìu mến.
 
Đến ngày trở lại chùa để chuẩn bị lên đường, ngoài gia đình, dòng họ còn có rất nhiều phật tử tiễn đưa anh đến chùa. Đến chùa, anh chào từ biệt người thân và phật tử rồi anh vào trình với vị sư cả. Từ đó anh ở lại chùa chờ ngày lên đường.
 
Anh không thể hình dung được những thuận lợi và khó khăn trong cuộc hành trình như thế nào. Cứ tin tưởng và quyết tâm cao thì sẽ toại nguyện.
 
Ngày lên đường tiễn đưa rất long trọng. Nào cờ, phướn, chuông trống rền vang, âm thanh của tiếng niệm kinh cầu phúc hòa với chuông trống nghe tôn nghiêm và thiêng liêng lắm, làm khích động người đi cao độ. Người đi tu Phật được ngồi kiệu, có phật tử luân phiên khiêng. Khoảng 12 giờ, vị sư cả ra lệnh ngừng, xuống kiệu. Tiếng chuông vang lên hoà với âm thanh đọc kinh cầu nguyện. Sau đó sư cả tuyên bố cuộc tiễn đưa đến đây chia tay. Các vị đi tu Phật quay lại có lời cảm ơn sự đưa tiễn long trọng, có lời hứa quyết tâm mang đắc quả trở về. Đoàn người tiễn đưa trở về. Những người đi tu Phật thì lo chỉnh đốn lại tư trang để bước đi bước đầu hướng về Tây Phương thành kính. Y phục có cà sa chỉnh tề. Lương thực được cấp cho 7 ngày. Sau đó là tự lo, nhằm hướng tây bước tới. Tuần lễ đầu đi chân đất không quen nên đi chậm vì đất có nhiều sỏi nhỏ. Ngày đi đêm leo lên cây ngủ. Ăn không dám ăn no, uống không dám uống nhiều. Ăn uống tùng tiệm, hơn 10 ngày sau lương thực đã cạn hết. Nước uống không lo lắm vì có sương, nước suối còn ăn có phần nan giải. Rất may rừng Ấn Độ có nhiều trái rừng và là rừng ăn được. Mùa nầy nhiều trái chín, hương vị chát, chua, ngọt cũng dễ ăn. Rừng Ấn Độ không có lầy, mưa xong mau khô ráo nên rừng dễ đi. Gặp nơi trái ngọt, ăn no rồi hái mang theo ăn dần. Mỗi người đều được chùa cấp cho một cuốn sổ hành trình. Cả 6 người không ai có địa bàn và đồng hồ cả. Trong 6 người có đến 4 người không biết chữ. Đoàn người đi tu đã quen dần với cuộc sống gian khổ nên cũng bạo dạn, gan lỳ. Đoàn người đi đến một rặng núi không cao lắm. Kế núi có một quả đồi có rừng cây thưa, lại vào đêm rằm, trời quang trăng tỏ. Cả bọn quyết định lên đồi nghỉ. Sau khi sắp xếp xong chỗ nghỉ, anh lấy sổ nhật ký ra, tính thời gian hành trình thì đã đi được 2 tháng 10 ngày. Như vậy đã qua hơn 60 ngày không ăn cơm mà vẫn thấy khoẻ mạnh như thường. Sau đó tất cả ngồi tụng kinh đến trăng xế bóng thì đi nghỉ chuẩn bị cho chuyến đi ngày mai. Ngồi ăn trái rừng, nhớ lại ngày tập trung tại chùa chờ đi, 10 ngày khi có một cuộc thử thách để hôm nay con người mới được khoẻ mạnh như thế nầy. Thử thách bước đầu là 3 ngày không cho ăn gì cả mà chỉ uống nước có thuốc xổ để thải hết những chất trần tục. Sau đó cho ăn hoa quả, tắm nước nấu bằng các loại hoa thơm. Trước ngày lên đường cho ăn một bữa cơm chay hạn chế rồi chùa cho mỗi người uống 3 viên thuốc "định thần cường trí". Quả là một thần dược. Đã qua 3 ngày không ăn mà chỉ uống nước có thuốc xổ, cơ thể bải hoải, bữa cơm chay cũng chỉ đỡ lòng phần nào, tay chân vẫn bủn rủn. Nhưng sau khi uống 3 viên thuốc đó với nước nấu từ các loại hoa, chỉ độ một giờ sau cơ thể thấy phấn chấn, tráng kiện. Nhờ 3 viên thuốc đó mà vững bước đi từ đó tới nay. Anh thấy tiếc sao lại không xin cho mỗi người ít viên mang theo. Không rõ các vị sư bào chế bằng dược liệu gì mà công dụng thần kỳ đến thế. Sáng ra, mọi người tụng kinh, lạy bốn phương rồi lên đường. Đến ngày thứ 45 thì mất 2 người, vì cuộc đi Tây Phương mạnh ai nấy đi, không có bàn bạc, tự ai nấy đi theo bản năng của mình. Đi được 6 tháng thì chỉ còn lại một mình anh lầm lũi. Có những lúc nặng trĩu tâm tư nỗi nhớ. Không rõ ba má rồi vợ con ở nhà hiện đang làm gì ? Nếu mà biết mình đi tu Phật ở Tây Phương, hiện đang đi trong rừng hoang Ấn Độ thì chắc má vui lắm và tự hào có đứa con thành tâm đến với Phật.
 
-  Trong rừng làm thế nào anh Ba nhớ được ngày tháng ? Chờ ông Ba uống xong cốc trà, tôi hỏi.
 
- Việc nầy cũng phải tính toán và có kinh nghiệm dần. Ông Ba nói. Ai cũng biết mỗi khi Mặt trời lặn thì hết một ngày. Nhưng đếm số ngày đã qua lại là chuyện không dễ. Lúc đầu anh chọn sợi dây dài mà bền, cứ mỗi ngày đi qua, anh bẻ gập một đoạn để đánh dấu. Sau đó thấy cách vậy không tiện, kềnh cơi quá, anh nghĩ cách lấy một lá cây dai bền, cứ mỗi ngày qua anh lấy kim chọc một lỗ.
 
Sau khi giải thích cho tôi rõ, ông Ba tiếp tục mạch chuyện :
 
- Nguồn động viên khích lệ anh thường xuyên khi gặp nguy hiểm là dòng máu lãng tử trong người, thích hiếu kỳ, ưa tìm đến những nơi huyền bí xa lạ, chưa ai đến mà mình đến được. Chính dòng máu lãng tử pha khí phách kiếm hiệp, quân tử Tàu cộng với bốn chữ "Tây Phương đất Phật" là nguồn động viên anh vượt qua nguy hiểm và những lúc chán nản. Quyết tâm tin tưởng : có đi phải có đến !
 
Lật sổ hành trình ra xem thì đã đi được 4 năm. Càng đi càng thấy người dầy dạn. Nhờ đi lâu trong rừng nên anh có thể vừa đi vừa ngủ ở những nơi dễ đi. Nhờ ngồi thiền lâu nên cũng quen ngủ ngồi. Anh cũng hiểu tiếng của rừng : tiếng gió thổi, suối reo, thác đổ, tiếng của các loài chim loái thú. Nhờ đó mà đoán được lành dữ để đề phòng. Hiểu tiếng chim kêu thì tìm được trái cây. Nếu không gặp chứng tích của Thích Ca thì không bao giờ anh tới được chùa Tây Phương, như vậy chuyến đi thành vô định. Càng đi lâu thì nỗi nhớ quê cũng giảm dần đến gần như trở thành vô ưu không còn nhớ nữa vì tất cả sức lực, tâm tư tập trung cho tu luyện cùng chống chỏi với hiểm nguy bất trắc dọc đường.
 
Anh đã qua 9 kiểng chùa, Tây Phương là chùa thứ 10. Những am nhỏ dọc đường thì rất nhiều. Đường Tăng có đệ tử, có Phật cứu giúp còn gặp 81 nạn. Anh thì gặp cả 100 tai nạn, đơn thương độc mã chỉ có mình tự lo cho mình. Lắm lúc tưởng như kết thúc cuộc đời nhưng rồi đều vượt qua được.
 
Khi tới chùa Tây Phương và được phong danh hiệu Phật sống thì nỗi nhớ nhà nhớ người thân rộ lên cao độ. Anh kể cho chú nghe để giải đáp câu hỏi của chú cũng như của nhiều người. Anh khẳng định :
 
- Anh đi tu Phật không phải vì buồn gia đình người vợ Ấn Độ chưa hoà hợp. Anh đi tu Phật là do bản tánh của anh có dòng máu lãng tử pha khí phách kiếm hiệp của quân tử Tàu thích phiêu lưu mạo hiểm, thích khám phá những điều kỳ bí. Lúc còn ở nhà nghe má và nhiều người mơ tưởng Tây Phương đất Phật mà không biết làm sao tới được, nay gặp dịp được đi quả là may mắn. Trước văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình. Nay sẽ được diện kiến Tây Phương làm anh sung sướng đến tột độ nên quên hết, quên hết và quên hết để đến Tây Phương !
 
Người nào nói, anh đi tu Phật là vì buồn người vợ Ấn không hoà hợp là người đó không hiểu anh. Chú nghe ai nói thế thì chú thanh minh cho anh. Anh nhờ chú đó !
 
Trở về nơi xuất phát
 
Tại chùa Tây Phương, đấng Tam Tông dặn anh phải đến Nepal viếng nơi Thích Ca hành đạo rồi từ đó đi về biên giới Ấn - Tân Cương và trở về nơi xuất phát. Theo lộ trình đó, anh trở lại ngôi chùa thứ 9 theo lời của vị sư ở đó dặn khi trước. Anh ở lại chùa 2 ngày, được chùa cung cấp cho thực phẩm rồi chỉ hướng cho anh sang Nepal. Anh đến đó, được các vị sư tiếp đón long trọng. Vị sư trụ trì nói :
 
- Cách đây 2 đêm, tâm linh ta nhận được đấng tối cao báo cho biết: có Phật sống mới đắc quả ghé thăm, bảo ta báo tin cho các chùa ở biên giới Ấn Độ - Tân Cương phải đón tiếp Phật sống. Ta đã làm đúng như lời đấng tối cao dạy.
 
Vị chủ trì mời anh ở lại 5 ngày để đi thăm Bồ đề đạo tràng và thánh địa Lâm Tỳ Ni, nơi Thích Ca hành đạo. Đó là nơi thiêng liêng của Phật giáo.
 
Thánh địa Lâm Tỳ Ni của Phật giáo cũng như thánh địa Mecca của Hồi giáo, Vatican của Thiên chúa giáo, Benares của Ấn Độ giáo hay Jeruzalem của Do Thái giáo. Vị chủ trì nói thêm : Thích Ca truyền đạo đầu tiên ở bang Bihar thuộc Đông Bắc Ấn Độ, nơi đây cư dân nghèo nhất. Khi Thích Ca đắc quả có tên Buddha nghĩa là Phật và sau được tôn danh Shatôya Muri nghĩa là Thích Ca Mâu Ni hay là Tathagata nghĩa là Như Lai.
 
Từ giã chùa nầy, anh đi xuyên rừng núi Ấn Độ giáp Tân Cương để nghe đấng Tam Tông thuyết pháp. Khu rứng núi nầy dễ đi do khô ráo và bằng phẳng. Anh đi được 7 ngày thì đến một khu rừng hơi khó đi vì có dẫy núi chắn ngang, trên núi có một cây đại thụ. Khi đến nơi thì thấy sườn núi nầy quang đãng, cây thấp, dễ leo lên, anh cố gắng leo đến khi mặt trời gần lặn thì đến được gốc cây đại thụ. Xung quanh gốc cây bằng phẳng có 5-6 rễ cây to nhô lên như là rồng rắn hội tụ. Anh tìm một chỗ ngồi, dựa lưng vào rễ cây, mở túi lấy một nắm mè ăn rồi uống nước. Xong anh ngồi thiền niệm kinh, lần tràng hạt cho đến khoảng nửa đêm. Đêm càng khuya núi rừng càng thanh vắng. Không một tiếng động nhỏ, lâu lâu có một luồng gió thổi qua làm rung chuyển cây, lá cây xào xạc. Bỗng có một vầng ánh sáng bao phủ lấy anh. Ánh sáng màu trắng chuyển qua mầu xanh lơ, thế là anh ngồi bất động toàn thân. Tâm linh đồ anh nhận được lời thuyết pháp của đấng Tam Tông truyền rằng :
 
- Năm ngày nữa ngươi đi ra lộ có sự đón tiếp long trọng. Sau đó ngươi tranh thủ về nơi xuất phát. Ở đó được tin ngươi đắc đạo rồi. Ngươi ở lại đó không lâu, thì bị đưa sang châu Âu, sau đó ngươi trở về ở một quốc gia có biên giới liền với tổ quốc của ngươi. Ngươi ở lại đây vài năm, được sự tôn vinh và được hưởng những thủ tục thế gian của quốc gia, ngươi được sum họp gia đình. Sau đó ngươi trở về tổ quốc làm nghĩa vụ công dân rồi ngươi sang Lào, Xiêm, Miến Điện để làm ngoại giao có lợi cho tổ quốc  trong cuộc chống xâm lăng. Danh hiệu Phật sống của ngươi được lưu truyền. Số kiếp và định mệnh của ngươi là như vậy. Ta luôn luôn theo dõi việc làm của ngươi.
 
Ta truyền giáo lý cuối cùng hôm nay để ngươi biết và nhớ mà hành đạo :
 
1) Đời có trước, đạo có sau.
2) Đạo ở trong dòng đời.
3) Không có đời tất nhiên là không có đạo.
4) Người đời thành tâm tu luyện, chịu mọi khổ hạnh, vì lòng từ bi bác ái cứu nhân độ thế, nên được đắc quả trở thành Phật, thần thánh bước vào cõi siêu phàm.
5)Không phải Phật, thần thánh tự nguyện đầu thai xuống trần để tu luyện thành Phật, thần thánh. Việc tu hành chỉ đắc quả một lần mà thôi.
6) Những nơi dân bản địa hay dân tứ xứ đến cư ngụ mà có cuộc sống quá là nghèo khổ cơ cực, dân trí tâm linh thấp thì ở nơi ấy vì mưu cầu cuộc sống sinh tồn, nên có mầm mống việc ác nhiều hơn việc thiện, lại dễ bị lừa gạt xúi dục làm việc không lương thiện… Vì thế cần có đạo đến nơi nầy để giáo hoá làm việc thiện, ngăn ngừa việc ác, tà tâm, đưa họ vào đạo, nâng dần dân trí họ lên, để họ hiểu, họ làm theo lời giáo huấn của đạo, cuộc sống của họ được yên vui. Đó là cứu nhân độ thế đưa họ thoát khỏi cảnh trầm luân bể khổ, cảnh hắc ám do ngoại lai tạo nên.
7) Thích Ca đắc quả không có nghĩa là :
 
- Luyện được phép thiên biến vạn hoá
- Tìm được thuốc trường sinh, thần dược cứu người, có phép cứu người tai qua nạn khỏi.
 
Thích Ca đắc quả là nhờ :
 
a) Thích Ca từ bỏ quyền lực và giàu sang, tìm đến nơi nghèo khổ, dân trí thấp, có nhiều bạo chúa để hành đạo.
b) Thích Ca nói mọi người nghe
c) Thích Ca dạy mọi người làm theo.
d) Thích Ca giáo huấn được mọi người tin tưởng.
e) Thích Ca nâng dân trí lên.
g) Thích Ca giáo hóa được nhiều bạo chúa và những tay giang hồ cải tà quy chánh, những kẻ cường hào ác bá làm việc thiện.
 
Ta truyền giáo lý cuối cùng cho ngươi hôm nay để ngươi nhớ mà hành đạo. Ta đi đây !
 
Anh bừng tỉnh, liền cúi lạy bốn phương để tạ ân đấng Tam Tông. Anh nhìn trời. Trời vừa rạng đông. Anh lên đường đi theo hướng đã được chỉ dẫn. Ngày thứ 5 anh bước chân lên đường mòn. Từ đây anh rời khỏi núi rừng. Hôm nay anh nhớ cố quốc, đủ thứ nhớ dồn vào một lúc ! Anh nhìn xa về phía trước, thấy xa xa một ngôi chùa, có cờ phướn tung bay. Đến nơi thấy có nhiều người đứng như chào đón. Anh cứ cúi đầu, chắp tay niệm kinh mà đi qua. Có nhiều nơi đón chào như thế. Công khổ hạnh tu Phật gần 10 năm, nay đã được bù đắp, thật không có niềm vui hạnh phúc nào bằng.
 
Anh bùi ngùi nhớ lại : Lần thuyết pháp cuối cùng, đấng Tam Tông có nói : Từ đây về sau ta không gặp ngươi trực tiếp mà chỉ gặp ở điện cơ nhân và tâm linh đồ mà thôi!
 
Chú là người tin cẩn nhất, tôi tin chú, tôi kể chú nghe nhiều điều thầm kín từ lâu tôi chôn sâu tận đáy lòng. Ngoài chú ra không một ai được nghe biết những điều nầy. Chú nên nhớ : khi nào tôi chết chú mới được nói ra. Những việc tôi kể, tôi thấy tận mắt, nghe tận tai, có nhiều việc gần như phi lý mà có lý của sự thật. Vậy chú có hỏi gì nữa không ?
 
- Thưa anh ba, em xin hỏi :
 
- Chú cứ hỏi !
 
- Năm 1945, anh từ đất Chùa Tháp về Nam Bộ kháng chiến tới đình chiến năm 1954. Anh có liên lạc về Ấn Độ hay về Nam Vang với ông bà nhạc hay chị Ba cùng hai người con của anh không ?
 
- Tôi không có liên lạc với ông bà và vợ con của tôi từ năm 1945 đến 1954 vì sự liên lạc quá khó khăn, vả lại tôi cũng ngại những phiền toái…
 
- Vậy mà sao ngày tập kệt tại Chắc Băng chị Ba biết nơi anh ở mà sang thăm anh ?
 
- Việc đó như thế nầy : Lúc ở Chắc Băng, tôi được đồng chí Ung Văn Khiêm phân công theo dõi việc phiên dịch với Ấn Độ. Nếu cần thì nói tiếng Ấn với người Ấn trong Ủy ban quốc tế. Ấn Độ là chủ tịch Ủy ban giám sát và kiểm soát đình chiến ở Đông Dương. Lúc này Ấn Độ chưa gần với ta lắm.
 
Tại Chắc Băng hôm đó là chuyến thứ hai ta chuyển quân ra Bắc. Mỗi chiến sĩ xuống tàu được lệnh phải mang theo từ 20 đến 25 kg gạo. Vũ khí tốt để lại, chỉ mang theo vũ khí hư. Ta phải xuống tàu của Pháp để chuyển tải qua tàu Liên xô đậu ở ngoài khơi. Tụi Pháp không cho ta mang gạo xuống tàu. Ta đấu tranh với Pháp gần một tiếng đồng hồ. Pháp mời Ủy ban quốc tế tới giải quyết. Đại diện Ủy ban quốc tế lúc đó có mấy người Ấn Độ đến kiểm tra, đặt ra nhiều câu hỏi có ý làm khó dễ ta về nhân sự và việc chuyển gạo. Lúc đó có hai phiên dịch, một của ta và một của Ủy ban quốc tế đều dịch không chính xác câu trả lời của lãnh đạo ta, tạo ra thế giằng co bất lợi cho ta. Đồng chí Ung Văn Khiêm cho gọi tôi tới, bảo tôi ra cứu nguy, nếu không kẹt lắm. Nếu kẹt chuyến nầy, chuyến sau càng khó !
 
Đại diện chuyển quân của mình dẫn anh ra gặp Ủy ban quốc tế. Tới nơi anh thấy 3 người Ấn có vẻ dương dương tự đắc. Anh đến trước mặt họ, chào bằng câu Phật ngôn tiếng Phạn. Nghe xong, cả ba đứng im nhìn anh. Anh nói tiếp câu thứ hai thì cả ba cúi đầu quỳ xuống. Hai câu Phật ngôn dành riêng lúc giao dịch với các vị sư cao cấp hay là lớp thượng lưu, chính khách. Anh bảo họ đứng dậy. Cả ba người trố mắt nhìn anh. Lúc nầy mọi người đứng chung quanh lấy làm lạ. Ba người Ấn đứng im một lúc. Người tổ trưởng hỏi anh bằng tiếng Hinđu :
 
- Ông là ai, có phải là người Ấn Độ không ?
 
Anh trả lời :
 
- Phải, tôi là con rể ông Ibahim, tôi tên là Hăcxacốp Chanđra, vợ tôi là Anna Mari. Gia đình tôi với Thủ tướng Nerhu là dòng họ. Tôi là Phật sống qua Việt Nam tham gia chống Pháp.
 
Nghe đến đây 3 người Ấn Độ quỳ xuống xá tôi mấy xá rồi nói xin lỗi. Thế là lính ta được thoải mái đem gạo xuống tàu. Hôm sau ba người Ấn Độ mang đến một mâm cơm rất sang trọng mời anh. Anh ngồi ăn, ba người khoanh tay đứng túc trực. Anh ăn đúng theo phong tục Ấn Độ. Sau đó mỗi lần tới kiểm tra, các nhân viên người Ấn đều đến thăm. Một bữa vị Chủ tịch Ủy ban quốc tế người Ấn tới thăm và hỏi anh như sau :
 
- Đã xác minh ông là Phật sống của Ấn Độ. Ông được Hoàng gia Anh quốc rước về London, sau đó ông về ở đất Cao Miên. Ngôi chùa mà ông xuất phát đi tu đều có liên lạc với lục vua Cao Miên, được biết ông được an toàn khỏe mạnh. Cuối năm 1945 về sau lục vua Cao Miên báo là ông mất tích. Tất cả đều tin rằng ông đã tịch diệt trong núi rừng của quốc gia nào đó trong lúc hành đạo. Năm 1948 có gởi một thông điệp đến các chùa lớn ở Nam Vang, Lào, Xiêm, Miến Điện hỏi tin ông, tất cả đều trả lời là không biết. Từ đó mọi người tin là ông đã tịch diệt ! Nay được gặp ông tại đây, thế là ông vẫn sống và mạnh khoẻ, ai cũng mừng. Vậy khi nào ông định về lại nước Ấn Độ với ngôi chùa cũ ?
 
Anh trả lời :
 
- Khi nào Việt Nam hoàn toàn độc lập thống nhứt, tôi về.
 
- Tại sao ông tham gia kháng chiến tại Việt Nam ?
 
- Đức Phật có dạy rằng : nơi nào có bất công áp bức hay một quốc gia bị ngoại xâm, thì các Phật tử có quyền tham gia chống lại. Tôi làm đúng theo lời Phật dạy !
 
- Vậy ông có muốn liên lạc với gia đình để vợ con đến thăm không ?
 
- Tôi rất muốn, nhưng quá khó khăn, không thể thực hiện được !
 
-Vậy ông cho địa chỉ hai nơi, tôi sẽ lo liệu giúp ông thực hiện được ý muốn. Mong ông sớm trở về Ấn Độ vì các chùa và phật tử được tin ông còn sống nên mong lắm !
 
Thế là một tuần sau, chị từ Nam Vang đến thăm anh tại Chắc Băng. (Trực tiếp ghi đúng lời kể của ông Phật sống Lưu Công Danh tại nhà riêng ở Rạch Giá cuối tháng 6 năm 1987. Ghi xong có đọc lại cho ông Ba nghe 2 lần tại nhà của ông)
 
Đến thăm ông Ba tại tư gia ngày 10.7.1987
 
Bước qua cửa, tôi chưa kịp chào thì ông Ba lên tiếng :
 
- Hổm rầy tôi mong chú quá!
 
- Có việc gì không anh Ba ?
 
- Lâu không thấy chú đến, nhớ và mong vậy thôi ! Chú đến thăm anh hay có việc gì không ?
 
- Thăm anh Ba là chính. Sau đó em xin phép được hỏi anh Ba 3 việc vì em có tính tò mò. Anh Ba thông cảm cho em.
 
- Vậy chú cứ hỏi.
 
- 1) Thưa anh Ba, anh Ba được đấng Tam Tông thuyết giáo lần cuối tại biên giới Ấn Ðộ - Tân Cương. Từ đó tới nay anh Ba có được đấng Tam Tông thuyết pháp nữa không ?
 
2) Từ trong núi rừng anh Ba đi ra để về nơi xuất phát, trên đường về đều có cờ phướn và nhiều người đón rước long trọng. Vậy ai báo cho họ biết anh Ba đắc quả trở về ? Thời đó việc thông tin liên lạc còn quá lạc hậu.
 
3) Như anh Ba nói, khi anh Ba ở đất Chùa Tháp thì được phật tử ở đây tuyển các cô gái trẻ đẹp đến chùa ở lại để lấy giống Phật và nước tắm rửa của anh họ đều hứng lấy đem về làm thuốc trị bịnh. Vậy khi anh Ba đến các chùa ở Tích Lan, Lào, Miến Điện, Thái lan… ở đấy các chùa có làm như thế không ? Vậy việc trên có quy định hay tự phát rồi thành phong tục ?
 
Tôi nói xong thì ông đổi tư thế ngồi, chuyển sang ngồi thiền, hai mắt nhắm lại và nói :
 
- Chú nghe anh trả lời ba câu chú hỏi.
 
-         Dạ, em xin nghe !
 
Mỗi lần tâm linh anh nhận được lời thuyết pháp của đấng Tam Tông, anh đều có ghi lại bằng chữ Phạn, sợ ghi bằng chữ Việt lộ ra không có lợi. Ðến hôm nay chỉ có anh với chú biết mà thôi. Tâm linh anh nhận được 7 lần như sau :
 
-1953: Tâm linh anh nhận được : sum họp gia đình, gặp lại người vợ Ấn Ðộ tại Việt Nam.
-1956: Sẽ đi theo phái đoàn cao cấp đến Ấn Ðộ. Gặp nguy và thoát nguy.
-1959: Ở Liên xô sẽ có chính biến lớn.
-1962: Không được trọng dụng. Tự trở về quê hương.
-1970: Ðất Chùa Tháp gặp đại nạn, sau trở lại hồi sinh.
-1979: Ngày tịch diệt âm thầm. Sau được tôn vinh để tưởng nhớ. Nhờ 4 đệ tử tạo nên.
-1982: Tâm linh anh nhận được : Ðịa cầu gặp đại hoạ do khoa học tạo nên 4 siêu :
 
* Siêu nhiên
  * Siêu việt 
  * Siêu đẳng
  * Siêu tốc
 
Bốn cái siêu nầy làm cho Ðịa cầu mất cân bằng, mất ôn hoà, mất cân bằng âm dương, làm rối loạn không gian vũ trụ cộng với việc ham làm giầu đào bới. Sau đại hoạ nầy Ðịa cầu trở lại trạng thái mới :
 
-         Chỉ còn một chế độ
-         Chỉ còn một tôn giáo
 
Mọi sự sống ôn hoà với nền đạo đức mới :
 
-         Không còn hiềm khích, thù oán, đố kỵ, ganh tỵ, hận thù truyền kiếp, giết hại lẫn nhau.
 
-         Nền đạo đức mới thay nền đạo đức cũ hoàn toàn, Nền đạo đức mới sẽ đem lại :
 
* Công bằng
* Bình đẳng
* Bác ái
* Dân chủ
 
Khi còn một chế độ, một tôn giáo thì mới có : sự yêu thương nhau như ruột thịt, mới đùm bọc, lo cho nhau thật sự. Nghĩa đồng bào đồng loại đến đây mới sáng tỏ và hiểu đúng nghĩa.
 
- Về câu hỏi thứ hai, lúc sau ông tiếp, từ trong rừng núi, anh đi ra mà có sự tiếp đón long trọng như thế. Khi về đến ngôi chùa xuất phát thì sự tiếp đón còn long trọng hơn trăm lần. Nào cờ nào phướn, chiêng trống rền vang, ngoài sân chùa có tới mấy ngàn phật tử nam phụ lão ấu quỳ tụng kinh. Còn anh thì ngồi trong chùa, chắp tay tụng kinh. Cuộc tiếp đón diễn ra 3 ngày đêm. Sau đó anh được phép về nhà 2 ngày rồi trở lại chùa. Hành trình đi tu Phật cô đơn, âm thầm giữa núi rừng, chịu đói chịu khát… Anh không ngờ có sự tíếp đón long trọng như thế. Vinh quanh như vậy là tuyệt đỉnh.
 
Anh được ở lại chùa hơn 10 ngày thì xe của Vương quốc Anh đến bắt đưa anh về Luân Ðôn đột ngột cho nên anh chưa kịp tìm hiểu là tin anh đắc quả từ chùa Tây Phương ai đưa về và bằng hình thức nào. Thú thật là cho đến nay anh cũng chưa hiểu.
 
Lúc sau, trong khi chuyện vãn, ông kể rằng, bữa đó có 3 chiếc xe hơi của chính quyền Anh tới chùa, họ nói với nhà chùa là mời ngài Phật sống đi giảng kinh ở ngôi chùa xa. Xong việc, họ sẽ trả về. Ông lên xe, họ đưa đi luôn !
 
Câu hỏi thứ 3 : Việc đưa các cô gái trẻ đẹp đến chùa nơi anh ở để lấy giống Phật sống và lấy nước tắm, nước rửa mặt của anh đem về làm thuốc là có thật nhưng anh không rõ có quy định hay tự phát rồi thành phong tục ? Việc lấy giống Phật không riêng các cô gái được chọn đưa tới chùa mà có cả các bà các cô quý phái. Tại sao họ tự nguyện làm như vậy ? Có bận anh hỏi thì đựơc trả lời rất tự nhiên : vì ngài là người siêu phàm mới tu thành Phật được. Vì nếu người phàm thì làm sao đi một mình trong rừng núi 10 năm chịu bao gian khổ, nguy hiểm, đói khát mà đắc quả trở về. Vì thế nên tôi muốn có một đứa con của người siêu phàm truyền lại, mong ngài đừng phụ lòng chân thật của tôi. Tôi đã xin phép và đã báo cho gia đình biết và được sự khuyến khích của gia đình.
 
Khi anh đến ở chùa nước Anh, các bà các cô cũng đến xin anh ban phước, anh cự tuyệt vì anh không hiểu vì sao họ bắt anh sang đây. Năm 1941 anh từ Anh quốc về đất Chùa Tháp cư ngụ đến năm 1945. Trong thời gian nầy anh có đi nhiều chùa, nhiều nơi khác nhau, nếu ở lâu thì cũng gặp hoàn cảnh như vậy. Còn chuyện hứng nước tắm rửa : mười năm đi tu Phật, anh tắm nước mưa, nước suối, không có xà bông. Khi đắc quả thì tắm bằng nước nấu với các loại bông huệ, hồng, lài và hoa rừng. Có người nấu đem lại cho anh tắm, rửa. Cứ 3 ngày tắm giặt một lần. Lúc tắm anh ngồi trên bộ ván tự múc nước tắm, lúc đó xung quanh có bao nhiêu người hứng nước. Vì họ quan niệm anh là người siêu phàm, là Phật sống nên nước tắm của Phật rất quý để trị bịnh. Theo anh  hiểu, hai việc trên chắc không có quy định hay phong tục gì cả mà là việc làm tự phát bằng sự ngưỡng mộ cao do lòng thành kính tạo nên. Không chỉ thế mà hàng ngày còn có biết bao người đến xin hôn bàn tay bàn chân. Những người có vẻ quý phái thì xin hôn mặt cho đến tận giờ ngủ mới được yên. Như vậy là anh đã trả lời xong ba câu hỏi của chú.
 
Nói rồi ông đứng dậy đi đến nơi để cái va ly, mở ra, lấy quyển nhật ký ghi những điều tâm linh nhận được từ đấng Tam Tông, có màu xam xám của lá khô, giống hình cục gạch thẻ nhưng khổ hẹp hơn và ngắn hơn. Ông nói :
 
- Đây là những điều cốt yếu anh ghi lại bằng tiếng Phạn trên lá thốt nốt, chú coi đi. Tôi đỡ lấy cuốn sách. Đó là những mảnh lá thốt nốt được xâu lại bằng chỉ may, gồm có 3 tập được kết lại bằng chỉ thành một tập duy nhất. Rõ ràng là công trình của người làm việc rất công phu trong thời gian dài. Tôi mở trang đầu, thấy trên lá khô có những chữ ngoằn ngoèo mà tôi không đọc được, tôi chỉ đọc được một vài số niên hiệu mà thôi. Tôi hỏi:
 
- Anh Ba viết bằng cách nào?
 
- Tôi lấy lá tươi, cắt hình chữ nhật, ép cho phẳng lại rồi dùng chiếc gai nhọn viết lên lá xanh. Khi lá khô sẽ mang theo vết gai. Tôi chọn một chiếc gai vừa tay cầm lại sắc nhọn làm viết rồi dùng chỉ cột nó liền với cuốn sách để khi nào cần là kiếm giấy viết được liền.
 
Tôi ngắm nghía cuốn sách của anh hồi lâu và tiếc rẻ vì mình không biết chữ Phạn. Lúc sau anh nói :
 
- Nếu chú thích thì tôi cho chú cuốn sách này. Tôi giữ cũng chẳng để làm gì.
 
- Thôi anh Ba cứ giữ đi. Em không biết chữ nên giữ cũng không đọc được !
Có lẽ rồi tôi đốt đi thôi, chẳng ai đọc được đâu ! Anh ba nói với giọng buồn buồn.
 
Tôi cung kính trao lại quyển nhật ký và cúi đầu chào :
 
- Cảm ơn anh Ba. Anh giải toả sự tò mò của em rất mãn nguyện.
 
Lâm Quang Ky 10. 7.87
 
 
 
 
 
 
Ở cuối cuốn sổ ghi chép, tác giả ẩn danh chép lại bài viết Về Phật sống Ba Danh của nhà văn  chuyên viết ký sự Nguyên Hùng. Trong bài có những chi tiết bổ ích cùng những điều thú vị cần thảo luận nên tôi xin chép lại :
 
“Phật sống Ba Danh vươn lên tới đỉnh cao là do hoàn cảnh. Như Marx nói “Con người là sản phẩm của hoàn cảnh.” Mời các bạn liếc sơ qua sơ yếu lý lịch của người Phật sống Ba Danh : Ông Ba Danh tên thật là Lưu Công Danh, cha của ông là công nhân máy xáng thứ 7 tên là Thành. Thầy Bảy Thành là anh của Chín Lang, tức nhà bác vật Lưu Văn Lang, người đậu kỹ sư cầu cống bên Pháp sớm nhất Việt Nam. Ông nội Ba Danh là ông Lưu Văn Cứng thợ đóng cối xay lúa ở Tân Phú Đông, Sa Đéc. Ông Ba sinh năm 1900 do vậy cuộc đời của ông mang đầy đủ dấu ấn của đồng bằng sông Cửu Long qua các thời kỳ nô lệ, khai hoang lập ấp, kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, xây dựng hoà bình.
 
Sinh ra trên chiếc xáng xúc đất, đào kinh, lớn lên trong đống quê heo hút, cậu bé Danh được gởi cho bà con ở chợ lớn để ăn học, nhưng với tính tự do phóng khoáng, không chịu bất công, cậu lại bỏ chợ về quê học võ với mẹ là thầy võ lừng danh. Sau đó anh tham gia Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội và bị truy lùng. Khi bị bắt, anh giải vây bất ngờ làm chết tên lính mã tà tại trận. Anh trốn lên Nam Vang làm phu khuân vác, anh gặp một người Ấn khai thác lâm sản nhận anh làm giúp việc. Dần dần trở thành thân tín, được chủ giao giữ tiền phát lương cho thợ. Ngày kia chủ lên rừng bỏ quên va ly tiền, Ba Danh trông thấy nhưng không động lòng tham. Chừng chủ vội vàng lên tìm, khi gặp va ly thấy còn nguyên tiền chủ khen và thưởng anh một số tiền lớn nhưng Ba Danh không nhận. Và nói : “Không phải là tiền của tôi, tôi không nhận.” Chủ càng thương mến rồi gả con gái cho. Khi vế Ấn ông đưa Ba Danh theo và cả vợ Ba Danh. Bây giờ Ba Danh đẹp trai, khoẻ mạnh, ăn nói lịch sự, tính tình cương trực, tác phong chững chạc càng làm cho ông bố vợ quý trọng. Một hôm hai vợ chồng ngồi xe hơi đi dạo, Ba Danh đâm hứng đòi vô nhà hàng uống rượu, vợ khuyên mấy cũng không được, đành nghe theo chồng. Ba Danh mới sang Ấn nên không biết thực dân Anh rất kỳ thị màu da. Dù là nhà giàu người Ấn cũng không thể vào nhà hàng riêng cho người Anh. Thế nên khi Ba Danh gọi rượu, anh bị bọn bồi bàn người Anh cự và đuổi ra. Máu nóng bốc lên, Ba Danh cho mấy đưa mất dạy da trắng đo ván. Thế là cảnh sát ập vào lôi anh về bót. Gia đình nhà vợ phải bỏ tiền ra mướn luật sư biện hộ cho anh. Lại lôi ra chuyện giết người bên nước nhà, cảnh sát Anh truy nã. Đúng vào lúc đó, có lệnh của nhà chùa kêu gọi các gia đình có con em tới tuổi vào chùa để tuyển đi tu Phật. Dịp may tới đúng lúc. Ba Danh tình nguyện để tránh nạn cảnh sát truy lùng làm khổ nhà vợ. Anh được tuyển để đào tạo thành Phật sống. Thế là một cuộc phiêu lưu kỳ lạ nhất trên đời đã đưa đẩy anh trong vòng kề cận giữa cuộc sống và cái chết. Số thí sinh được tập trung vào một tu viện lớn, cho ở phòng riêng không ai biết ai. Chương trình đào tạo gồm nhiều phần, nhưng quan trọng nhất là để cho học viên thích nghi với cuộc sống hoang dã như đưa sang từ bộ lạc nầy tới bộ lạc khác giữa rừng núi hầu như nguyên thuỷ. Học viên phải một mình tìm cách trở về bộ lạc cũ. Thử thách nầy đòi hỏi học viên phải có sức khoẻ, chịu đựng được khí hậu khắc nghiệt của thiên nhiên, vừa phải biết lội suối trèo đèo, chiến đấu với thú dữ và nhất là trí thông minh, biết nhắm hướng để mở đường rừng trở về bộ lạc cũ. Với Ba Danh, nhờ tuổi trẻ lưu lạc từ nhỏ, sống trên xáng múc đất đào kinh rạch xuyên suốt vùng lau sậy Phụng Hiệp, U Minh, quen nếp sống bụi đời, tát đìa bắt cá nướng rơm, lần mò trong từng bụi, anh cũng đã đọc sách thiếu nhi : “Em bé tí hon” để biết dùng đá sạn hay bẻ cỏ làm dấu, để tìm lối đã đi qua. Nhờ thông minh và vốn sống một thời đi hoang nơi quê nhà mà anh Ba Danh đã vượt qua được thử thách chết người. Có những bộ lạc ở trong vùng thung lũng chuyên  leo trèo và chạy trên ngọn cây. Ba Danh lên ruột khi họ cột anh trên lưng và trổ tài làm khỉ, vượn trên các cành cây cách mặt đất cả trăm thước. Lại có bộ lạc có lối sống độc đáo, nuôi trâu trong vũng cho đỉa hút máu rồi vớt đỉa ra bỏ vô cối quết lấy máu trâu uống. Tất nhiên Ba Danh không thể “cùng ăn” với họ được. Anh phải ra rừng tìm trái rừng độ nhật. Cũng may là rừng Ấn Độ rất nhiều trái cây như rừng miệt Thất Sơn mà anh đã từng đi qua.
 
Sau thử thách về khả năng sinh tồn, học viên được dạy kinh. Phải thuộc lòng kinh mới được chuyển sang trạm khác. Từ trạm nầy sang trạm khác cũng phải băng rừng, lội suối, lại phải thích nghi với thiên nhiên. Ba Danh phải vượt qua không biết bao nhiêu cửa ải nhờ đang độ sung sức. Hơn 20 tuổi, cao gần mét bảy, nặng trên 90 kg, anh thường tự hào là khoẻ như voi, lại biết võ nghệ do mẹ hết lòng truyền lại khi anh còn vị thành niên. Tóm lại, nhờ sức khoẻ cộng với võ nghệ đem lại sự tự tin, lại thêm vốn sống bụi đời và quyết tâm sống còn của người tham gia cách mạng luôn phải đương đầu với làng, lính mã tà đã tập cho anh tính cảnh giác cao độ. Sau mười năm học đạo, số học viên rơi rụng hết chỉ còn một mình Ba Danh. Anh được đưa tới một ngôi chùa lớn và học kinh với một Lạtma. Đây là giai đoạn chót. Và ngày kia anh được thụ phong Phật sống. Anh láng máng hiểu nơi đây có lẽ là xứ Nepal ở phía Bắc Ấn Độ, có thủ đô Khatmandou. Nghe nóí xứ nầy có ngọn núi cao nhất thế giới. Sau khi đắc đạo, Ba Danh xin trở về xứ. Được cấp trên chấp nhận, anh đi về hướng Trung Quốc. Cũng nhờ từng bộ lạc đưa đường, nhưng lần nầy các chuyến đi có đầy đủ tiện nghi đúng nghi lễ dành cho Phật sống.
 
Dạo khắp Trung Quốc, viếng các nhà chùa lớn, Ba Danh đi về phía nam, xuống Vân Nam rồi qua Thái Lan. Vua Xiêm tiếp đón Phật sống Ba Danh thật long trọng với tất cả nghi lễ của một nước lấy đạo Phật làm quốc giáo. Ba Danh ở Xiêm một thời gian rồi xin về Campuchia vào một chùa lớn tu. Ông chọn chùa Preppra làm nới tu hành. Dân Miên và cả Việt kiều nghe danh Phật sống Ba Danh lấy tên ấn Độ Hathaicôp tu Phật mười năm mới đắc đạo nên kéo nhau tới dâng hương bái lễ.
 
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thay đổi cuộc đời Phật sống Ba Danh. Sống ở Nam Vang nhưng hồn ông thường thả về miền Rạch Giá, nơi Hòn Dất mà ngày xưa cha ông nghỉ hãng xáng về khai phá vùng nầy. Nơi đây gắn liền tuổi thơ của ông. Hay tin giặc Pháp lăm le xâm chiếm Nam Bộ, ông Ba Danh gom góp vàng bạc lên xe Trac-xông (hiệu Citroen) lái về Rạch Giá trước thăm cha mẹ, sau tham gia kháng chiến. Bây giờ Tây đã chiếm Rạch Giá, đường về quê của ông bị nghẹn lại tại Châu Đốc. Đồng chí Ung Văn Khiêm là uỷ viên nội vụ lâm uỷ hành chánh Nam Bộ đang đóng tại Long Xuyên và vừa được đắc cử đại biểu Quốc hội tỉnh Long Xuyên. Anh Ba Khiêm tiếp ông Ba Danh, báo cáo tình hình các tỉnh miền Tây và khuyên ông Ba nên trở về Nam Vang tu hành. Nhưng ông Ba Danh kiên quyết xin về nước tham gia kháng chiến. Số vàng bạc định cho cha mẹ xin hiến cho kháng chiến, còn chiếc xe hơi thì hiến cho tỉnh Châu Đốc. Trước nhiệt tình của ông Ba Danh, anh Ba Khiêm đành nghe theo nhưng chưa biết phân công cho ông làm gì ? Ba Danh tình nguyện “cho tôi vô bộ đội”. Về sau chuyển qua phụ trách Đề lao binh Khu 9 cho hợp lý hơn. Hay tin Phật sống Ba Danh về làm giám đốc Đề lao binh, đám đầu gấu kéo tới “nắn gân”. Ông Ba cười thật hiền lành ; “Muốn thử tài phải không ? Tôi sẵn sàng, nhưng trước hết hãy xem đây !” Ông vấn điếu thuốc rê bằng ngón tay cái bước tới bếp, gắp một cục than cháy đỏ bỏ vào lòng bàn tay trái,  lửa cháy xèo xèo và bốc khói, ông vẫn thản nhiên châm đầu điếu thuốc vào cục lửa trong lòng bàn tay. Cử chỉ nầy khiến đám đầu gấu bái phục. Ông Ba nói thêm : “Kể từ giờ phút nầy, trong trại giam không còn ai bị còng nữa. Nghiên cứu hồ sơ của các anh, tôi thấy tội bỏ ngũ về nhà lo cho vợ cho con, cho cha mẹ không đáng đưa vô đây, nhất là anh em đã từng chiến đấu vào sinh ra tử trong bao nhiêu năm nay.” Đó là điều mới lạ thứ nhất. Điều mới lạ thứ hai là ông Ba cho anh em giăng lưới đặt lờ để cải thiện đời sống. Đêm đêm có học văn hoá, có giờ văn nghệ. Không bao lâu, Khu giải tán Đề lao binh, ông Ba được chuyển sang công tác trừ gian. Tên nghe dữ… nhưng ông Ba dùng biện pháp cảm hoá chứ không dùng bạo lực, nhờ vậy mà đạt hiệu quả cao. Sau Hiệp định Geneve 1954, Phật sống Ba Danh tập kết theo bộ đội miền Đông ra Bắc, được đưa về nông trường cà phê của sư đoàn 330 do tướng Đồng Văn Cống chỉ huy. Ba Danh làm mọi việc được phân công như : gánh gạch xây dựng nông trường bộ. Ông Cống mời lên văn phòng giới thiệu với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Ông Ba Danh được giới thiệu sang Liên xô học quân sự. Sau đó ông xin về nước, chuyển sang công tác tại chùa Quán Sứ. Nguyện vọng của ông là làm thầy thuốc chữa bệnh cứu đời. Sau giải phóng ông về Rạch Giá chung sống với con cháu nơi mái nhà nhỏ ở đường Lâm Quang Ky sát bờ biển. Công việc của ông hằng ngày là xem bịnh, cho thuốc Nam. Ông sở trường trị bịnh trặc gân, có một số thân chủ khá lớn.
 
Ông sống đạm bạc tại một ngôi nhà vừa ăn ở với cháu ngoại vừa là nơi trọ của bịnh nhân ở xa. Bí quyết sống trường thọ của ông là ăn uống điều độ, ngày ba bữa cơm rau, không rượu trà như đa số cán bộ về hưu khác.
 
Ông mất ở tuổi 103 tức năm 2003 tại quê nhà. Ủy ban Nhân dân  tỉnh Kiên Giang làm lễ truy điệu rất trọng thể. Điều đáng hãnh diện là ngoài số viên chức cao cấp, thân chủ của ông cũng đến rất đông để đưa vị Phật sống về cõi Niết bàn.
 
Cuộc đời ly kỳ của ông, chúng tôi nhận thấy ông là vị Phật sống đặc sệt Nam Bộ, gói trọn trong câu ca dao: “Ra đi gặp vịt cũng lùa, gặp duyên cũng kết gặp chùa cũng tu”
 
(Rút từ An ninh trật tự 59, trang 91-96)
 
 
Bạn đọc thân mến,
 
Như người vẽ rồng, tôi đã giới thiệu với các bạn con rồng Lưu Công Danh qua từng khúc, đó là Ký sự Vua Phật Luu Công danh đi kháng chiến, là Hồi ký của Phật sống Ba Danh, Là lời kể của những người thân Phật sống, là ghi chép của tác giả ẩn danh, là bài báo của nhà văn Nam Bộ Nguyên Hùng… Đọc qua những tài liệu này, hẳn bạn sẽ nhận ra sự thiếu nhất quán, sự khác biệt giữa nhiều sự việc trong cuộc đời của cùng một con người. Hẳn trong óc bạn sẽ nảy sinh câu hỏi : tài liệu nào đúng ? Tài liệu nào sai ? Đấy là điều khó thể quyết đoán ! Những ghi chép nguyên sơ từ nửa thế kỷ trước của nhà văn có tiếng chỉ viết sự thật phải chăng được đóng dấu chất lượng cao ? Phải chăng những điều ông già 100 tuổi kể cho nhà báo nghe theo chỉ đạo của cấp uỷ là hoàn toàn sự thật ? Phải chăng những lời trối trăng trao lại cho tác giả ẩn danh là đáng tin nhất ? Quả là khó, chúng ta chỉ có thể nói rằng ở đây chẳng có gì là tuyệt đối. Không thể khác vì Phật sống Ba danh đã đi vào huyền thoại. Là người đương thời, cùng sống với Cụ trong tỉnh lỵ Rạch Giá, tôi cố ghi lại những điều người đương thời nhớ về Cụ hầu mong giữ lại những tư liệu hiếm hoi về con người huyền thoại này. Rất mong rằng rồi có ai đó, lần theo những lối mòn còn ghi dấu hôm nay làm cuộc hành trình tìm lại con đường người tu Phật đã đi : từ đất Mớp Giăng bên kênh Rạch Giá Hà Tiên lần tới Nam Vang, qua Ấn Độ tìm lại phần đời hay câu chuyện về Phật sống Lưu Công Danh còn lưu lạc đâu đó…Và có một câu hỏi cũng cần làm rõ : Việc tu Phật của Lưu Công Danh có phải là sự thật không hay cũng chỉ là một huyền thoại ? Và Phật sống Lưu Công Danh giữ vai trò, vị trí thế nào trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Việt Nam ? Vì sao không có ai chính thức trong giới nghiên cứu Phật giáo phát biểu về hiện tượng này ? Vẫn chưa hết: những điều mà Phật sống được đấng Tam Tông phát lộ trong đêm vắng tại ngôi chùa xa xăm trong rừng già Ấn Độ có điều nào phù hợp với thực tế khách quan ? Và có ý nghĩa thế nào trong việc tìm hiểu vũ trụ, tâm linh ? Vân vân và vân vân…
 
Với tất cả những kỳ vọng như thế, tôi xin trao cuốn sách này cho bạn.
                                                                
Thành phố Hồ Chí Minh, cuối năm Bính Tuất.
 
Hà Văn Thuỳ 
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
Bìa 2
 
Nhà văn Hà Văn Thùy
Sinh năm 1944
Quê quán: Đồng Tiến
Quỳnh Phụ, Thái Bình.
Năm 1967 tốt nghiêp khoa Sinh,
Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Từng làm việc tại
Hội Văn nghệ Thái Bình,
Kiên Giang, báo Văn nghệ
Hội Nhà văn Việt Nam
 
Bìa 3
Những tác phẩm chính:
-         Thời gian gom nhặt (thơ)
-         Trấn Hà Tiên và Tao đàn Chiêu Anh Các
(biên khảo)
-         Phiêu lưu cùng côn trùng (dịch)
-         Nguyễn Thị Lộ (tiểu thuyết)
-         Góp với văn đàn (phê bình và tiểu luận)
-         Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt.
-         Hành trình tìm lại cội nguồn.
-         Di ngôn Phật sống Lưu Công Danh
-         Sự nghiệt ngã của nghề nghiệp (ký chọn lọc)
 

Câu chuyện về Phật sống Lưu Công Danh tôi nghe như một thần thoại từ thời thơ ấu. Khi đọc ký sự "Vua Phật Lưu Công Danh đi kháng chiến" của nhà văn Phạm Tường Hạnh, tôi biết thêm nhiều điều nhưng lại cảm thấy tiếc vì Phật sống trong truyện không còn lấp lánh ánh hào quang xưa. Nó bị mài đến tròn trịa khiến tôi cảm tưởng, đó chỉ là bộ xương chứ không phải con người Phật sống huyền thoại. Tôi thấy tiếc phần da thịt tươi rói đã mất đi.
 
Bạn bè tôi ở Rạch Giá, những người từng kể cho tôi nghe về Phật sống Ba Danh nói chung chưa thỏa mãn với những gì được viết về Cụ. Các anh nói với tôi: "Ông phải viết, nếu không sẽ uổng!" Nói rồi anh Tư Thạch, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 307, nhiều năm sau này cùng sống với cụ Ba Danh một con phố, thành người thân và giúp Cụ ít nhiều khi khốn khó, chở tôi đi gặp người này người khác, yêu cầu họ kể. Những người tôi gặp đều ủng hộ tôi đồng thời cũng ra điều kiện nghiêm khắc : Phải viết chân thực !
 

Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-11-10 00:01:36Tư Tứ>
Tôi thêm hình mà không được
Ta phải chia sẽ tất cả những gì quí báo trên đời.
Toutes les bonnes choses sont faites pour être partagées.
Đăng nhập để trả lời
0