Diễn Đàn » Thơ Sưu Tầm

Tuyển tập thơ và cuộc đời của Hồ Xuân Hương

15 trả lời, 17.474 lượt xem — Trang 1 / 1
Thơ Hồ Xuân Hương


Hồ Xuân Hương sinh ra và lớn lên ở bên cạnh hồ Tây của Hà Nội. Tại vì ba mất sớm, mà mẹ đã đi lấy chồng, cho nên Hồ Xuân Hương sống lẽ loị Nhà nghèo nhưng mà Hồ Xuân Hương học rất giỏi và làm thơ rất hay.
Tại sống trong một cảnh nghèo nàng côi cút, và trong một thời ly loạn (Mạc chống với Trịnh, Trịnh chống với Nguyễn, Nguyễn chống với Tây Sơn), vì vậy trong thơ văn của Hồ Xuân Hương đã phản ra một nét đã kích đến xã hội phong kiến, như là một cái kính phản chiếu về xã hội. Ðể coi xã hội đã ảnh hưỡng đến con người như thế nào, và ta phải lo liệu coi phải đối phó như thế nào.
Đăng nhập để trả lời
0
Thương


Há dám thương đâu kẻ có chồng,
Thương vì một nỗi hãy còn không.
Thương con cuốc rũ kêu mùa Hạ,
Thương cái bèo non giạt bể Ðông.
Thương cha mẹ nhện vương tơ lưới,
Thương vợ chồng Ngâu cách mặt sông.
Ấy thương quân tử thương là thế,
Há dám thương đâu kẻ có chồng.
Đăng nhập để trả lời
0
        HỎI TRĂNG

        Một trái trăng thu chín mõm mòm,
        Nảy vừng quế đỏ(1) đỏ lòm lom!
        Giữa in chiếc bích(2) khuôn còn méo,
        Ngoài khép đôi cung(3) cánh vẫn khòm.
        Ghét mặt kẻ trần đua xói móc,
        Ngứa gan thằng Cuội đứng lom khom.(4)
        Hỡi người bẻ quế(5) rằng ai đó,
        Đó có Hằng Nga(6) ghé mắt dòm.
        -------------------------

        (1) Quế đỏ: Huyền thoại nói trong mặt trăng có cây quế đỏ.
        (2) Chiếc bích: Chiếc ngọc bích hình tròn dẹt, giữa có lỗ, người ta gọi mặt trăng là bích nguyệt.
        (3) Người ta thường ví đường cong của mặt trăng như người tráng sĩ giương cánh cung.
        (4) Ca dao: " Thằng Cuội ngồi gốc cây đa; Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời..." ở đây vì tức tối nên thằng Cuội không ngồi mà đứng.
        (5) Bẻ cành quế đỏ (đan quế) trên cung trăng, chỉ người thi đỗ tiến sĩ.
        (6) Hằng Nga: Huyền thoại nói Hằng Nga vợ Hậu Nghệ ăn trộm thuốc tiên của chồng do bà Tây Vương mẫu cho, rồi một mình trốn lên ở cung trăng.
Đăng nhập để trả lời
0
        VỊNH CÁI GIẾNG

        Ngõ ngay thăm thẳm tới nhà ông,
        GIếng tốt thanh thơi,(2) giếng lạ lùng
        Cầu trăng phau phau đôi ván ghép,
        Nước trong leo lẻo một dòng thông.
        Cỏ gà lún phún leo quanh mép,
        Cá diếc le te lách giữa dòng.
        Giếng ấy thanh tân ai cũng biết(3)
        Đố ai dám thả nạ dòng sông.(4)

        ----------------------

        (1) Giếng thơi: Giếng sâu.
        (2) Thanh thơi: Trong và sâu.
        (3)-(4). Thả nạ dòng dòng: Tục ngữ có câu: " Dòng dòng theo nạ" , nạ nghĩa là mẹ. Cái giếng trong và sâu kia, ai dám thả vào đấy một đàn " dòng dòng theo nạ" ? Ví như người con gái thanh tân tươi tốt, ai cũng biết cả đấy, song ai dám cầu xin cô làm vợ để cô sẽ trở thành người mẹ quấn quít với những đứa con, vì cô cao giá quá!



Đăng nhập để trả lời
0
        CHƠI TÂY HỒ NHỚ BẠN

        Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa
        Người đồng châu trước biết bao giờ
        Nhật Tân đê lở nhưng còn lối
        Trấn Bắc rêu phong vẫn ngấn thơ
        Nọ vực Trâu Vàng trăng lạt bóng
        Kìa non Phượng Đất khói tuôn mờ
        Hồ kia thăm thẳm sâu dường mấy
        So dạ hoài nhân chửa dễ vừa.
Đăng nhập để trả lời
0
        BÁNH TRÔI NƯỚC

        Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
        Bảy nổi ba chìm với nước non.(1)
        Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
        Mà em vẫn giữ tấm lòng son(2)

        ---------------------

        (1) Bánh trôi khi luộc trải qua chìm nổi mấy lần trong nước mới chín.
        (2) Tấm lòng son: Bánh trôi khi luộc chín thì nhân đường bánh trôi ở giữa đỏ thắm như son: ví với người con gái dù có long đong ba chìm bảy nổi, vẫn giữ tấm lòng thành thực trong tình yêu.
Đăng nhập để trả lời
0
        MIẾNG TRẦU (1)

        Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi(2)
        Này của Xuân Hương mới quệt(3) rồi
        Có phải duyên nhau thì thắm lại(4)
        Đừng xanh như lá bạc như vôi!

        -------------------

        (1) Miếng trầu: Một khẩu trầu gồm ba thành phần chính hợp lại là trầu không, cau và vôi. Vỏ (rễ) và thuốc lào là thành phần phụ gia.
        (2) Trầu hôi: Lá trầu không loại xấu, nhỏ lá và có mùi hôi.
        (3) Quệt: Quệt vôi vào lá trầu rồi mới têm.
        (4) Cau đậu (cau kén), trầu lá to và mỡ, vôi vừa phải, khi ăn thì đỏ thắm và say. Cau bé, trầu hôi, vôi mặn thì ăn không đỏ và miếng trầu không ngon. Nhà thơ nói, về cái hẩm hiu của duyên phận.



Đăng nhập để trả lời
0
Duyên Kỳ Ngộ


Nghìn dặm có duyên sự cũng thành,
Xin đừng lo lắng hết xuân xanh.
Tấc gang tay họa thơ không dứt,
Gần gụi cung dương lá vẫn lành.
Tên sẵn bút đề dường chĩnh chện,
Trống mang dùi cắp đã phanh phanh.
Tuy không thả lá trôi dòng ngự,
Chim tới vườn đào thế mới xinh.
Đăng nhập để trả lời
0
Già Kén Kẹn Hom


Bụng làm dạ chịu trách chi ai,
Già kén kẹn hom ví chẳng sai.
Tiếc đĩa hồng ngâm cho chuột vọc,
Thừa mâm bánh ngọt để ngâu vầy.

Miệng khôn trôn dại đừng than phận,
Bụng ỏng lưng eo chớ trách trời!
Ðừng đứng núi này trông núi nọ,
Ðói lòng nên mới phải ăn khoai.
Đăng nhập để trả lời
0
Tranh Hai Tố Nữ


Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh.
Ðôi lứa như in tờ giấy trắng,
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh.

Phiếu mai chi dám tình trăng gió,
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh.
Còn thú vui kia sao chẳng thấy,
Trách ông thợ vẽ khéo vô tình!
Đăng nhập để trả lời
0
Chửa Hoang

Cả nể cho nên hóa dở dang,
Nỗi niềm có thấy hỡi chăng chàng?
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc,
Phận liễu sao đành nẩy nét ngang

Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa?
Mảnh tình một khối thiếp xin mang.
Quản bao miệng thế lời chênh lệch,
Không có nhưng mà có mới ngoan
Đăng nhập để trả lời
0
        LẤY CHỒNG CHUNG

        Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,
        Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.
        Năm thì mười hoạ chăng hay chớ
        Một tháng đôi lần có cũng không.
        Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm,(1)
        Cầm bằng làm mướn, mướn không công.(2)
        Thân này ví biết dường này nhỉ(3)
        Thà trước thôi đành ở vậy xong.[/color]
Đăng nhập để trả lời
0
        QUÁN KHÁCH

        Đứng chéo trông theo cảnh hắt heo,
        Đường đi thiên thẹo quán cheo leo.
        Lợp lều mái cỏ tranh xơ xác,
        Xo kẽ kèo tre đốt khẳng kheo.
        Ba chạc cây xanh hình uốn éo,
        Một dòng nước biếc cảnh leo teo.
        Thú vui quên cả niềm lo cũ,
        Kìa cái diều ai nó lộn lèo.
Đăng nhập để trả lời
0
        TỰ TÌNH

        Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom
        Oán hận trông ra khắp mọi chòm.
        Mõ thảm không khua mà cũng cốc.
        Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?
        Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,
        Sau giận vì duyên để mõm mòm.
        Tài tử văn nhân ai đó tá?
        Thân này đâu đã chịu già tom!
Đăng nhập để trả lời
0
Vịnh cái quạt


Vịnh cái quạt (1)


Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay.
Mỏng dày từng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp dường nào, cẵm một cay.
Càng nóng bao nhiêu thời càng mát.
Yêu đêm chưa phi lại yêu ngày.
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy.
Chúa dấu vua yêu một cái này.



Vịnh cái quạt (2)

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa,
Duyên em dính dán tự bao giờ,
Chành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.
Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?

Người Về Âm Cảnh Hồn Thư Thái
Kẻ Ở Dương Gian Dạ Ngậm Ngùi
Đăng nhập để trả lời
0
Đèo Ba Dội



Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa con đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.

Đèo Ba Dội hay Ba đèo tên chữ là đèo Tam Điệp, thuộc huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

Người Về Âm Cảnh Hồn Thư Thái
Kẻ Ở Dương Gian Dạ Ngậm Ngùi
Đăng nhập để trả lời
0