Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Vĩnh biệt nhà thơ Huy Cận

8 trả lời, 929 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-29 20:06:49ct.ly>
Vĩnh biệt nhà thơ Huy Cận

[image]http://www.vnexpress.net/Vietnam/Van-hoa/2005/02/3B9DB8CE/huy-can_A2[1].jpg[/image]

Nhà thơ Huy Cận.
Sau một thời gian bị bệnh nặng, mặc dù được các thày thuốc tận tình cứu chữa, nhưng do tuổi cao, sức yếu, nhà thơ Huy Cận đã qua đời tại Hà Nội lúc 20h53 ngày 19/2, thọ 86 tuổi.

Ông tên thật là Cù Huy Cận, sinh ngày 31/5/1919, tại làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh trong một gia đình nhà Nho nghèo yêu nước. Ông đậu Tú tài Tây ở Huế, sau đó theo học và tốt nghiệp kỹ sư Canh Nông Hà Nội (năm 1943).

Ngay từ thời kỳ còn trẻ ông đã thể hiện một tài năng thơ ca. Tập thơ đầu tay của ông có tên “Lửa thiêng” xuất bản năm 1940, đánh dấu sự có mặt của Huy Cận, một nhà thơ lớn của dân tộc suốt 65 năm qua.

Ông sớm giác ngộ cách mạng. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, ông đã là đại biểu Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa I và đại biểu Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa 2, 7. Nhà thơ Huy Cận từng là thứ trưởng Bộ Văn hóa, bộ trưởng đặc trách Văn hóa Thông tin của Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam… Uy tín về quá trình hoạt động và sự nghiệp thơ ca của ông nổi tiếng trong nước và nước ngoài.

Huy Cận có những tập thơ chính: Lửa thiêng (1940), Kinh Cầu tự (1942), Vũ trụ ca (1943), Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Những năm sáu mươi (1968), Cô gái Mèo (1972), Chiến trường gần chiến trường xa (1973), Ngày hằng sống ngày hằng thơ (1975), Ngôi nhà giữa nắng (1978). Ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn hóa nghệ thuật đợt I, năm 1996.

Ông được xem là một trong những nhà thơ tiên phong của phong trào thơ mới và là cây đại thụ của nền thơ cách mạng Việt Nam.

Nhà thơ Huy Cận mất đi giữa những ngày giới văn học nghệ thuật đón chào xuân mới và chuẩn bị tổ chức Ngày thơ Việt Nam lần thứ 3, là một tin buồn và mất mát lớn cho giới văn học nghệ thuật và thơ ca Việt Nam.

(Theo SGGP)

đã mang vào thư viện
Đăng nhập để trả lời
0
Thơ Huy Cận


Vạn Lý Tình

Người ở bên trời, ta ở đây ;
Chờ mong phương nọ, ngóng phương nầỵ
Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm,
Vạn lý sầu lên núi tiếp mây .

Nắng đã xế về bên xứ bạn ;
Chiều mưa bên bãi, nước sông đầỵ
Trông vời bốn phía không nguôi nhớ,
Dơi động hoàng hôn thấp thoáng bay .

Cơn gió hiu hiu buồn tiễn biệt,
Xa nhau chỉ biết nhớ vơi ngàỵ
Chiếu chăn không ấm người nằm một
Thương bạn chiều hôm, sầu gối tay
Đăng nhập để trả lời
0
Buồn

Rụng những chùm tên mấy độ bông;
Phai hàng nhật ký chép song song;
Chàng trai gối mộng trên trang sách
Tỉnh thức, mùa xuân rụng hết hồng.

Đời mất về đâu, hỡi tháng năm?
Xuân không mọc nữa với trăng rằm!
Chẳng bao lâu ngũ sầu trong đất,
Vĩnh viễn mùa đông lạnh chỗ nằm.

Nay hẵng còn đây ấm mặt trời,
Mà sao lòng lạnh tuyết băng rơỉ
U sầu chắc hẳn đang nhanh bước,
Lưng khom nghìn năm đến cữa tôi
Đăng nhập để trả lời
0
Áo Trắng


tặng Nhất Linh


Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,
Hôm xưa em đến, mắt như lòng,
Nở bừng ánh sáng. Em đi đến,
Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng.

Em đẹp bàn tay ngón ngón thon;
Em duyên đôi má nắng hoe tròn.
Em lùa gió biếc vào trong tóc
Thổi lại phòng anh cả núi non.


Em nói, anh nghe tiếng lẫn lời;
Hồn em anh thở ở trong hơi.
Nắng thơ dệt sáng trên tà áo,
Lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài.


Đôi lứa thần tiên suốt một ngày,
Em ban hạnh phúc chứa đầy tay,
Dịu dàng áo trắng trong như suối
Tỏa phất đôi hồn cánh mộng bay.
Đăng nhập để trả lời
0
Đi Giữa Đường Thơm
Huy Cận

tặng Thạch Lam

Đường trong làng: hoa dại với mùi rơm...
Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm,
Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng.

Đất thêu nắng, bóng tre rồi bóng phượng
Lần lượt buông màn nhẹ vướng chân lâu:
Lên bề cao hay đi xuống bề sâu?
Không biết nữa - Có chút gì làm ngợp
Trong không khí... hương với màu hoà hợp...

Một buổi trưa không biết ở thời nào,
Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao,
Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ
Mà đôi lứa đứng bên vườn tình tự.
Buổi trưa này xưa kia ta đã đi,
Phải cùng chăng? Lòng nhớ rõ làm chi!

Chân bên chân, hồn bên hồn, yên lặng,
Người cùng tôi đi giữa đường sãi nắng,
Trí vô tư cho da thở hương tình,
Người khẽ nắm tay, tôi khẽ nghiêng mình
Như sắp nói, nhưng mà không - khóm trúc
Vừa động lá, ta nhận vào một lúc
Cả không gian hồn hậu rất thơm tho;
Gió hương đưa mùi, dìu dịu phất phơ...

Trong cảnh lặng, vẫn đưa mùi gió thoảng...
Trí bâng quơ nghĩ thoáng nhưng buồn nhiều:
"Chân hết đường thì lòng cũng hết yêu."
Chân đang bước bỗng e dè dừng lại
- Ở giữa đường làng, mùi rơm, hoa dại...

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-29 20:07:52ct.ly>
thiếu bài này coi bộ không ổn đâu...

NHẠC SẦU

Ai chết đó ? Nhạc buồn chi lắm thế !
Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường
Phố đìu hiu màu khói cũ lên sương
Sương hay chính bụi tàn phai lả tả
Từng tiếng lệ: ấy mộng sầu úa lá
Chim vui đâu cây đã gãy vài cành
Ôi chiều buồn ! Sao nắng quá mong manh
Môi tái nhạt nào mà cười héo vậy ?

Ai chết đó? trục xoay và bánh đẩy
Xe tang đi về tận thế giới nào ?
Chiều đông tàn, lạnh xuống tự trời cao
Không lửa ấm, chắc hồn buồn lắm đó
Thê lưng vậy mà ai đành lìa bỏ
Trần gian sao? Đây thành phố đang quen
Nhưng chốc rồi nẻo vắng đã xa miền
Đường sá lạ thôi lạnh lùng biết mấy !

Và ngựa ơi, đi nhịp đằm chớ nhảy
Kẻo thân đau chưa quên nệm giường đời
Ai đi đưa, xin đưa tận cuối trời
Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi

Người đã chết- Một vài ba đầu cúi
Dăm bảy lòng thương xót đến bên mồ
Để cho hồn khi sắp xuống hư vô
Còn được thấy trên mặt người ấm áp
Hình dáng cuộc đời từ nay xa tắp

Xe tang đi, xin đường chớ gập ghềnh
Không gian ơi, xin hẹp bớt mông mêng
Ảo não quá trời buổi chiều vĩnh biệt !
VÀ ngươi nữa, tiếng gió buồn thê thiết
Xin lặng giùm cho nhẹ bớt cô đơn
Hàng cờ đen là bóng quạ chập chờn
Báo tin xấu, dẫu hồn người đã xế...

Ai chết đó? nhạc buồn chi lắm thế !
Kèn đám ma hay ấy tiếng đau thương
Của cuộc đời ?ai rút tự trong xương
Tiếng nức nở gởi gió đường quạnh quẽ !
Sầu chi lắm! trời ơi chiều tận thế !

Huy Cận
Thiên Ngọai Hữu Thiên ,
Cao Nhân Tất Hữu Cao Nhân Trị
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-02 09:39:31mickey>
Cây cổ thụ vẫn còn xanh tươi mãi

Trần Mạnh Hảo

Từ độ Nguyễn Du lục bát hóa đời Kiều để ngự trên ngôi báu thi ca, chừng như long mạch thơ nước Việt đã mấy lần rót về Hà Tĩnh, khơi nguồn cho những dòng thơ lớn khác xuất hiện: Nguyễn Công Trứ, Xuân Diệu và Huy Cận. Sau tám năm từ độ ra đời, Thơ Mới (1932-1945) đang cuồn cuộn chảy như một dòng sông lắm ghềnh nhiều thác, lúc ẩn, lúc hiện, chợt bùng lên rồi lắng lại sững sờ, như ngẩn ngơ, như luyến tiếc cội nguồn? Kể cũng lạ, khi dòng Thơ Mới cuộn chảy, gầm reo tới cao trào với Xuân Diệu thì cũng là lúc nó chợt phình ra giống một cái hồ cho mưa nguồn chớp bể trong hồn sông nước được nghỉ ngơi, trầm lắng, ưu tư mà hoài cổ. Khúc sông giống hồ nước của dòng Thơ Mới ấy chính là Huy Cận với tập Lửa Thiêng gồm 50 bài thơ ra mắt năm 1940. Nếu không có khúc sông hóa hồ nước Huy Cận giúp Thơ Mới có cơ hội lắng xuống, thảnh thơi và điềm tĩnh, chùng chình và mênh mông lại, biết đâu nó đã chẳng chảy tuột vào bề thẳm Tây phương? Chừng như hình thức complet, cravate của Phương Tây Huy Cận khoác lên người không mang nổi hồn vía Đông phương u uẩn, thẳm vời trong ông? Sau khi nhà thơ từng thổn thức nỗi Verlaine, cái hồn ấy phiêu du ông về vạn cổ, kéo ông lạc vào Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du... ngay giữa lòng thế kỷ XX ồn ào phố xá...Thành ra, trong dòng thơ mới sục sôi với tầng tầng lớp lớp thi nhân, Huy Cận tuy không khăn đống áo the như Đông Hồ, không nâu sồng dân dã như Nguyễn Bính, nhưng hồn ông đã ràng buộc với thất ngôn và lục bát xưa. Ông hóa nỗi buồn xưa mà lênh đênh nguồn cội, một mình bơ vơ ngay giữa “Hội trùng dương” Thơ Mới, bơ vơ ngay giữa hồn mình. Có thể nói, Huy Cận cô đơn ngay cả trong niềm nồng cháy ban đầu Xuân Diệu. Vì sao một gã trai mười chín đôi mươi lại có một tâm hồn nghìn tuổi, một niềm thơ vạn cổ rất tân thời như “Lửa thiêng” 59 năm trước?

Ta bắt gặp trong Lửa Thiêng một Huy Cận buổi “Tựu trường-Thơ Mới”, tuy không mê đắm đến điên cuồng “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” như Xuân Diệu, nhưng cũng rất tinh khôi niềm yêu đời, một niềm cách tân cả ý tưởng đến hồn vía :”Tủ mới đánh và lòng trai thơm ngát” (Tựu trường). Chiếc tủ - hình - thức - Tây phương vừa đánh verni, tưởng chỉ có thể treo những bộ áo quần tân thời ý tưởng như câu thơ rất Tây trong bài Tình tự: “Sáng hôm nay hồn em như tủ áo / ý trong veo là lượt xếp từng đôi”. Huy Cận đi giữa tủ, rương như đi giữa những thời đại bảo tàng, những thời đại ngọc ngà dễ vỡ, tưởng chừng ông toan biến đời mình thành chiếc rương cất giữ vẻ tân kỳ hôm nay: ”Rương nho nhỏ với linh hồn bằng ngọc” (Tựu trường). Một cậu trai thuần khiết “Quần áo trắng đẹp như lòng mới mẻ” thuở ấy ai ngờ lại có thể viết được những câu thơ rất mới, rất Tây :”Anh hãy bận hồn em màu sáng chói” (Tình tự )... ”Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng”( Đi giữa đường thơm ) ...hoặc “Bắt gặp mùa tươi lên rún rẩy” (Xuân)...Huy Cận chìa câu thơ thất ngôn truyền thống ra như chìa bàn tay mình để bắt tay ngọn gió mới Tây phương, bằng cách đột ngột gieo một liên từ làm vần cuối câu thơ thứ hai, khiến câu thơ vừa đứt, vừa nối, vừa chênh vênh, hụt hẫng lại vừa an nhiên, tự tại: ”Khi bóng hoàng hôn phủ núi xa / Khi niềm tư tưởng vướng chân, và...” (Em về nhà). Ta còn có thể bắt gặp trong Lửa thiêng nhiều vẻ đẹp Tây phương mới lạ của Huy Cận, nhất là trong 15 bài thơ 8 chữ khá phóng túng của ông như bài Trò chuyện: “Phố không cây thôi sầu biết bao chừng”, “Buồn vạn lớp trên mái nhà dợn sóng”, “Chiều hiu hiu khêu gợi nhớ nhung hờ”, “Hồn bơ vơ không biết tựa vào đâu / Mây không bay thương nhớ cũng không màu / Nắng không xế và lòng sầu mất hướng”... Huy Cận thậm chí Tây không kém gì Xuân Diệu với nỗi sầu, nỗi chết ban đầu với tận cùng cảm giác kiểu “Tay bồng thân, và tay nữa ôm mồ“ (Trình bày) ... “Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường” ... “Xương cọ vào xương bớt nỗi hàn” (Ngủ chung)... hoặc “Ôi chiều buồn sao nắng quá mong manh” (Nhạc sầu). Ta có một Huy Cận hướng ngoại tới tận trời tượng trưng Verlaine cả trong buồn, vui, sống, chết, trong thế giới khả giác lúc nào như cũng muốn nổi da gà. Có khi, Huy Cận thử tìm tới tất cả, thử vồ vập tất cả nhưng vì sao ông chưa thỏa nỗi rưng rưng, dù khi ông viết về tình yêu thời đi học với những câu thơ hay đến kinh ngạc: ”Một hôm trận gió tình yêu lại / Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ” (Học sinh). “Trận gió tình yêu” mới mẻ phương Tây rất nồng nhiệt kia đã thổi bay đi tất cả niềm vui mong manh chớm hé. Chỉ còn lại nhà thơ “Đứng ngẩn trông vời...” hiện tại, dù hiện tại kia, tình yêu kia kỳ diệu tới mức, lãng mạn tới mức thần tiên: ”Em lùa gió biếc vào trong tóc / Thổi lại phòng anh cả núi non “ (áo trắng). Nhờ “Em”, nhờ ngọn gió tóc kia mà căn phòng anh được nới rộng ra cả đất trời? Hay chính là “Em” đã nhốt núi non, nhốt cái sừng sững cao vời vào căn phòng thi ca anh để vô hạn hóa cái hữu hạn ? Niềm vui tình đầu Huy Cận đẹp thế, hay thế nhưng chỉ là gió thổi qua, chỉ là thoáng chốc. Trong thơ, Huy Cận cần một cách giải thoát khác Xuân Diệu.

Huy Cận đi từ “Ngẩn“ tới “Vời”:”Đứng ngẩn trông vời...”, đi từ tha nhân đến bản thân mình, từ niềm vui đến nỗi cô đơn, như chiếc thuyền trong bài “Mưa” sau: ”Lòng êm như chiếc thuyền trên bến / Nghe rét thu về hạ bớt mui“. Câu thơ này mới đích thực thần thái Huy Cận; nó hay một cách hoang vắng, se se, tồi tội, khẽ khàng, hiu hắt. Tâm hồn Huy Cận là chiếc thuyền miền sơn cước thi ca, lặng lẽ “hạ bớt mui” khi rét thu về, lặng lẽ rút vào tranh thủy mặc xa xưa mà u tịch. Nếu Xuân Diệu nhảy bổ vào tình yêu như nai kia khát nước nhảy bổ vào nguồn suối, lăn xả vào đời sống con người mà choàng ôm tất cả, mà mê cuồng, say đắm tất cả thì Huy Cận ngược lại, cứ một mình thui thủi tìm về nơi hoang vắng, tránh xa nơi phồn hoa đô hội. Huy Cận tĩnh bên một Xuân Diệu động. Huy Cận xưa bên một Xuân Diệu nay. Huy Cận buồn bên một Xuân Diệu vui, dù cả hai đều “Hai chàng thi sĩ choáng hơi men“ (Tình trai-X.D.). Những bài thơ hay nhất trong Lửa thiêng là những bài Huy Cận thu hồn về ở ẩn trong một thiên nhiên hoang vắng, thẫn thờ, như thể ông đã bị cuộc đời dồn đến trước lầu “Ngưng Bích”, cùng Thuý Kiều lẫn vào “Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung “(Kiều). Trong 50 bài Lửa thiêng, chỉ có 8 bài thơ lục bát: Buồn đêm mưa, Trông lên, Chiều xưa, Đẹp xưa, Thuyền đi, Xuân ý, Thu rừng và Ngậm ngùi. Nhưng nếu không có 8 bài thơ lục bát này, Lửa thiêng dù có nhiều bài thất ngôn hay ví như Tràng giang thì cũng chưa thể làm nên một Huy Cận vượt thời gian như đã có. Nguyễn Du đại thiên tài lục bát, đã đưa nhịp sáu tám Việt Nam lên tới đỉnh mây trời nhân loại. Nguyễn Du từng ít nhiều ảnh hưởng lục bát ca dao, ảnh hưởng lục bát của Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều để làm ra hàng nghìn câu thiên thu tuyệt diệu riêng mình. Thấm đẫm hồn thơ cha ông, Huy Cận đã hiện đại hóa câu thơ sáu tám Việt Nam. Ông như người kế thừa trung thành của phả hệ lục bát Nguyễn Du rồi phát triển nó về u tịch. Đọc thơ lục bát Huy Cận, cơ hồ như hồn Nguyễn Du phảng phất đâu đây, như thể bút thần xưa được hậu thế cầm lên viết tiếp, như bài Đẹp xưa :

“Ngập ngừng mép núi quanh co

Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang...

Vi vu gió hút nẻo vàng

Một trời thu rộng mấy hàng mây nao

Dừng cương nghỉ ngựa non cao

Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon

Đi rồi khuất ngựa sau non

Nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn tịch liêu

Trơ vơ buồn lọt quán chiều

Mái nghiêng nghiêng gửi buồn theo hút người...”

Câu thơ “Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang” trên của Huy Cận làm ta nhớ đến “Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia” của Tố Như xưa. Huy Cận lấy hồn muôn năm trước mà hiện đại hóa câu thơ lục bát bây giờ, như gió xưa vàng đẫm lá thu nay: ”Vi vu gió hút nẻo vàng“. Ngọn gió Huy Cận mặc áo vàng nghìn thu mà hun hút, mà nghiêng nghiêng mái chữ, mái-hiên-người, cũng là mái thơ: ”Mái nghiêng nghiêng gởi buồn theo hút người”. Cũng như bài Đẹp xưa, bài lục bát Buồn đêm mưa và bài Chiều xưa hay đến từng câu từng chữ. Cái buồn Huy Cận nơi đây đẹp đến rụng rời, đẹp đến ngơ ngác, hoang vu. Viết về nỗi bơ vơ kiếp người, về nỗi buồn bản thể, nỗi buồn xa vắng, mù tăm tưởng không ai bằng Huy Cận: ”...Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la / Tai nương nước giọt mái nhà / Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn (Buồn đêm mưa).Tưởng chừng Huy Cận phải đội trên đầu cả vòm “Trời nặng nặng” mà nghe “Ta buồn buồn”, rồi thơ thẩn đi hết cõi Lửa thiêng, để nghe trọn vẹn trong hư không: ”Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi”, “Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ”. Huy Cận gom mình về thành quách xưa mà cô đơn một thuở với trời đất; tuy ông vẫn để ngỏ các cửa thành cho gió ngàn năm bơ phờ cư ngụ: ”Gió về, lòng rộng không che”. Thổi hiu hiu, thổi u u trong lục bát Huy Cận loài gió hạc vàng, gió tùng bách, gió khói sóng. Những hồn gió liêu trai từng thổi qua Đường thi, Tống thi, thổi qua sao Khuê ở ẩn Nguyễn Trãi, qua vầng trăng xẻ nửa Nguyễn Du mà thành bờ “lau thưa” Huy Cận:

“Buồn veo theo gió bên hồ

Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa

Đồn xa quằn quại bóng cờ

Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về

Ngàn năm sực tỉnh, lê thê

Trên thành son nhạt - Chiều tê cúi đầu...”

(Chiều xưa)

Nhà ẩn sĩ của nỗi buồn xưa để tâm hồn mình trôi qua hai bờ lục bát như bóng cờ kia quằn quại trôi qua đôi bờ trời chiều và “Thành son nhạt”, càng trôi càng sững lại, càng phải vật vã với gió mà níu lấy hồn xưa ngơ ngẩn. Phải chăng tinh thần của Lửa thiêng là tinh thần của lá cờ quá vãng ăn toàn gió xưa mà tồn tại, mà nghi ngút khói mây: ”Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về” ? Huy Cận mang hồn Nguyễn Du đểứ làm nên giọng điệu lục bát rất riêng, rất mới của mình như bài Thu rừng sau đây:

“...Nai cao gót lẫn trong mù

Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về

Sắc trời trôi nhạt dưới khe

Chim đi lá rụng cành nghe lạnh lùng...”

Hai cặp lục bát trên đều đi nhịp đôi khe khẽ, rón rén, thi thoảng, theo kiểu cứ một bước sương lại một bước khói, như trời thu theo nai xuống núi, theo “chim đi” vì không nỡ bay sợ làm động vỡ hồn thu. Huy Cận mượn bút vẽ Tề Bạch Thạch mà vẽ bức thuỷ mặc lục bát Thu rừng có một không hai. Chỉ thấy nai, thấy chim, thấy sắc trời, thấy lá rụng, tuyệt nhiên không thấy người đâu, mà không đâu không ám ảnh hồn người. Cảm giác, ấn tượng của những câu thơ trên mạnh tới nỗi rùng mình, người đọc chợt được hòa tan vào từng câu chữ, khiến bài thơ như chợt vượt ra ngoài trang giấy mà hóa vô biên thu, hóa vô tận rừng, hóa mênh mông hồn thu Huy Cận. Nói đến lục bát Huy Cận, không thể không nhắc tới Ngậm ngùi. Bài Ngậm ngùi tuy không tuyệt bích như các bài Thu rừng, Đẹp xưa, Buồn xưa, Buồn đêm mưa; nhưng nó mang yếu tố mới của thơ tình, trước đó thơ ta chưa có chuyện người đàn ông “hầu quạt” ru người con gái ngủ. Bài thơ mang được phẩm chất sầu mộng của thời đại, được phổ nhạc thành bài hát rất hay, rất quen thuộc nên người ta dễ nhớ hơn những vần lục bát thần diệu trên. Thơ thất ngôn Huy Cận đạt tới tuyệt đỉnh với Tràng Giang, với nỗi buồn hoài cổ tầng tầng lớp lớp sóng, lớp lớp mây tâm trạng, như thể nhà thơ đã kéo dài mạch chảy của những dòng sông thi ca Vương Bột, Thôi Hiệu..., những dòng sông thi ca “Trông vời trời nước mênh mang” Nguyễn Du xưa mà trải hồn mình ra nghìn dặm xưa sau. Huy Cận là nỗi buồn tiếp nối ông cha: “Vạn lý sầu lên núi tiếp mây”, như thể ngàn xưa còn vọng mãi nỗi niềm rơm rớm nắng mưa nay: “Nắng đã xế về bên xứ bạn / Chiều mưa trên bãi nước sông đầy”(Vạn lý tình). Hãy đọc thất ngôn Huy Cận lên để nghe không gian chùng xuống đến tận cùng dây tơ thời gian: “Ôi! nắng vàng sao mà nhớ nhung / Có ai đàn lẻ để tơ chùng ?” (Nhớ hờ ).

Huy Cận với Lửa thiêng còn ở bên trời “đàn lẻ”, là nỗi buồn xưa, hồn xưa lưu lạc tới hôm nay vẻ hiu hắt, ngậm ngùi kiếp người. Ông mang đến cho thi đàn một nỗi buồn đẹp như quê hương, như nước mắt trời xanh. Hình như sự vĩnh cửu từng níu lấy áo Huy Cận mà kéo ông về bất tử thi ca ngay từ thuở vừa ngoài tuổi đôi mươi. Lửa thiêng có lẽ là tập thơ toàn bích nhất trong các tập thơ ra đời từ 1932-1945 trong phong trào Thơ Mới? Cây cổ thụ Huy Cận sẽ còn xanh tươi mãi trong vườn thơ dân tộc như câu thơ ông từng viết trong bài Họa điệu: “Cây không đi mà tình cũng nghiêng nghiêng”.

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Nhà thơ Huy Cận - Tình cảm yêu thương hết lòng với bạn

Nguyễn Xuân Sanh

Nhà thơ lớn, từ thời Thơ Mới đến nay, đã vĩnh biệt chúng ta ra đi, mà chúng ta sâu sắc nhớ thương và lưu luyến. Huy Cận với tôi là bạn với nhau, vô cùng gần gũi, thân tình, đằm thắm tâm tư và đậm nghĩa. Cận quý mến của tôi ơi, bạn ra đi, nhưng còn để lại với cuộc đời này, với sự nghiệp văn hoá, với sự nghiệp văn học đất nước quê hương nhiều kỷ niệm, nhiều chứng tích có bề dày và bề sâu của chúng. Văn học cách mạng và thi ca đất nước còn ghi nhớ mãi tâm hồn và những trang thơ, trang viết của bạn. Thảy đều vì tình cảm cách mạng của quê hương đất nước.

Bạn tạm biệt bạn bè, đồng chí ra đi, trong những ngày đầu xuân còn một tí mưa phùn đương giá buốt, nhưng khi trời đã dần bớt mây giá buốt và đang hẹn với chúng ta trời sắp sửa tan mây mù ướt át. Trời xuân đang chuẩn bị rạng lên, đưa nắng trời tươi đẹp đến cho quê hương ta, cho bạn bè, đồng bào, đồng chí.

Đời sống của quê hương ta, bạn bè gần xa, cũng như mọi việc làm của bạn, mọi tác phẩm của bạn, Cận ơi, đều để lại cho đất nước, cho sự nghiệp chung, cho văn thơ cách mạng và kháng chiến đều đã góp phần để lại cho thế hệ chúng ta và các thế hệ nối tiếp sau đây những chứng tích đẹp đẽ hùng hồn. Tuy như bạn từng tâm sự với tôi, với những người bạn cùng thế hệ, như có rất nhiều lần, chúng ta hằng tâm sự với nhau, cho rằng vô cùng khiêm tốn nhưng cũng là tặng phẩm tươi đẹp những ngày này mà trời đất cho phép Cận để lại cho đời.

Có mặt trên bàn làm việc của tôi khi tôi viết bài tỏ tình bạn đằm thắm với bạn, có vài bức ảnh mà Cận và tôi đã từng chụp ngày chúng ta chỉ mới mười lăm, mười bảy tuổi là học sinh chăm học tập và chăm làm thơ lúc chúng ta cùng với đôi ba bạn đều là học sinh ngoan học tập, ngoan bắt đầu làm thơ ca ở nội trú Trường Quốc học Huế mà chúng ta hết sức thương yêu. Và cũng có một vài quyển sách trước tác của Cận như Tuyển tập Huy Cận ra đời 1995 với lời đề tặng: “Thân tình tặng Xuân Sanh và chị “Cẩm Thanh”. Như quyển Tuyển tập Huy Cận Thơ I: “Thân yêu tặng Nguyễn Xuân Sanh, tình bạn, tình thơ từ những ngày cùng ra Tạp chí văn chương mỗi chiều thứ năm ở Trường Quốc học. Và tặng chị Cẩm Thanh thân mến”. (10-1985).

Rồi sau nhiều tập khác có tập Hồi ký song đôi, những năm đi học, làm thơ, hoạt động cách mạng ra đời 6-2003: “Thân yêu tặng Nguyễn Xuân Sanh, bạn đời và bạn thơ từ thuở Quốc học Huế; thân tặng chị Cẩm Thanh “Quảng Bình quê ta ơi”. v.v...

Tôi xin tạm trích ghi dăm ba lời của Cận về tình bạn và tình thơ của tôi và bạn thân yêu Huy Cận của tôi.

Xin nắm bàn tay Cận và vuốt trán Cận trước khi đằm thắm tạm biệt Cận, tạm biệt Huy Cận.

Hà Nội, 21-2-2005

(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
Nhà thơ Huy Cận - Nhà văn hoá lớn

Mai quốc liên

Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm

Gió trăng ơi! Nay còn nhớ chàng chăng?

Từ hồi trẻ, Huy Cận - như các nhà thơ lãng mạn hay viết về chủ đề cái chết. “Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế…”, và Nhạc sầu là một kiệt tác, khi dịch ra tiếng Pháp, giới thiệu trên Europe, độc giả châu Âu đánh giá rất cao (theo Chế Lan Viên).

Bây giờ thì anh chết thật rồi! Vài ngày trước, thì theo con trai anh và bạn bè ở Hà Nội, vẫn còn hi vọng – Nhưng thế là anh đã ra đi. Và một cây đại thụ nữa của văn chương – văn hoá Việt Nam đã ngã xuống.

*

Con nhà nghèo ở một làng quê sơn cước Hà Tĩnh, Huy Cận thường kể chuyện lúc nhỏ ở làng ông cưỡi trâu, và có lần con trâu lồng lên chạy ra bờ sông, làm ông ngã suýt chết. Được một ông cậu nuôi cho ăn học, rồi vào Huế học tiếp Quốc học và bắt đầu làm thơ từ đấy. Người ta không quên Tựu trường của ông thuở ấy mỗi mùa tựu trường: “Đêm tựu trường mùi cửa sổ mới sơn – Tủ mới đánh và lòng trai thơm ngát”. Ra Hà Nội học tiếp Đại học Canh Nông, và từ thời sinh viên đã tham gia Cách mạng. Lửa thiêng và sau đó Vũ trụ ca… đã đưa Huy Cận lên hàng thi sĩ hàng đầu, có thể nói là số một của Thơ Mới. Nếu kể một người có thể sánh được với Huy Cận trong Thơ Mới thì chỉ có bạn ông – Xuân Diệu. Nhưng tuy là bạn thân, thơ hai người khá khác nhau. Xuân Diệu “y phục tối tân”, “phương xa” (chữ Hoài Thanh) bao nhiêu, thì Huy Cận trầm buồn, suy tư, sâu lắng bấy nhiêu. Tràng giang đã được sửa qua 16 lần bản thảo (ông có sao cho tôi để nghiên cứu), và bản sao ban đầàu khác nhiều với bản hiện nay. Thơ Huy Cận là nỗi buồn muôn thuở của con người, nhưng cũng là nỗi buồn của thế hệ ông, thời mất nước. Mất nước và yêu nước, yêu tha thiết quê hương, tiếng Việt. Cái mênh mang của sông nước trong Tràng giang: “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót – Sông dài, trời rộng bến cô liêu…” có một cái gì rất xưa, rất cổ điển mà vẫn là Thơ Mới. Ngô Tất Tố, Khái Hưng… đều khen bài ấy – theo lời Huy Cận kể – là có giọng Đường, hồn Đường, mà còn hay hơn thơ Đường! Còn “Sắc trời trôi nhạt dưới khe – Chim đi, lá rụng, cành nghe lạnh lùng” theo lời Xuân Diệu, súc tích như một câu thơ Đường.

Năm 1945, trước Tổng khởi nghĩa, Huy Cận dự Quốc dân Đại hội Tân Trào. Ở Đại hội, khi tiếp xúc với Bác Hồ, Bác Hồ hỏi Huy Cận “chú hoạt động gì, ở đâu”, Huy Cận – mà ta nhớ lúc đó còn là thanh niên, chưa vợ, lễ phép thưa: “Thưa Cụ, cháu hoạt động trong phong trào sinh viên, trí thức”. Bác Hồ khen, thì Huy Cận lại thưa: “Thưa Cụ, cháu cùng anh em cũng là noi theo các cụ, các bậc tiền bối mà hoạt động”, thì Cụ Hồ bảo, đại ý là hoạt động cách mạng không phân biệt già, trẻ, trước, sau, tất cả chỉ là vì đất nước. Từ lần gặp ấy, Huy Cận càng thêm phấn chấn và tín nhiệm: ông làm Bộ trưởng Canh Nông trong Chính phủ lâm thời của Cụ Hồ (có lẽ là Bộ trưởng trẻ nhất), rồi được cử vào đoàn đi “tước” ấn kiếm Bảo Đại (trưởng đoàn là Nguyễn Lương Bằng và thành viên là Trần Huy Liệu và Huy Cận) – một câu chuyện lịch sử đã đi vào “huyền thoại”. Huy Cận đứng trên lễ đài đã giơ cao chiếc ấn vàng của vua trước đồng bào dự mít-tinh. Rồi Huy Cận được Bác cử làm Thanh tra đặc biệt, cùng với cụ Bùi Bằng Đoàn, đi kiểm tra các tỉnh, có quyền cách chức ngay nếu có sai phạm. Rồi làm Nội chính, Văn hoá (Thứ trưởng), làm Bộ trưởng đặc trách Văn hoá, Chủ tịch Liên hiệp các hội Văn học – Nghệ thuật… Được các đời Tổng thống Pháp mời làm cố vấn Cộng đồng nói tiếng Pháp (Francophone) và được trọng đãi, tín nhiệm, đến nỗi J. Chirac trong một lá thư gởi cho ông gọi ông là “bậc thầy” (maitre) – trên các diễn đàn quốc tế, ông có công lớn làm sáng giá Việt Nam, sáng giá Bác Hồ – ông có công trong việc UNESCO vinh danh Hồ Chí Minh là danh nhân văn hoá thế giới – “người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn”.

Hàm chức như thế là không thiếu, thậm chí đối với nhà thơ thì “hơi dư”. Dù sao, trước sau ông vẫn trung thành, chung thuỷ với “Nàng Thơ”. Tết này, ông vẫn đăng thơ trên Sài Gòn giải phóng và các báo Tết khác, nhiều người khen thơ ông có tứ mới, và trẻ trung, ông thích lắm. Sau Trời mỗi ngày lại sáng (1958), là tập thơ đánh dấu sự trở lại của hồn thơ Huy Cận với cuộc đời mới, là hàng loạt tập thơ liên tiếp được khơi mạch từ chính dòng đời… Hồn thơ Huy Cận vẫn sâu đằm bắt rễ vào mạch ngầm văn hoá dân tộc, vào “hồn thiêng đất nước”… Các vị La hán chùa Tây Phương: Với tất cả đau thương, bế tắc trong cuộc đời cũ: “Một câu hỏi lớn không lời đáp – Cho đến bây giờ mặt vẫn chau” – Mạch thơ về thợ mỏ, về “anh Tài Lạc” công nhân – liệt sĩ, về vùng mỏ với “Con cá song lấp lánh đuốc đen hồng” đã gợi hứng cho Chế Lan Viên viết câu thơ cũng là “song tuyệt” với câu trên: “Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về”.

Tập thơ được Huy Cận gửi tặng Bác Hồ và Bác đã đáp lại bằng bốn câu “tẩu bút”: “Cám ơn chú tặng Bác tập thơ – Bác đọc liền trong suốt mấy giờ – Bảo bác phê bình, thật khó nhỉ? – Bài hay xen lẫn với bài vừa”. Chắc ít có ai được bác ưu ái đến như thế. Từ hồi còn ở Bắc Bộ phủ – Hà Nội trước chiến tranh, Huy Cận đã được Bác xem như con: Bác cho ngủ trưa chung giường, Bác gửi thư gọi Huy Cận đi công tác về, Bác bảo sao chú đi lâu, Bác mong chú về… Những thư này, bút tích này Huy Cận còn giữ cả, và đem “khoe” khi thân tình.

Huy Cận là một nhà văn hoá lớn. Rất thâm trầm. Hiểu biết rất rộng, đọc rất nhiều. Tích hợp được văn hoá Đông-Tây. Các diễn từ về văn hoá, về tiếng Pháp… được các Viện sĩ Hàn lâm Pháp đánh giá cao, khen ngợi. Đặc biệt yêu thích ca dao, truyện nôm, thơ cổ điển Việt Nam, thơ Đường. Ông kể: Nhờ đọc những truyện nôm bình dân loại vài xu bán trong những hiệu nhỏ ở Hàng Gai, Hàng Bông… mà ông tiếp nhận văn hoá dân tộc và “rèn” hồn thơ Việt của mình. “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”, chữ “đùn” là học được trong câu thơ dịch Thu hứng của Đỗ Phủ: “Mặt đất mây đùn cửa ải xa”. Quả là: “Nằm trong tiếng Việt yêu thương – Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời”, tiếng Việt thấm thía trong từng chữ!

*

Chính vì lòng yêu đó, và uy tín của ông đối với trong nước, đối với thế giới, mà khi thành lập Trung tâm nghiên cứu văn hoá dân tộc cách đây hơn 10 năm, ông và tôi, hai anh em thân thiết và chí cốt việc này, đã lên lên xuống xuống, bàn qua tính lại, mới ra được cái Trung tâm. Ông đặt tên là Quốc học, nói: Người ta ở ngoài nước nói nghiên cứu Việt học, mình ở trong nước gọi là Quốc học. Thế là thành danh. Từ đó đến nay, lúc còn là Chủ tịch Liên hiệp, lúc làm Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm, ông là người phụ trách, người Thủ trưởng, người thầy, người anh thân thiết với chúng tôi. Gần ông, cũng như anh Nguyễn Đình Thi, được ông chỉ giáo, rèn luyện, học thêm nhiều. Gần ông, tôi thấy ông là người trung hậu, giản dị, chân thành, đôi lúc có một chút hồn nhiên của trẻ thơ. Nhưng bao giờ cũng chắc chắn, cẩn trọng, điềm tĩnh. Bao giờ, đối với tôi ông cũng gọi trong thư “Mai Liên thân yêu”, và vào Nam, đi đâu, ông cũng gọi đi kèm. Trời cho ông sức bền, thành đạt, tài năng, nhưng cuộc đời ai cũng vậy, không phải mọi việc đều hạnh phúc… Ông mất đi, trong cảnh thanh bần của một nhà thơ, dù hàm chức và vinh quang không thiếu… Và nghìn năm sau, người ta sẽ còn nhắc, còn đọc thơ “chàng Huy Cận”.

20-02-2005



(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0