<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-01-06 08:39:11phantien>
NGÀY XUÂN : THƠ-RƯỢU NGƯỜI XƯA
Ngày Tết, trong cái hây hẩy của gió xuân, trong cái lây phây của mưa phùn, trong cái thoang thoảng của hương trầm, có cái thú nào hơn là được cùng bè bạn tâm giao thảnh thơi thơ túi rượu bầu như cái thú của người xưa. Ấy là ước mà tôi nói thế.
Thì cứ ngẫm mà xem, Uống rượu với Tản Đà, Trần Huyền Trân chắt chiu biết bao cái tình trong ấy. Thơ hay như thế, rượu ngon như thế, ngồi với nhau bao nhiêu cho đủ :Cụ hâm rượu nữa đi thôi/Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu/ Rồi lên ta uống với nhau / Rót đau lòng ấy vào đau lòng này /…Nguồn đau cứ rót cho nhau/ Lời say sưa mới là câu chân tình. . Rót đau lòng ấy vào đau lòng này, có câu thơ nào đau buốt, thấm thía ruột gan như thế này chưa ? Bạn uống rượu lòng ta không thể chán (Hoàng Trung Thông). Câu thơ thật đẫm nhân tình.
Thời kinh tế thị trường, thấy ai cũng tất tả quanh năm. Làm kinh doanh phải bươn chải đã đành chứ làm các nghề khác cũng không có mấy ai được rỗi rãi. Cuộc sống cứ cuốn người ta vào dòng xoáy. Cái gì cũng vội. Ăn vội, ngủ vội, yêu cũng vội… tất tần tật đều vội. Thú chơi tao nhã thi tửu đành bỏ người ta mà đi hay người ta bỏ nó thì cũng thế. Người ta uống rượu theo một quy trình công nghệ mới, hiện đại, lắm nâng lên đặt xuống, lắm chúc tụng bắt tay nhưng mà cũng lắm xô bồ, ồn ào mà nông nổi. Những câu thơ-rượu rút gan rút ruột như thời xưa đã ít đi nhiều lắm rồi. Những tuý ông thời nay đã thay cái chén hạt mít ngày xưa bằng cốc, bằng chai. Rượu không còn trong bầu, trong nậm nữa mà là can, là hũ, là sông rượu (Sông Hương hoá rượu ta đến uống/ Ta tỉnh đền đài ngả nghiệng say- Nguyễn Trọng Tạo), là bể rượu (Nắng tắt mà người không đến/ Anh ngồi rót biển vào chai- Trịnh Thanh Sơn).
Cũng thơ-rượu, cũng say, nhưng sao thấy nhạt huếch Cả đám uống chiều nay/ Mắt cay mờ khói thuốc/Tê ngắt vị mềm say /Quái lạ cũng mấy tên/Chai lọ đổ lền khên/Đua nhau mà hò hét/Thành tích kể huyên thuyên/Hết khoe khoang nói cười/Rồi than thân trách phận/Tài năng như bọn mình /Trời đày nên lận đận…Cũng rượu, cũng đọc thơ như những người say. Những không, không một ai say cả. Những cuộc rượu ồn ào đó nhiều người tỉnh. Người ta uống rượu không có triết lý và làm hỏng thơ.
Cái đạo uống rượu thời xưa thật thanh cao hơn rất nhiều so với bây giờ.
Thơ-rượu người xưa là câu chuyện nói mãi không hết, kể mãi không cùng. Nói cái thú thơ-rượu của người xưa thực chất là nói đến một cách ứng xử với cuộc đời, một thứ triết lý sống ở đời để chống lại cái cô đơn vạn kiếp của con người trước cái vô cùng của vũ trụ, cái vô tận của thời gian. Ai người trước đã qua/ ai người sau chưa tới/ ngẫm trời đất vô cùng/ một mình rơi giọt lệ. Câu thơ của Trần Tử Ngang hơn ngàn năm trước vẫn còn làm thổn thức bao nhiêu thế hệ cũng vì lẽ đó.
Nói đến thú vui thơ rượu người xưa, hẳn không thể không nhắc đến Thi Tiên Lý Bạch và Thi Thánh Đỗ Phủ đời Đường bên Trung Quốc. Bài thơ Ngày xuân uống rượu một mình ( Xuân nhật độc chước) là nỗi cô đơn được Lý Bạch cất lên ai oán : Ngô sinh độc vô y/ Ðối thử thạch thượng nguyệt/ Trường ca túy phương phi.( Thân ta riêng chịu cái đời lẻ loi/ngắm trăng trên đá bồi hồi/ Uống rồi say tít, hát bài phương phi). Cũng có khi ông vung gươm chém nước, cất chén tiêu sầu, nhưng : Trừu đao đoạn thủy, thủy cánh lưu/Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu. (Rút gươm chém nước, nước vẫn trôi/ Nâng chén tiêu sầu, sầu càng sầu.) Thế là, rượu đã chẳng tiêu được sầu, ngược lại sau cơn cuồng nhiệt nỗi buồn càng thêm ray rứt, khó quên.
Với Lý Bạch Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch../Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh" (Thánh hiền bặt tiếng xưa nay / Chỉ dân uống rượu mới hoài lưu danh !) còn Đỗ Phủ ngày nào chẳng say khướt mà nợ rượu đâu cũng có chỉ là chuyện tầm thường ( Mỗi nhật giang đầu tận tuý quy/ Tửu trái tầm thường hành xứ hữu) bởi ông quan niệm : người sống bảy mươi xưa nay hiếm (Nhân sinh thất thập cổ lai hy).
Ai đã đọc Tam quốc, làm sao quên được đoạn kể chuyện Tào Tháo uống rượu luận anh hùng cùng Lưu Bị, ai đã xem phim Tam quốc, quên làm sao cảnh Tào Tháo đứng trên mũi thuyền đọc Đoản ca hành mà lòng bao cảm khải : Đối tửu đương ca,/Nhân sinh kỷ hà: /Thí như triêu lộ, /Khứ nhật khổ đa (Trước ly rượu ta nên ca hát /Một đời người thấm thoát là bao ?/ Khác chi mấy hạt sương mai, /Ngày qua sầu tủi hỏi ai không buồn ? )
Người xưa uống rượu, làm thơ là để tỏ chí, tỏ lòng. Nói uống rượu là nói cái cô đơn. Khi Nguyễn Du Đối tửu là khi ông ước Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý, (Ước được trăm năm say khướt mãi). Ước vậy là vì cô đơn, đời không ai hiểu ông Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ ( Ta có tấc lòng không nói được) đành gửi gắm lòng mình tới tận ba trăm năm sau : Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như (Không biết sau ba trăm năm lẻ/ Thiên hạ ai người khóc Tố Như). Cũng vậy, khi Bà Chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương nói : Bầu dốc giang sơn say chấp rượu/ Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ hay Chén rượu hương đưa say lại tỉnh thì cũng là nói cái cô đơn vô cùng trơ cái hồng nhan với nước non đó mà thôi. Biết bao thấm thía cô đơn trong Thu ẩm : Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy/ Độ dăm ba chén đã say nhè , lại có khi cô đơn quá mà Rượu ngon không có bạn hiền/ không mua không phải không tiền không mua như cụ Tam Nguyên Yên Đổ.
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu cũng thế. Sống giữa cõi trần ồn ào mà cô đơn quá. Không thể nhờ chú Cuội chị Hằng nhắc lên cung trăng được ông cũng chỉ biết vùi đầu vào rượu : Trời đất sinh ra rượu với thơ/ Không thơ không rượu sống như thừa / Công danh hai chữ mùi men nhạt /Sự nghiệp trăm năm nét mực mờ ( Ngày Xuân thơ rượu) Nhưng rồi, cô đơn vẫn hoàn cô đơn, ông uống rượu để quên là mình có ở trên đời : Rượu thơ mình lại với mình,/ Khi say quên cả tấm hình phù du.
Sau này, trong phong trào Thơ Mới, trong cái não nùng cô đơn bất lực của cả một thế hệ nhà thơ chạy trốn cuộc đời, Say đi em của Vũ Hoàng Chương cùng những vần thơ say của ông nghe thật thảm thiết : Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta ! /…Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men… / Ta quá say rồi
Sắc ngả màu trôi /Gian phòng không đứng vững /Chân rã rời …/Gối mỏi gần rơi /Trong men cháy, giác quan vừa bén lửa /Say không còn biết chi đời /Nhưng em ơi, /Đất trời nghiêng ngửa /Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ; /Đất trời nghiêng ngửa /Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!. Tưởng uống rượu để tiêu sầu, giải thoát cô đơn. Vậy mà càng uống càng cô đơn. Không thảm thiết làm sao được.
. Những tuý ông thời nay đã thay cái chén hạt mít ngày xưa bằng cốc, bằng chai. Rượu không còn trong bầu, trong nậm nữa mà là can, là hũ, là sông rượu (Sông Hương hoá rượu ta đến uống/ Ta tỉnh đền đài ngả nghiệng say- Nguyễn Trọng Tạo), là bể rượu (Nắng tắt mà người không đến/ Anh ngồi rót biển vào chai- Trịnh Thanh Sơn).
Cũng thơ-rượu, cũng say, nhưng sao thấy nhạt huếch Cả đám uống chiều nay/ Mắt cay mờ khói thuốc/Tê ngắt vị mềm say /Quái lạ cũng mấy tên/Chai lọ đổ lền khên/Đua nhau mà hò hét/Thành tích kể huyên thuyên/Hết khoe khoang nói cười/Rồi than thân trách phận/Tài năng như bọn mình /Trời đày nên lận đận…Cũng rượu, cũng đọc thơ như những người say. Những không, không một ai say cả. Những cuộc rượu ồn ào đó nhiều người tỉnh. Người ta uống rượu không có triết lý và làm hỏng thơ.
Thời nay, những câu thơ-rượu rút gan rút ruột như thời xưa đã ít đi nhiều lắm Những tuý ông thời nay đã thay cái chén hạt mít ngày xưa bằng cốc, bằng chai. Rượu không còn trong bầu, trong nậm nữa mà là can, là hũ, là sông rượu, bể rượu. Không còn nữa Bạn uống rượu lòng ta không thể chán (Hoàng Trung Thông), không còn nữa Nguồn đau cứ rót cho nha u/ Lời say sưa mới là câu chân tình.(Trần Huyền Trân).
Trở lại nỗi niềm đầu bài viết. Vẫn ước mơ nho nhỏ ấy thôi nhưng sao quá khó thực hiện. Chuyện thơ-rượu ngày xưa nói bao giờ cạn. Chỉ sợ lòng mình cạn mà thôi. Vẫn biết cái cô đơn thật đáng sợ. Nhưng cũng nhờ có cô đơn mà thêm hiểu kiếp người, thêm hiểu cuộc đời.
Mùa Xuân, xin mượn một câu đối được ghép từ Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu của Vương Duy và câu Dữ nhi đồng tiêu vạn cổ sầu của Lý Bạch để chúc mọi người có một mùa xuân hạnh phúc đề huề thơ-rượu. (Câu trên nghĩa là : Khuyên anh hãy cùng uống cạn thêm chén nữa. Cùng nhau chúng ta quên đi mồi sầu vạn cổ.)
Ngày Tiểu hàn năm Mậu Tý
Phan Bá Tiến