Diễn Đàn » Khoa Học Phổ Thông

Kiến thức phổ thông

4 trả lời, 2.140 lượt xem — Trang 1 / 1
LỊCH SỬ TIỀN TỆ
 

 
Những đồng tiền đầu tiên xuất hiện ở Trung Hoa và ở vương quốc Lydia (nay là Thổ Nhĩ Kỳ) từ thế kỉ VII trước Công nguyên. Khoảng 500 năm trước Công nguyên vua Ba Tư tiến hành một cuộc cách mạng kinh tế - dùng tiền xu thay cho phương thức hàng đổi hàng trước đó.
Tiền giấy xuất hiện ở Trung Hoa từ thế kỷ VIII (sau CN). Tiền giấy là thứ rất ấn tượng đối với người nước ngoài đến Trung hoa thời đó. Marco Polo viết rằng tiền giấy là điều mơ ước của các nhà giả kim.
 

 
- Năm 640 trước Công nguyên ở Lydia lần đầu tiên có những đồng tiền theo ý nghĩa như ngày nay. Đó là những đồng tiền có hình tròn được đúc từ vàng, bạc.
- Năm 1440 Johann Gutenberg sáng chế ra máy in. Lúc đầu chỉ dùng in sách nhưng sau đó được dùng in cả tiền vì chi phí rẻ và nhanh.
Năm 1649 các ngân hàng của Anh, Pháp, Hà Lan bắt đầu phát hành những tấm séc theo cách sử dụng như ngày nay.
- Năm 1661 ngân hàng Quốc gia đầu tiên trên thế giới được thành lập – Ngân hàng Thụy Điển. Ý tưởng thành lập một ngân hàng Trung ương để kiểm soát tất cả hoạt động tài chính trong nước và chịu trách nhiệm về giá trị của đồng nội tệ là một cuộc cách mạng nhưng nó được phát triển một cách chậm chạp và thận trọng ở các quốc gia khác nhau trên thế giới. Thí dụ ở Pháp – ngân hàng Quốc gia chỉ xuất hiện cách đó 140 năm. Ngân hàng Nhà nước của Đế chế Nga được thành lập năm 1860, còn ở Mỹ - Federal Reserve System (thực hiện các chức năng của ngân hàng Quốc gia) chỉ được thành lập vào năm 1913. Trước đó, nhiều ngân hàng Mỹ tự in tiền đô la theo kích thước và cách trình bày khác với nhau.
- Năm 1705 xuất bản cuốn sách đầu tiên về l‎í thuyết tiền tệ: “Tiền và mậu dịch. Đề xuất về việc đảm bảo tiền cho dân chúng” (Money and Trade Considered: With a Proposal for Supplying the Nation with Money) của John Law, người Scottland.
- Năm 1824 lần đầu tiên trên thế giới hệ thống thanh toán chuyển khoản (Clearing) và dịch vụ ngân hàng được thành lập ở Mỹ.
Năm 1837 máy điện báo in chữ ra đời dẫn đến một cuộc cách mạng trong lĩnh vực tài chính. Đến cuối thế kỉ XIX điện báo trở thành phương tiện giao dịch tài chính. Đầu thế kỉ XX khoảng 80% giao dịch của ngân hàng trên thế giới được thực hiện qua điện báo. Năm 1914 ở Anh có khoảng 800.000 máy điện báo, ở Đức – khoảng 1.400.000, ở Mỹ có 10 triệu chiếc. Tuy nhiên, Federal Reserve System chỉ sử dụng máy điện báo từ năm 1918. Nguyên nhân là do người ta chưa tin tưởng công nghệ mới này.
- Năm 1937 hình mẫu máy tính đầu tiên được thiết kế ở Đại học Iowa. Năm 1946 chiếc máy tính đầu tiên có tên ENIAC (Electronic Numerical Integrator and Calculator) được chế tạo tại Đại học Pennsylvania. Chiếc máy tính này nặng 30 tấn và có thể thực hiện 5.000 phép tính trong 1 giây theo đơn đặt hàng của quân đội Mỹ để dùng cho pháo binh. Một trong số các nhà chế tạo đã nói một câu đi vào lịch sử: “Trong tương lai chúng ta sẽ tìm ra cầu để bán được 5 chiếc như vậy”. Những thập kỉ đầu của lịch sử máy tính không ai nghĩ rằng sẽ dùng nó để thực hiện các giao dịch tài chính vì người ta chưa tin tưởng máy tính trong việc xử lí những số liệu có giá trị như vậy.


 
- Năm 1944 một hội nghị quốc tế được tổ chức ở Bretton Woods, Mỹ. Giá trị đồng đô la được gắn với giá trị của vàng. Thương mại thế giới trao đổi bằng đồng đô la Mỹ. Năm này được coi như sự bắt đầu của quá trính toàn cầu hóa. Cũng tại hội nghị này, các quyết định thành lập Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và việc phát triển tự do thương mại được đưa ra. Nguyên tắc làm ăn mới đòi hỏi những cách thức mới về sử dụng tiền tệ.
- Năm 1950 xuất hiện thẻ thanh toán đầu tiên – Diners Club. Thẻ này dùng để thanh toán tiền ăn sáng, trưa, tối trong các nhà hàng. Hai năm sau, Franklin National Bank phát hành thẻ tín dụng đầu tiên.
- Năm 1969 mạng máy tính đầu tiên được thiết lập. Đó là mạng ARPANET (Advanced Research and Projects Agency) của Bộ Quốc phòng Mỹ.
Năm 1970 hãng Intel chế tạo bộ vi xử lí đầu tiên, mở đầu cho một cuộc cách mạng công nghệ mà kết quả là máy tính cá nhân.
- Năm 1971 giá trị của đồng đô la gắn với giá trị của vàng được bãi bỏ. Những thỏa thuận Bretton Woods hết hiệu lực.
- Năm 1972 máy tính được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực tài chính.
- Năm 1972 – 239 ngân hàng của 15 nước thành lập Hội viễn thông tài chính liên ngân hàng (Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication – SWIFT). Hệ thống SWIFT thay cho hệ thống điện báo quốc tế. Năm 2002 có hơn 76.000 tổ chức ở 198 quốc gia sử dụng hệ thống này.


 
- Năm 1977 những máy tính Apple II được bán rộng rãi. Năm 1975 cả thế giới có 50 ngàn máy tính, năm 1988 – hơn 140 triệu, năm 2002 – hơn 800 triệu.
- Năm 1991 phòng thí nghiệm Vật lí châu Âu CERN thành lập IP – www-world wide web. Đầu tiên nó dùng để trao đổi thông tin giữa các nhà vật lí học. Năm 1992 các ngân hàng bắt đầu quan tâm đến Internet. Theo tính toán, giao dịch ngân hàng thực hiện qua Internet đến 90% rẻ hơn giao dịch thường.
- Năm 1993 – phát minh tiền số DigCash. Sau đó, theo công nghệ này thẻ Smart Card gắn chip điện tử ra đời. Trên thẻ này có ghi thông tin số tiền trong tài khoản. Chủ thẻ mua hàng hóa bằng thẻ như tiền mặt, khi hết, hoặc là nộp tiếp vào tài khoản, hoặc vứt thẻ. Dịp Olympic Atlanta người ta bán hơn 300.000 thẻ Smart Card. Loại thẻ này được bảo vệ bằng mật mã cá nhân. Còn hiện nay đã có công nghệ cho phép cá nhân hóa “tiền số” ở mức độ cao hơn, thí dụ như in ảnh, dấu vân tay của chủ thẻ vv…
- Năm 1995 là năm đột phá. Tiền số chiến thắng tiền giấy một cách thuyết phục. Trong năm này 90% thanh toán của tất cả ngân hàng ở Mỹ được thực hiện bằng hình thức điện tử. Theo thống kê của National Automated Clearing House Association, có 533 nghìn tỉ đô la giao dịch bằng điện tử, 73 nghìn tỉ giao dịch bằng séc và chỉ 2,2 nghìn tỉ giao dịch bằng tiền mặt.
- Năm 1998 hệ thống PayPal được thiết lập ở Mỹ. Hệ thống này cho phép người sử dụng máy tính gửi tiền cho nhau qua thư điện tử. Ở châu Âu hệ thống PhonePaid cho phép giao dịch từ điện thoại di động. Cuối thập niên 1990 một loạt hệ thống “tiền internet” ra đời: Clickshare, The Internet Dollar, Internet Cash, NetCheque vv…


 
- Năm 2002 các quốc gia châu Âu dùng đồng tiền chung – Euro. Thanh toán bằng chuyển khoản được thực hiện từ năm 1999.
- Năm 2003 nhà kinh tế Robert Mundell (giải Nobel Kinh tế năm 1999) dự đoán rằng đến năm 2040 có thể cả thế giới sẽ dùng đồng tiền chung. Cơ sở của đồng tiền này là dollar, euro và yen. Mundell đưa ra giả thiết về tên gọi của đồng tiền này là “dey” hoặc “intor”.


 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Vì sao lại QWERTY?
 

 
QWERTY (phiên âm tiếng Việt nghe như “cu-của-tý” – là kiểu trình bày bàn phím phổ biến nhất trên các bàn phím máy tính và máy đánh chữ tiếng Anh. QWERTY là sáu ký tự đầu tiên trên hàng phím đầu tiên của bàn phím.

Nhưng tại vì sao lại theo trật tự này?
Những máy đánh chữ đầu tiên có 8 – 10 dãy phím gõ. Một khi người ta chưa nghĩ ra phím “Shift” thì số dấu mổ nhiều gấp đôi số chữ cái: một nửa dùng để gõ chữ viết thường, một nửa – chữ viết hoa.
Nhà phát minh người Mỹ Christopher Sholes chế tạo ra chiếc máy đánh chữ đầu tiên, được sản xuất hàng loạt vào năm 1873, gặp phải một vấn đề sau đây: nếu sắp xếp các phím mổ theo trật tự ABC thì khi gõ nhanh những thanh nối với các phím mổ bị vướng vào nhau. Người đánh máy phải dùng tay gỡ các thanh nối ra. Một người bạn của Sholes, James Densmore đề nghị tách các phím mổ những chữ cái thông dụng ra bốn phía.
Bàn phím QWERTY được sử dụng từ ngày đó cho đến bây giờ. Hiệu quả của việc sắp xếp này vẫn còn là vấn đề tranh cãi. Ý nghĩa của nó là để cho các thanh gõ không bị vướng vào nhau. Nhưng có điều kỳ lạ là ở cái thời mà những người đánh máy giỏi nhất cũng chỉ gõ bằng hai ngón, không ai có thể tin rằng sau này người ta có thể gõ bằng 10 ngón và thậm chí không cần nhìn vào bàn phím.
Từ những ngày đầu tiên Sholes đã hiểu rằng khách hàng có thể sẽ không tin vào cách sắp xếp bàn phím như vậy nên ông đã thuyết phục họ rằng sự sắp xếp này là “theo lời khuyên của các nhà bác học”. Sholes khẳng định rằng với bàn phím QWERTY, các ngón tay cần di chuyển ít nhất. Trên thực tế thì ngược lại: khi đánh những chữ cái thông dụng, các ngón tay cần chạy hết từ góc này sang góc khác. Đa số các cô đánh máy chuyên nghiệp vẫn tin tưởng ở những lời của Sholes.
Một thực tế nữa là có nhiều từ tiếng Anh chỉ gõ ở bên tay trái, trong khi có rất ít từ được gõ ở bên tay phải. Nhưng điều này lại tiện cho những người thường dùng tay phải để di chuột trong khi tay trái gõ bàn phím.


 
Với sự xuất hiện của máy chữ điện tử thì vấn nạn kẹt đã không còn. Nhiều nhà khoa học đưa ra những bàn phím hiệu quả hơn – các chữ cái thông dụng được bố trí ở giữa bàn phím. Đáng kể nhất trong số này là bàn phím Dvorak do August Dvorak và William Dealey thiết kế và được cấp bằng sáng chế năm 1936. Sách Kỷ lục Guiness đã xác nhận kỷ lục đánh máy của cô thư ký Barbara Blackburn. Sử dụng bàn phím Dvorak, năm 1985 Barbara Blackburn đánh máy với tốc độ 150 từ/ phút, trong vòng 50 phút tốc độ này đạt đến 170 từ và trong một số quãng thời gian ngắn đến 212 từ/ phút.

Nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học chỉ ra rằng bàn phím QWERTY ít hiệu quả hơn các bàn phím khác. Những cuộc tranh cãi kiểu này vẫn chưa có hồi kết và chỉ có thời gian có thể xác định ai thắng ai trong vấn đề này. Dù sao thì cho đến ngày hôm nay cả thế giới vẫn sử dụng bàn phím QWERTY.


Đăng nhập để trả lời
0
Những Cách đặt Tên Cho Công Ty
 

 
- Người sáng lập đặt tên cho công ty của mình cũng như cha mẹ đặt tên cho con cái vậy. Đó là những gửi gắm, những ước mong thầm kín được đặt vào cái tên. Nhưng cũng có nhiều trường hợp người sáng lập chỉ việc lấy tên của mình đặt cho tên công ty. Lại có nhiều trường hợp rất ngẫu nhiên, thậm chí nhầm lẫn, kể cả nửa đường đứt gánh... Nhưng có lẽ Đức Chúa Trời chỉ xét theo sự chân thành, theo cái tâm của người đặt nên công ty của họ ngày càng phát triển, sản xuất và buôn bán ngày một phát tài. Xem cách đặt tên của các công ty lớn trên thế giới ta sẽ thấy một điều là công ty của họ đã lớn từ việc lựa chọn cái tên.
- Dưới đây là tên các công ty lớn trên thế giới được giải mã theo những giả thiết đáng tin cậy nhất và đã trở nên phổ biến. Tên các công ty xếp theo trật tự ABC.

Adobe – tên công ty này lấy từ Adobe Creek, là tên con sông gần nhà của người sáng lập John Warnock.
Adidas – là tên của người sáng lập công ty Ali Dassler. Ông chủ công ty không muốn dùng đầy đủ tên của mình. Tên ông là Adolf.
Apple – là thứ quả yêu thích của người sáng lập công ty Steve Jobs (nó là trái cấm vườn địa đàng). Suốt ba tháng trời đi tìm một tên gọi mà chưa được, một hôm Steve Jobs đưa ra cho đồng sự tối hậu thư: “Tôi sẽ gọi công ty Apple, nếu 5 giờ sáng mai các anh không có đề nghị nào hay hơn”. Apples Macintosh – tên một loại táo có khắp thị trường nước Mỹ từ ngày đấy.
Canon – dựa theo Kwanon, nghĩa là Phật Quan âm (tiếng Anh: Buddhistic Goddess of Mercy), nhưng để tránh sự phản đối của các tổ chức tôn giáo, được viết thành Canon.
Casio – được đặt theo tên người sáng lập Kashio Tadao.
Cisco – viết tắt từ San Francisco.
Compaq – com và paq (một chi tiết kết nối).
Corel – dựa theo tên người sáng lập công ty, Michael Cowpland. Giải mã từ: COwpland REsearch Laboratory (Phòng thí nghiệm khảo cứu của ông Cowpland).
Daewoo – nhà sáng lập công ty Kim Wo Chong gọi tên công ty của mình rất khiêm tốn: “Đại Hoàn vũ”. Tiếng Việt nghe như Đê-U-u…
Fuji – núi Phú Sĩ, ngọn núi cao nhất nước Nhật.
Google – tên này từ Googol, có nghĩa là số 1 với 100 số không. Từ “A Google” được ghi trong tấm ngân phiếu của người sáng lập đầu tiên gửi các đồng sự của mình. Thế rồi tất cả nhất trí gọi hệ thống tìm kiếm như vậy.
HP (Hewlett-Packard) – cả hai nhà sáng lập công ty Bill Hewlett và Dave Packard đã quyết định tung đồng xu để xác định tên ai đứng trước. Và như chúng ta đã biết, Bill may mắn hơn.
Hitachi – tiếng Nhật nghĩa là “Mặt trời mọc”.
Honda – được đặt theo tên người sáng lập Soichiro Honda.
Honeywell – được đặt theo tên người sáng lập Mark Honeywell.
Hotmail - Jack Smith và Sabeer Bhatia quyết định chọn từ này vì trong nó có cả các chữ HTML (ngôn ngữ của trang web).
Hyundai – tiếng Hàn nghĩa là “Đương thời”.
IBM – International Business Machines.
Intel – Bob Noyce và Gordon Moore muốn đặt tên công ty là Moore Noyce nhưng lúc đó đã có mạng lưới cửa hàng tồn tại. Bởi vậy, cả hai người quyết định dừng lại ở chữ viết tắt của INTegrated Electronics.
Kawasaki – được đặt theo tên người sáng lập Shozo Kawasaki.
Kodak – k là chữ cái yêu thích nhất của George Eastman, người sáng lập công ty này. Ông ta đi tìm một từ mà bắt đầu và kết thúc bằng k. Mặt khác, chữ k trong bảng an-pha-bê của tất cả các ngôn ngữ (trừ các ngôn ngữ tượng hình) đều viết giống nhau. Và một điều nữa, khi ta chụp ảnh thì tiếng máy ảnh nghe như: cô-ô-đắc (Kodak).
Konica – trước đây có tên là Konishiroku Kogaku.
LG – là hai chữ cái đầu của các brand-name: Lucky và Goldstar.
Lotus – người sáng lập công ty này Mitch Kapor tập thiền. Từ đó công ty lấy tên theo một kiểu ngồi thiền.
Microsoft — MICROcomputer SOFTware. Đầu tiên viết Micro-Soft. Sau đó người ta bỏ đi dấu gạch ngang.
Mitsubishi – do người sáng lập, ông Yataro Iwasaki nghĩ ra năm 1870. Từ này theo tiếng Nhật có nghĩa là “Ba viên kim cương”.
Motorola – người sáng lập, ông Paul Galvin nghĩ ra tên này khi công ty của ông bắt đầu sản xuất đài (radio) cho xe ô tô. Các công ty cung cấp phụ tùng thời đó đều có tên kết thúc bằng chữ “ola”.
Nabisco – đầu tiên là The NAtional BISCuit Company, từ năm 1971 đổi thành Nabisco.
Nikon – đầu tiên là Nippon Kogaku, nghĩa là “quang học Nhật Bản”.
Nintendo – bao gồm ba từ Nhật Nin-ten-do, có nghĩa là “trời xanh cảm tạ công việc nặng nề”.
Nissan – trước kia có tên là Nichon Sangio, nghĩa là “công nghiệp Nhật Bản”.
Nokia – đầu tiên là một nhà máy chế biến đồ gỗ, sau đó sản xuất cả những sản phẩm từ cao su ở thành phố Nokia, Phần Lan.
Novell – do vợ của George Canova, người đồng sáng lập công ty nghĩ ra. Cô này đã nhầm lẫn khi nghĩ rằng “Novell”, tiếng Pháp nghĩa là “mới”.
Oracle – những nhà sáng lập, Larry Ellison và Bob Oats thực hiện một dự án cho CIA, mật mã của dự án này là Oracle. Sau đó dự án bị hủy nhưng cái tên thì vẫn còn lại.
Sanyo – tiếng Hán nghĩa là “ba đại dương”.
SAP – “Systems, Applications, Productss in Data Processing”, do 4 người trước đây làm cho hãng IBM thành lập. Cả bốn người cùng làm ở nhóm Systems/Applications/Projects.
SCO – xuất phát từ: Santa Cruz Operation.
Siemens – do Werner von Siemens thành lập năm 1847.
Sony – từ tiếng Latin “Sonus”(âm thanh), còn sonny nghĩa là cô bé (tiếng lóng).
Subaru – là tên một chòm sao.
SUN – là công ty phần mềm do 4 cựu sinh viên Đại học Stanford sáng lập. SUN là viết tắt của Stanford University Network.
Suzuki – được đặt theo tên người sáng lập Michio Suzuki.
TDK – Tokyo Denki Kogaku.
Toshiba – là tên ghép của hai công ty hợp nhất Tokyo Denki (Tokyo Electric Co) và Shibaura Seisaku-sho (Shibaura Engineering Works).
Toyota – được đặt theo tên người sáng lập Sakichi Toyoda. Sau đó đổi sang Toyota cho dễ nghe hơn. Toyota bằng tiếng Nhật gồm 8 chữ cái (số 8 là con số may mắn của người Nhật).
URSA – là công ty Sao Đại Hùng (URSA – MAJOR là chòm sao Đại Hùng bằng tiếng Anh). Một cách gọi khác: United Recources of Sea Association. Công ty 100% vốn nước ngoài này đặt ở Cam Lâm, Khánh Hòa.
Xerox – tiếng Hy Lạp: xer – nghĩa là khô. Nhà phát minh Chester Carlson muốn lấy tên là “khô” bởi vì vấn nạn của máy photocopy thời đó là “ướt”.
Yahoo – từ này do nhà văn Jonathan Swift nghĩ ra trong cuốn Những cuộc phiêu du của Gulliver (Gulliver's Travels). Những nhà sáng lập công ty, Jerry Yang và David Filo chọn tên này vì họ tự coi mình là những Yahoo. Tuy nhiên, hiện nay có xu hướng giải mã tên này là: Yet Another Hierarchical Officious Oracle (nghe có vẻ như: “Thêm một hệ thống tìm kiếm xây dựng theo nguyên tắc thứ bậc").
3D - Minnesota Mining and Manufacturing Company.


 
- Các công ty lớn của Việt Nam chưa được đưa vào danh sách này vì chưa có thông tin đáng tin cậy. Có thể do người Việt Nam chúng ta chưa có thói quen làm việc này. Mà cũng có thể là các đại gia của Việt Nam chưa ổn định vị trí một cách tương đối (trừ những đại gia được nhà nước đỡ đầu). Cũng có thể do những lý do khác nữa. Chúng ta sống trên đất Việt Nam, hàng ngày trực tiếp hoặc gián tiếp có sự tiếp xúc với các công ty lớn nhưng đôi khi chúng ta không biết xuất xứ tên gọi của chúng ngoài những thông tin truyền miệng hoặc quảng cáo, kiểu như:
- Hòa Phát – ông chủ công ty chọn tên này với mong muốn cho việc làm ăn buôn bán của công ty cùng lắm là “Hòa”, còn lại thì chỉ có “Phát”!!!
- STC - công ty sách và thiết bị trường học thường được đọc là sờ - ti - cô. Một giả thiết khác: Sáng Tác company của FPT, gắn liền với văn hóa sờ-ti-cô của "sách đỏ FPT" làm xôn xao dư luận một thời.
- Nói chung, danh sách các công ty lớn của Việt Nam (và thế giới) sẽ còn tiếp tục được bổ sung. Mong được quí bạn đọc cùng góp sức.

NGUYỄN VIẾT THẮNG biên soạn.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-11-26 06:36:27lyenson>
NHỮNG NHẬN ĐỊNH NHẦM LẪN TRONG QUÁ KHỨ

Chúng ta biết rằng có những lời tiên tri sau hàng ngàn năm mới chứng minh được. Thiên tài Leonardo da Vinci từng thiết kế bản vẽ của máy bay, tàu thủy trước khi chúng ra đời hàng trăm năm. Có những nhà văn tưởng tượng ra những điều mà không biết đến bao giờ chúng mới trở thành hiện thực. Lại có những nhận định mà chỉ mới sau mấy năm đã tỏ ra sai lầm. Có một lĩnh vực phát triển với tốc độ chóng mặt mà ngay cả những người trong cuộc cũng không ngờ đến – đó là lĩnh vực điện tử và tin học. Những nhầm lẫn đáng kể nhất thuộc về lĩnh vực này.
- Trong tương lai, máy tính sẽ nặng không quá một tấn rưỡi. (Popular Mechanics, 1949).



- Tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ tìm ra cầu để bán được 5 máy tính. (Thomas Watson – giám đốc hãng IBM, năm 1943).
- Tôi đã đi khắp đất nước này, đã trò chuyện với những người thông minh nhất và xin cam đoan với quí vị rằng xử l‎í dữ liệu là trò nhố nhăng mà sau một năm sẽ hết mốt. (Biên tập viên nhà xuất bản Prentice Hall, năm 1957).
- Liệu có ích lợi gì trong cái này? (Vấn đề tranh luận về việc chế tạo Microchip ở Advanced Computing Systems Division of IBM, năm 1968).
- Không ai cần máy tính trong nhà mình, chẳng để làm gì. (Ken Olson – người sáng lập và là chủ tịch tập đoàn Digital Equipment Corp., năm 1977).
- 640 kb là quá đủ cho mỗi người. (Bill Gates, năm 1981).
- 100 triệu đô la là giá quá cao cho Microsoft. (IBM, năm 1982).
- Một thiết bị như máy điện thoại có quá nhiều nhược điểm để có thể coi nó là phương tiện liên lạc. (Lời phát biểu trong cuộc họp ở công ty Western Union в 1876).
- Cái thùng biết hát không dây này không thể có một giá trị thương mại nào. Ai sẽ trả tiền cho việc gửi thông tin đến một cá nhân nào đấy? (Các bạn hàng của Hội David Sarnoff trả lời đề nghị đầu tư vào dự án thành lập đài phát thanh, năm 1920).
- Ý tưởng rất hay, trình bày rất tuyệt. Nhưng để í tưởng trở thành hiện thực, nó cần có lẽ phải. (Tập thể giáo sư Đại học Yale trả lời đề nghị của Fred Smith về tổ chức dịch vụ giao tận nhà. Fred Smith trở thành người sáng lập hãng chuyển phát nhanh Federal Express Corp.)




- Thôi đi các ngài ạ, có ai lại thèm quan tâm đến những lời thoại của các diễn viên? (Phản ứng của H.M. Warner - Warner Brothers về việc lồng tiếng vào phim, năm 1927).
- Chúng tôi không thích âm thanh của họ và, nói chung, ghi-ta là ngày hôm qua. (Decca Recording Co., từ chối ghi âm Album của nhóm Beatles, năm 1962).
- Máy bay, với trọng lượng nặng hơn không khí là điều không thể! (Lord Kelvin – Chủ tịch Hội Hoàng gia – Royal Society, năm 1895).
- Giáo sư Goddard không hiểu quan hệ giữa hành động và phản ứng, ông không biết rằng cần những điều kiện phù hợp hơn chân không cho phản ứng. Có vẻ như giáo sư rất thiếu những kiến thức cơ bản được dạy ở nhà trường. (Bài xã luận của báo New York Times về đề tài chế tạo tên lửa của giáo sư Robert H. Goddard, năm 1921).
- Khoan đất để tìm dầu? Anh nói rằng đi khoan đất để mà tìm dầu? Anh có điên không. (Trả lời dự án của Edwid Drak, năm 1859).
- Máy bay là thứ đồ chơi hay nhưng không có giá trị gì về mặt quân sự. (Marechal Ferdinand Foch, giáo sư Ecole Superieure de Guerre).



- Tất cả những gì có thể sáng chế thì người ta đã sáng chế rồi. (Charles H. Duell, cơ quan cấp bằng sáng chế của Mỹ, năm 1899).
- L‎í thuyết của Louis Pasteur về vi sinh vật là sự tưởng tượng hài hước. (Pierre Pache – giáo sư tâm lí‎ học Đại học Toulouse, năm 1872).
- Bụng, ngực và não mãi mãi đóng cửa đối với sự can thiệp của các nhà phẫu thuật khôn ngoan và nhân đạo. (Sir John Eric Ericksen – bác sĩ phẫu thuật trưởng của hoàng hậu Victoria, năm 1873).
Đăng nhập để trả lời
0
Những thảm họa trong lịch sử loài người thì có vô vàn. Về mức độ có nhiều thảm họa còn lớn hơn nhiều nhưng thống kê dưới đây xét về sự lạ lùng của nó. Mặt khác, có thể những thảm họa dưới đây gợi ra cho chúng ta những suy ngẫm về việc phát triển một cách ồ ạt và môi trường bị xâm hại nặng như ở Việt Nam chúng ta hiện nay.

Rắn tấn công thành phố Saint-Pierre


 
Núi lửa Mount Pelee (núi trọc) ở thành phố Saint-Pierre, đảo Martinique (Trung Mỹ) đã từ lâu không hoạt động nên không ai để ‎ đến những dấu hiệu lạ thường vào tháng 4 năm 1902.
Sang đầu tháng 5 mưa bụi liên tục, trong không khí có mùi tanh lợm của lưu huỳnh. Hàng trăm con rắn độc từ trong hang núi bò vào các khu phố của những người da đen lai da trắng. Những con rắn độc dài 6 foot cắn chết 50 người và hàng loạt súc vật. Nhưng tất cả chỉ mới bắt đầu. Ngày 5 tháng 5 từ đất phọt ra một dòng đất bùn rồi phun xuống biển tạo thành sóng thần làm hàng trăm người chết. Ba ngày sau, mồng 8 thàng 5, núi lửa phun thẳng xuống thành phố. Trong vòng 3 phút cả thành phố bị thiêu rụi. Trong số 30.000 dân chỉ 2 người sống sót.
 
Hoảng loạn ở nhà thờ Shiloh Baptist Church
 


Ngày 19 thàng 9 năm 1902, 2000 người theo đạo, đa số là người da đen đến nhà thờ Shiloh Baptist Church ở Birmingham, bang Alabama, Mỹ để nghe nhà lãnh đạo hội người Mỹ gốc châu Phi Booker T. Washington phát biểu. Cửa ra vào của nhà thờ này đi qua bục cao để hát Thánh ca bằng một cầu thang gạch. Sau lời phát biểu của Booker T. Washington người ta bắt đầu cãi nhau về chuyện tranh giành chỗ ngồi và từ “fight” (đánh lộn) họ nghe thành từ “fire” (cháy). Như một hiệu lệnh, tất cả con chiên rời chỗ của mình lao về phía cầu thang. Những người đi đầu bị người đi sau thúc làm cho họ rơi xuống rồi những người khác đổ nhào lên làm thành một đống cao đến 10 foot. Đám đông hỗn loạn cứ ào lên, đạp lên đống người nghẹt thở nằm dưới đất. Thực ra không hề có hỏa hoạn, cũng không hề có đánh nhau nhưng 115 người bị đè chết.

Mật đường ngập đường phố Boston
 


Ngày 15 tháng 1 năm 1919 những người dân ở một quận phía bắc thành phố Boston – đa số là người Ireland và Italia nhập cư đổ ra phố trong một ngày nắng đẹp lạ thường. Bỗng nhiên, người ta nghe một tiếng rầm. Bình xi-téc bằng gang của công ty Purity Distilling bị thủng và một con sóng lớn bằng mật đường bao trùm lên đường phố Commercial Street rồi đổ về phía bến cảng. Cả người đi đường lẫn xe ngựa kéo đều không chạy khỏi. Hai triệu gallon mật đường dùng để sản xuất rượu Rum trùm lên cả khu phố - 21 người chết vì ngạt thở, 150 người khác bị thương. Dòng mật đường làm đổ cầu vượt xe lửa và nhiều ngôi nhà. Những con ngựa bị ngạt thở và dính chân nhảy cuống cuồng làm cho cảnh sát phải dùng súng bắn hạ. Những người dân ở các nơi chạy đến xem khi trở về kéo thứ chất nhờn đi khắp thành phố. Một tuần sau đó thành phố Boston mới hết mùi mật đường, còn cảng Boston bị nhuốm một màu nâu đến tận mùa hè năm đó.

Nổ bể chứa gas ở Pittsburgh
 


Bể chứa gas – thời đấy là lớn nhất thế giới – đặt ở trung tâm khu công nghiệp của thành phố Pittsburgh, bang Pennsylvania (Mỹ) bị rò rỉ. Buổi sáng ngày 14 tháng 11 năm 1927 một tốp thợ đi tìm chỗ rỉ gas để hàn lại. Họ sử dụng đèn hàn với ngọn lửa mở. Khoảng 10 giờ sáng người ta tìm ra chỗ này – bể gas đựng 5 triệu foot khối khí thiên nhiên bay lên trời như một quả khinh khí cầu lớn rồi nổ tung. Những mảnh kim loại có trọng lượng cả trăm foot bay ra tứ phía. Áp lực không khí và lửa phát quang cả một dặm vuông – 28 người chết và hàng trăm người bị thương.

Biểu diễn của nhân viên cứu hỏa ở Gillingham
 


Hàng năm những nhân viên cứu hỏa ở Gillingham, Anh dùng gỗ và vải buồm làm những «ngôi nhà» để biểu diễn cứu hỏa trong ngày lễ ở công viên thành phố. Theo lệ, người ta chọn các cậu bé khỏe mạnh ở địa phương để cùng tham gia. Ngày 11 tháng 7 năm 1929 có 9 cậu bé tuổi từ 11 đến 14 cùng 6 nhân viên cứu hỏa ăn mặc quần áo lễ hội, có vẻ như đến dự một đám cưới đi lên tầng 3 của «ngôi nhà» trên. Theo kế hoạch, những nhân viên cứu hỏa phía dưới cho nổ quả mìn khói ở tầng 1, rồi tiến hành giải thoát những người dự đám cưới bằng dây và thang, sau đó đốt cháy ngôi nhà để biểu diễn những vòi phun nước. Tuy nhiên, do nhầm lẫn, thay vì quả mìn khói người ta cho mìn lửa đốt nhà đầu tiên. Hàng nghìn khán giả nghĩ rằng những người bị cháy mà họ nhìn thấy là những con búp bê nên đã reo hò và vỗ tay không ngớt trong khi những nhân viên cứu hỏa dưới đất dùng vòi phun nước dập lửa hiểu rằng một thảm họa khủng khiếp đã xảy ra. Cả 15 người ở trong «ngôi nhà» đều chết cháy.
 
Máy bay đâm vào tòa tháp Empire State Building
 


Empire State Building là tòa nhà cao nhất thế giới trong 42 năm (1931 – 1972). Sau vụ khủng bố 11-9 nó lại là tòa nhà cao nhất New York.
Buổi sáng thứ 7 ngày 18 tháng 7 năm 1945 một cựu phi công Mỹ lái một máy bay ném bom hạng nhẹ B-25 bay từ thị trấn Bedford, bang Massachusetts về New York. Trong buồng lái có thêm một lái phụ và một thủy thủ đi nhờ về New York. Sương mù nặng làm cho tầm nhìn bị hạn chế. Một giờ sau, những người dân trên những đường phố trung tâm Mahattan nghe tiếng máy bay rồi kinh hoàng nhìn thấy từ đám mây một chiếc phản lực lao vào tòa nhà Empire State Building. Mảnh vỡ của máy bay và tòa nhà rơi ào ào như mưa đá, còn ở tầng 78 có một lỗ thủng khổng lồ. Một động cơ của máy bay xuyên qua 7 bức tường rồi lăn sang phía bên kia của ngôi nhà. Một động cơ khác như viên đạn bay theo khoang thang máy, cắt đứt dây cáp rồi đè thang máy xuống tầng hầm. Khi bình đựng xăng của máy bay nổ tung, ngọn lửa bao trùm lên 6 tầng, xăng nóng theo những bức tường chảy xuống. Rất may mắn là vào ngày hôm đó chỉ một số ít văn phòng làm việc và chỉ có 11 người bị chết cùng với 3 người trên máy bay.


 
Thảm họa ở sông Tunguska


 
Ngày 30 tháng 6 năm 1907 một vụ nổ cực lớn xảy ra ở vùng sông Tunguska, miền Krasnayasky, Nga.
Theo giả thuyết, vụ nổ này là do thiên thạch rơi hoặc là do mảnh vỡ của sao chổi. Theo tính tóan của các nhà khoa học, công suất của vụ nổ này khoảng từ 10 đến 20 megaton, tức là gấp 1000 lần quả bom nguyên tử ném xuống Hirosima và tương đương với siêu bom Castle Bravo từng được Mỹ thử nghiệm. Vụ nổ này làm đổ 80 triệu cây trên một vùng đất rộng hơn 2150 km vuông. Dấu vết của vụ nổ này, cho đến nay vẫn còn chụp được từ vệ tinh.

Vụ nổ dây chuyền ở Texas
 


Ngày 15 tháng 4 năm 1947 con tàu chở hàng Grandcamp của Pháp cập cảng Texas. Trên tàu có 1.400 tấn phân khoáng từ kali nitrat. Đến giữa đêm trong khoang tàu bùng lên một đám cháy. Đến sáng, ban quản lí cảng nhìn thấy đám khói đen dày đặc đã vô cùng lo lắng vì nhà máy hóa chất Monsanto chỉ cách đó chưa đầy 700 foot (hơn 200 m). Trong khi người ta đang đứng trên cầu tàu nhìn đám cháy và những con tàu kéo chuẩn bị móc dây để kéo tàu Grandcamp ra biển thì một quả cầu lửa bùng lên bao trùm tất cả. Quả cầu lửa này nổ tung ra bốn phía và chỉ mấy phút sau đó cả nhà máy hóa chất cũng nổ tung làm chết hàng trăm công nhân và cả những người quan sát còn sống sót sau tiếng nổ thứ nhất. Ngọn lửa bao trùm cả dãy cầu tàu, cũng may là bể chứa khi butan không bị nổ. Tối hôm đó lại thêm một chiếc tàu khác chở diêm sinh cũng nổ tung và những tiếng nổ dây chuyền lặp lại. Hơn 500 người chết và 1.000 người bị thương nặng.

Vụ ngộ độc hàng loạt ở Basra
 


Tháng 9 năm 1971 một con tàu chở hạt giống cập cảng Basra, I-rắc. 90.000 tấn lúa mạch Mỹ và lúa mỳ Mê-hi-cô được ngâm thủy ngân với mục đích bảo vệ hạt giống và được nhuộm màu hồng với mục đích cảnh báo sự nguy hiểm. Trên các bao bì đều có ghi những lời cảnh báo nhưng chỉ bằng tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha. Trước khi những bao hạt giống đến tay các nông dân ở trang trại thì đã bị ăn cắp ngay từ cầu tàu rồi đem bán cho những người dân đang bị nạn đói hành hạ làm đồ ăn. Chính phủ I-rắc, hoặc là do vô trách nhiệm đến mức tội ác, hoặc là do nhận đút lót, đã im lặng trước việc này. Nhưng hai năm sau đó, một nhà báo Mỹ đã điều tra và chỉ ra rằng có 6.530 trường hợp bị ngộ độc thủy ngân liên quan đến vụ việc nói trên. Nhà đương cục chỉ thừa nhận có 459 người bị chết. Trên thực tế là hơn 6.000 người bị chết và 100.000 người khác bị mù, điếc và bại liệt dây thần kinh não.

Những con voi điên ở rừng Chandak
 


Đầu năm 1972 khu rừng Chandak, Ấn Độ bị hạn hán kéo dài. Những con voi rừng bình thường không gây ra chuyện gì bỗng phát điên lên vì nóng và thiếu nước. Dân chúng đã báo cho chính quyền sở tại biết rằng họ không dám đi làm rẫy vì sợ voi. Ngày mồng 10 tháng 6, những đàn voi giận dữ tấn công 5 ngôi làng, phá cho tan hoang và 24 người dân bị chết.
Đăng nhập để trả lời
0