<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-11-23 08:57:17nha que>
Mật mã Da Vanci, Pháo đài số, Điểm dối lừa, Thiên thần và ác quỷ
(The Da Vinci code, Digital Fortress , The deception point, Angels and demons)[1]
PHẦN 01
(The Da Vinci code, Digital Fortress , The deception point, Angels and demons)[1]
PHẦN 01
1. Lời dẫn
Trước khi đi vào lý giải bộ tứ tác phẩm, chúng tôi cần phải nói ngay rằng, đây là bài viết thuộc dạng cảm xúc, nó là sự cảm nhận của riêng chúng tôi, khẳng định như vậy bởi lẽ bộ tứ tác phẩm này hầu hết chúng đều thuộc diện “Best seller”, cho nên chúng tôi e ngại có người cảm thấy khó chịu với những điều chúng tôi viết về bộ tứ tác phẩm không giống như những gì họ đã nghĩ. Chúng tôi rào trước đón sau như vậy cốt chỉ mong tránh được những phiền phức không đáng có. Mặt khác, chúng tôi cũng mong mọi người hiểu rằng: những kiến giải (hay cảm nhận trong bài viết này) mặc dù hết sức chủ quan, nhưng nó là kết quả có được trên cơ sở khảo sát văn bản bốn tác phẩm, chứ không phải là sự giải thích tuỳ tiện, áp đặt, không tôn trọng ý nghĩa, logic khách quan của tác phẩm như nó vốn có. Tuy nhiên, vì sở học có hạn, hơn nữa, chúng tôi chỉ tiếp xúc các tác phẩm qua văn bản dịch (bản tiếng Việt, mà theo quan điểm của Bakhtin[2], thì đó là tìm hiểu tác phẩm qua tử nghĩa), nên sẽ khó tránh được những thiếu sót, hạn chế. Vì vậy, chúng tôi kính mong mọi người lượng thứ và chỉ giáo thêm để chúng tôi sửa chữa những khiếm khuyết, bổ sung những thiếu sót!
Để tiện cho việc tìm hiểu cặn kẽ bộ tứ tác phẩm, có lẽ việc đầu tiên chúng ta cần làm là chỉ ra những đặc điểm chung và những đặc thù riêng có của từng tác phẩm trong bộ tứ này. Có như thế, chúng ta mới có được một cái nhìn vừa mang tính chỉnh thể, trọn vẹn, hệ thống; đồng thời, chúng ta cũng phác hoạ được nét khu biệt của từng tác phẩm. Điều chúng ta dễ nhận thấy và cũng là cơ sở đầu tiên để phân nhóm bộ tứ này, theo chúng tôi, là yếu tố tôn giáo có mặt trong tác phẩm. Theo tiêu chí này, chúng ta có thể phân chia bộ tứ thành hai nhóm, với Mật mã Da Vanci, Thiên thần và ác quỷ thuộc nhóm 1, Pháo đài số, Điểm dối lừa thuộc về nhóm 2. Và sợi chỉ, hay “Đường hoa hồng” nối kết bộ tứ này là những câu chuyện về lịch sử của khoa học, nhà nước-chính trị và tôn giáo (tôn giáo ở đây xin hiểu là lịch sử của Kitô giáo).
Có thể chúng tôi hơi cực đoan, nhưng đó là cảm nhận của riêng chúng tôi, vì vậy, rất mong các bạn hãy lượng thứ cho. Và nếu theo quan điểm phân chia này, chúng ta có thể hình dung ra một hệ quy chiếu với hệ trục (gồm trục tung và trục hoành) được dựng và gọi tên là trục tôn giáo và trục khoa học đối với nhóm 1; nhà nước-chính trị và khoa học đối với nhóm 2; gốc 0 của hệ quy chiếu là thời điểm khởi nguyên của vấn đề, sự kiện lịch sử khoa học, tôn giáo, nhà nước – chính trị; và điểm cuối ở mũi tên của mỗi trục là thời điểm ngày nay (hiện tại), hay nói đúng hơn là thời điểm vấn đề, sự kiện khoa học, tôn giáo, nhà nước được giải quyết (riêng tính triệt để hay không triệt để của những phương án giải quyết đối với từng vấn đề, sự kiện, chúng tôi sẽ nói riêng khi đi vào phân tích những tác phẩm, chi tiết cụ thể).
Từ bộ khung, cái sườn nói trên, chúng ta cùng đi vào giải mã bộ tứ tác phẩm để xem cái làm nên tính hấp dẫn và sự lôi cuốn kỳ lạ của nó là gì? Từ đó, ta có thể hiểu phần nào tư tưởng của tác giả về thế giới, con người (đặc biệt là về vai trò, vị trí của hai lĩnh vực khoa học, tôn giáo; việc con người nói chung, từng cá nhân nói riêng, xác định ý nghĩa tồn tại của bản thân trong cuộc sống như thế nào?), cũng qua đó, ta thấy rõ hơn mối quan tâm có tính chất bất biến của con người, không phân biệt quốc gia, dân tộc, sắc tộc, đối với tôn giáo-tín ngưỡng, khoa học, chính trị!
2. Nhóm 1: Mật mã Da Vanci – Thiên thần và ác quỷ
Tôn giáo, khoa học, đó chính là những bước tiến trên tiến trình nhận thức thế giới xã hội[3] của nhân loại. Theo S.Freud[4], tôn giáo là giai đoạn thứ hai trong quá trình phát triển nhận thức của loài người (human) tính từ buổi hồng hoang tới nay[5]. Nghĩa là loài người - ở đây phải hiểu là phương Tây - đã hướng tới giải thích thế giới xã hội bằng tôn giáo, và trong các tôn giáo thì sự giải thích này được trình bày trong các sách kinh. Nhưng kể từ thời kỳ Phục Hưng, khoa học đã có những bước tiến vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực, từ khoa học tự nhiên đến xã hội và nhân văn. Và cũng từ thời điểm này, dẫu không nói ra, nhưng chúng ta ai cũng thấy rõ: giữa tôn giáo và khoa học đã có một cuộc chiến ngấm ngầm, và cuộc chiến này vẫn còn âm ỉ mãi cho tới tận ngày nay. Nguyên nhân của cuộc chiến là khoa học với những bằng chứng thực tế, những phát kiến vĩ đại đã lần lượt bác bỏ những giáo điều được ghi trong các sách kinh của các tôn giáo. Và cũng từ đây, khoa học đã hiện diện với tư cách là một pha phát triển tiếp theo của loài người sau tôn giáo. Tức giai đoạn nhận thức thứ ba của loài người.
Chúng tôi xin dừng lại một chút để nói thêm về điểm vừa trình bày, bởi lẽ, có một sự trùng hợp ở quan điểm cho rằng khoa học – tri thức, là công cụ nhận thức quan trọng nhất của quá trình phát triển nhận thức về thế giới xã hội của loài người. Theo một tài liệu khác mà chúng tôi có được của tác giả Alvin Toffler[6], trong hai tác phẩm Thăng trầm quyền lực và Làn sóng thứ ba, ông cũng cho rằng: từ xưa tới nay, con người đã sáng tạo ra ba loại quyền lực, đó là: bạo lực, của cải và trí tuệ. Theo tác giả này, nếu xét về khía cạnh phẩm chất của quyền lực, thì trí tuệ được xem là thứ quyền lực có phẩm chất cao nhất trong ba loại quyền lực nói trên. Như vậy, chúng ta nhận thấy, ở những tác phẩm được xem là quan trọng trong nhận thức và giải thích thế giới xã hội, dù thuộc hai lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, nhưng cả hai tác giả (S.Freud và A.Toffler) đều thừa nhận và khẳng định khoa học (nói cách khác là tri thức, trí tuệ) là công cụ nhận thức và giải thích thế giới, xã hội, con người, cũng như các mối quan hệ qua lại giữa các thực thể này với nhau, vào loại quan trọng nhất, ở trình độ cao nhất, mà loài người có được tính tới thời điểm hiện tại.
Tuy nhiên, như tên gọi của tác phẩm Thăng trầm quyền lực, trong thực tế, tri thức, khoa học không phải lúc nào cũng được nhận thức đúng và có được địa vị xứng đáng như phẩm chất vốn có của nó. Bởi vậy, quá trình hình thành và phát triển của khoa học gắn liền với quá trình đấu tranh của nó với các công cụ nhận thức khác.
2.1.Biểu hiện và tính chất của mối quan hệ tôn giáo - khoa học
Bây giờ chúng ta hãy cùng đi vào khám phá hai tác phẩm Mật mã Da Vinci và Thiên thần và ác quỷ, chúng ta sẽ thấy cuộc chiến, hay mâu thuẫn, giữa tôn giáo và khoa học như tôi đã trình bày ở trên một cách cụ thể. Rõ ràng, trong hai tác phẩm này, Dan Brown chỉ rõ, từ thực tế những gì khoa học đã làm được trong suốt thời gian qua, vai trò của tôn giáo - đối với phương Tây thì chúng ta có thể xem tôn giáo ở đây chính là kitô giáo - đang từng bước phải rời bỏ vai trò, chức năng giải thích nguồn gốc, quá trình hình thành và xu hướng tồn tại, phát triển của thế giới; kitô giáo dường như đang dần bị thu hẹp quyền hạn theo từng bước tiến của khoa hoc. Khoa học đã từng bước tước bỏ quyền năng, những phép màu của chúa, khi lần lượt giải thích những bí ẩn, những câu hỏi của thiên nhiên, vũ trụ, con người. Khoa học đang nỗ lực khẳng định năng lực vốn có của con người, đưa con người đối diện với chính nó và thế giới, kéo con người thoát khỏi sự ảnh hưởng của tôn giáo, của chúa trời.
Thế nhưng, từ một cạnh khía khác, ta nhận thấy, khi tôn giáo bị tước bỏ những quyền năng, phép màu, khi các bí ẩn của cuộc sống được lý giải bởi khoa học chứ không phải chúa trời, thì cũng là lúc con người cảm thấy mình đơn côi nhất, trống trải nhất, mong manh nhất, nhỏ nhoi nhất. Chính lúc này chứ không phải lúc nào khác, tôn giáo lại không thể mất đi, nó cũng không biến đổi hoàn toàn, mà nó từng bước từ bỏ tham vọng trong việc giải thích thế giới (trong một chừng mực nhất định) và quay trở về với bản nguyên của nó: tức là chỉ quan tâm tới phần tâm hồn con người, chăm lo việc cứu vớt tâm hồn con người, dìu dắt con người vượt qua những bất hạnh trong cuộc sống, giúp con người chống trả lại nỗi cô đơn vì bị tước mất đi người cha quyền năng vô thượng (chúa trời) bởi khoa học; đồng thời, nó kêu gọi và giáo dục con người về tình yêu thương, tính nhân đạo, lòng trắc ẩn... Trong vai trò này, sự hiện hữu của tôn giáo lại là điều hết sức cần thiết. Điều này trong thời kỳ hiện đại, khi bộ môn Phân tâm học ra đời và phát triển, đã giúp việc lý giải sự tồn tại của tôn giáo trở nên đơn giản hơn. Và tôn giáo sẽ phát huy hơn nữa vai trò của nó nếu tôn giáo kết hợp với Phân tâm học, bởi với Phân tâm học, việc chăm lo tới phần tâm hồn, tình cảm của con người sẽ được đầy đủ, thấu đáo hơn.
Chúng tôi xin nói riêng về từ "tâm hồn" mà chúng tôi dùng ở đây, để tránh những hiểu lầm đáng tiếc. Với chúng tôi, từ tâm hồn được hiểu là thế giới nội tâm, tổng thể tâm lý của con người chứ không phải là kiểu loại tâm hồn vẫn được hiểu theo nghĩa truyền thống.
Như vậy, chúng ta nhận thấy, từ Mật mã Da Vinci đến Thiên thần và ác quỷ, Brown đã thể hiện mối tương quan giữa giữa tôn giáo và khoa học ở (chủ yếu) phương diện mâu thuẫn, đấu tranh rất sinh động và tài tình. Có thể xem mối quan hệ giữa tôn giáo và khoa học như là một cuộc đấu tranh sinh tồn theo quan điểm tiến hóa luận của Darwin. Tuy nhiên, khác với tính triệt để trong đấu tranh sinh tồn của giới tự nhiên, ở đây khả năng triệt tiêu hay biến mất hoàn toàn của một trong hai hiện tượng là điều không thể xảy ra (ít nhất là ở thời điểm hiện tại)[7]. Có chăng, chỉ là sự thay đổi vai trò, vị trí mà thôi. Và cả hai cùng tồn tại, cùng phát triển theo những cách khác nhau.
Cả ở Mật mã Da Vanci lẫn Thiên thần và ác quỷ, Dan đã thể hiện điều nói trên bằng việc để cho các nhân vật của mình (những nhà khoa học), đem dâng hiến những phát kiến, phát minh cho nhà thờ thiên chúa; hoặc hết lòng bảo vệ đức tin, bảo vệ những bí mật cốt tử của nhà thờ (như trường hợp các hiệp sĩ bảo vệ chén thánh[8]!). Một điều hết sức kỳ lạ, nó dường như đi ngược lại tính chất đối lập, mâu thuẫn trong mỗi quan hệ giữa tôn giáo và khoa học như chúng ta đã phân tích ở trên. Tại sao vậy? Đơn giản, bởi các nhà khoa học không muốn tước đi niềm tin của quảng đại quần chúng, vì niềm tin đó nâng đỡ con người, giúp họ vượt qua số phận và vươn lên trong cuộc sống, giúp họ biết sống có ích, có ý nghĩa. Và còn bởi hai lý do cốt tử khác: thứ nhất, bất kể nhà khoa học phương Tây nào, vốn dĩ cũng là một con chiên ngoan đạo trước khi họ đến với khoa học; thứ hai, ngay thời điểm hiện tại, khoa học cũng chưa thực sự thay thế được tôn giáo, chúa trời, thực tế còn quá nhiều bí ẩn, nhiều câu hỏi mà khoa học chưa thể giải thích. Nghĩa là vẫn còn những vùng tối khoa học chưa thể với tới[9], đó là nơi tôn giáo có thể trú ngụ vững chãi. Và khi chưa thể làm sáng tỏ những vùng mù đó, thì việc tước bỏ tôn giáo khỏi đời sống con người một cách triệt để chưa hẳn đưa đến một kết cục tốt đẹp cho con người. Hơn nữa, khi chưa trang bị cho con người đầy đủ những phương tiện, công cụ hữu hiệu thì không nên đẩy họ trơ trọi một mình đối diện với biết bao khó khăn, khắc nghiệt, và cả khổ đau của cuộc sống. Đây là điều thể hiện cái tâm, bản chất nhân văn của những nhà khoa học chân chính!
2.2. Chi tiết, sự kiện tiêu biểu:
Ở Mật mã Da Vanci, Brown đã làm một cuộc giải thiêng cho câu chuyện về chiếc chén thánh huyền thoại. Chúng tôi nói "giải thiêng" là có lý do của nó. Chúng ta ai cũng biết ít nhiều về câu chuyện chiếc chén thánh trong huyền thoại Kitô giáo, nhưng trong Mật mã Da Vanci, tác giả đã làm tất cả chúng ta bị bất ngờ vì sự lý giải hoàn toàn khác với truyền thuyết của ông. Chúng ta hãy thử đặt một giả thiết, nếu tác phẩm này ra đời trước cuốn tiểu thuyết Tiếng chim hót trong bụi mận gai, thì theo các bạn, sự đón nhận nó của công chúng (mà nhất là công chúng phương Tây với phần đông là tín đồ kitô giáo) có đơn thuần và êm ả như khi Mật mã Da Vanci ra đời hay không? Xin thưa, chúng tôi tin chắc cú sốc mà nó gây nên sẽ chẳng thua kém gì Tiếng chim hót trong bụi mận gai thủa nào, có khi còn hơn rất nhiều. Người ta sẽ phải gọi nó là quả bom "Mật mã của Brown"! Và chắc hẳn, làn sóng phản đối sẽ dâng cao hơn cả những cơn sóng thần tàn khốc mà chúng ta đã được chứng kiến thời gian vừa qua. Vì cái điều mà Brown nói tới ở đây thuộc vào điều cấm kỵ nhất, nó nằm ngoài sự ước lượng và tưởng tượng của mọi người, dù cho đó là người có óc tưởng tượng phong phú đến đâu. Không thể tin nổi khi tác giả cho rằng chén thánh chính là một người phụ nữ (theo Dan thì đó là nàng Mary Magdalene)![10]. Có lẽ, đây là bí mật lớn nhất được khám phá về đời tư của Đức chúa Jesu. Cũng do vậy, đội quân gồm những Hiệp sĩ bàn tròn (Knights Templar)[11] với sứ mạng cao cả được biết tới trong truyền thuyết cũng mất đi phần nào niềm tự hào vốn có. Tất cả mọi người dường như chưng hửng, vì cái bí mật mang đậm màu sắc huyền thoại kia nay đã bị nhuốm màu tục lụy. Bao nhiêu giả thuyết thêu dệt về nó từ nay sẽ không còn có cơ tiếp tục phát triển, xuất hiện. Vì sự thật (nếu đúng như Dan nói trong truyện) quả là quá ư tàn nhẫn đối với những người vẫn mang nặng đức tin. Và nó giáng một đòn nặng nề vào Tòa thánh Vaticang, vì Dan cho rằng Tòa thánh đã biết rõ mọi chuyện nhưng vẫn cố tình bưng bít, dấu kín nhằm duy trì quyền lực của mình. Bởi vậy, chúng tôi e là nếu tác phẩm này ra đời trước Tiếng chim hót trong bụi mận gai, thì tác giả của nó hẳn không bao giờ giám bước chân ra khỏi nhà. Và chính quyền nước sở tại sẽ phải cử cả một đội cảnh sát thường xuyên canh gác nơi Dan ở, để tránh sự sát hại hay quấy rầy của những kẻ cuồng tín. Nhưng không, chúng ta thấy rõ là sau khi cuốn sách ra đời, nó chỉ tạo một hiệu ứng duy nhất, đó là nó được rất nhiều người đón đọc, nó trở thành cuốn sách bán chạy nhất (Best seller)[12]. Và nó cuốn rất nhiều độc giả lao vào cuộc tìm kiếm sự thật xung quanh câu chuyện về chén thánh.
Viết đến đây chúng tôi thấy cần phải bàn thêm về khía cạnh tâm lý trong tiếp nhận tác phẩm văn học để các bạn dễ hình dung hơn điều vừa trình bày. Theo chúng tôi được biết, ở thời điểm tác phẩmTiếng chom hót trong bụi mạn gai được phát hành, sự phản ứng của nhà thờ Kitô giáo và đại bộ phận giáo dân rất dữ dội. Ở một số nước còn cấm hẳn việc dịch và phát hành cuốn sách cũng như trình chiếu bộ phim được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết này, vào mấy năm sau đó. Thế nhưng, sự kiện Tiếng chom hót trong bụi mạn gai và một số câu chuyện khác về đời tư của giới thầy tu và nhà thờ được tiết lộ, kết hợp với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, đã từng bước làm sút giảm đức tin của quảng đại quần chúng đối với các tín điều. Cho nên, hai tác phẩm Mật mã Da Vinci và Thiên thần và ác quỷ của Dan đã không gặp bất cứ một sự chống đối quyết liệt nào, như chúng ta từng thấy, ở những tác phẩm có đề cập tới những đề tài tương tự ra đời trước đó. Nói cách khác, khi người ta đã không còn có thể ngạc nhiên, lãng mạn, và kiêu hãnh, người ta sẽ rất dễ thờ ơ với những điều được xem là xúc xiểm. Và một thực tế, bất kỳ bí mật nào được tiết lộ - nhất là những bí mật về đời tư của những danh nhân, những ngôi sao...- cũng tạo được sự cuốn hút và chú ý của người đọc, bởi bản chất tò mò là cái tồn tại muôn thuở cùng với loài người. Độc giả luôn mong muốn có được những thông tin, hướng lý giải mới lạ chứ không phải là những cái biết rồi khổ lắm nói mãi! Như vậy, điều Dan thể hiện trong tác phẩm đã kích thích đúng thị hiếu, sở thích và tâm lý của bạn đọc. Có thể nói, ở phương diện này, Dan đã rất thành công, ông biết đánh vào đúng điểm yếu ở thời điểm thích hợp nhất.
Với những điều trình bày ở trên, chắc hẳn nhiều người cho rằng chúng tôi có sự thiên vị trong việc miêu tả và lý giải mối quan hệ giữa tôn giáo và khoa học mà Dan trình bày trong tác phẩm của mình? Xin thưa, không hề có chuyện đó. Chúng tôi xin khẳng định lại một lần nữa, toàn bộ những điều chúng tôi trình bày ra ở đây đều xuất phát từ khảo sát tác phẩm, chỉ mỗi việc đề cập tới phía nào trước trong mối quan hệ này là do chúng tôi quyết định mà thôi. Ngay bây giờ, chúng tôi sẽ bàn tới nửa còn lại của mối quan hệ giữa tôn giáo và khoa học, để chúng ta thấy được tính chất tác động qua lại, hai chiều, đàn hồi của chúng.
Trước hết, chúng ta cần phải có một cái nhìn toàn diện về tôn giáo (kitô giáo). Có thể xem tôn giáo nói chung và kitô giáo nói riêng, tính tới thời điểm hiện tại, đã trải qua ba giai đoạn phát triển. Và ở mỗi giai đoạn phát triển, độ thăng trầm của nó cũng có sự khác biệt. Vì vậy, khi xét nó trong mối quan hệ giữa nó với khoa học cũng phải lưu ý tới những điểm này để lý giải nó cho xác đáng.
Có thể xem giai đoạn thứ nhất là quá trình hình thành, ứng với giai đoạn này là sự xuất hiện của người sáng lập và bắt đầu đi thuyết giáo, làm cơ sở cho các tôn giáo ra đời. Giai đoạn thứ hai là khi tôn giáo phát triển đến cao độ, và nó có quyền năng rất lớn trong đời sống xã hội, nó chi phối tất cả các lĩnh vực, nó gần như độc tôn, nó tham gia vào vũ đài chính trị, chi phối cả chính trị (đối với phương Tây, ở nhiều thời điểm, quyền lực của nhà thờ còn lớn hơn, bao trùm, cả quyền lực của các nhà nước chuyên chế phong kiến)[13]. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn tôn giáo chỉ còn là một bộ phận cấu thành và phụ thuộc (hay nói cách khác là bị chi phối bởi) vào chính trị - nhà nước, nó không còn địa vị độc tôn và không thể chi phối các lĩnh vực của đời sống như giai đoạn trước đó nữa.
Xét một cách toàn diện, hai tác phẩm ở nhóm 1 đã tóm lược gần như trọn vẹn cả ba qúa trình nói trên của kitô giáo. Hai tác phẩm đã đề cập tới những biến cố chính cũng như những sự kiện và những huyền thoại quan trọng của kitô giáo. Từ nguồn gốc của chén thánh, nhóm hiệp sĩ bàn tròn tới các vụ án xét xử dị giáo, những vụ án liên quan tới các nhà khoa học, cho đến ngày nay. Tất tật được gói gọn trong hai cuốn tiểu thuyết. Tất nhiên, để hiểu được tất cả những điều chúng tôi vừa trình bày một cách cặn kẽ, người đọc truyện phải có một lượng kiến thức nhất định về lịch sử phương Tây nói chung và kitô giáo nói riêng. Có như vậy mới mong giải mã đầy đủ, trọn vẹn hai tác phẩm này. Cũng chính từ điểm này mà ta thấy rõ hơn tài năng bậc thầy của Dan, ông biết chọn lọc các sự kiện, biến cố, xây dựng những chi tiết phù hợp để tác phẩm có thể vừa tái hiện được một chặng dài lịch sử, vừa có những điểm nhấn nghệ thuật nhằm tránh sự nhàm chán và tạo hiệu quả lôi cuốn người đọc. Vì vậy, ai đã cầm hai cuốn sách này trên tay và bắt đầu lần dở một vài trang sách, thì chúng tôi e là không thể gấp nó dừng lại nếu chưa đọc đến hết truyện.
Đứng từ góc độ kitô giáo để xét quan hệ của nó với khoa học, ta thấy, ngay từ khi mới hình thành, bản thân người sáng lập kitô giáo cũng là một hiện thân của trí tuệ. Bởi lẽ, dù gì đi chăng nữa, kitô giáo cũng là một khoa học (hiện thân đầy đủ là bộ môn thần học) nhằm hướng đến giải thích thế giới xã hội. Điểm khác biệt và làm nên tính phi hợp lý của nó là do nó được xây dựng trên cơ sở của những lời thánh khải (duy tâm) chứ không phải trên cơ sở của quan sát, khảo sát, nghiên cứu thế giới vật chất một cách khách quan, trực quan. Và ở buổi sơ khai, nó cũng gặp rất nhiều khó khăn, hình ảnh Chúa Jesu bị đóng đinh trên cây thánh giá có lẽ là biểu tượng đầy ý nghĩa nói lên điều đó. Thế rồi, theo thời gian, khi nó đã có được một lượng tín đồ đông đảo, khi những lời thần khải của Chúa Jêsu được người dân nghe và tin theo thì cũng là lúc các chính quyền quân chủ chuyên chế (nhà nước phong kiến) kéo nhà thờ về phía mình. Như vậy, từ thời điểm này tôn giáo đã bắt đầu nhuốm màu sắc chính trị. Do đó, cũng không thể bác bỏ sự lợi dụng nhà thờ của chính quyền quân chủ chuyên chế nhằm biến Nhà thờ thành một thứ công cụ phục vụ vào các mục đích chính trị của mình. Tất nhiên, ở một chừng mực nào đó, nhà thờ từ việc chấp nhận sự bảo hộ và tài trợ của chính quyền trong việc xây dựng giáo đường, mở rộng địa bàn truyền giáo, độc tôn về đức tin, mà dần dần trở thành công cụ của chính quyền. Và khi đã có quyền lực pháp chế trong tay, nhà thờ buộc phải thực hành cái việc mà trước đây chính các chính quyền chuyên chế và tín ngưỡng nguyên thuỷ dân tộc đã làm với Đức chúa Jesu và những tín đồ của ông. Đó là: khống chế và loại trừ sự hình thành, phát triển của khoa học. Bởi lẽ, con đường phát triển của khoa học luôn mâu thuẫn với những tín điều được ghi trong kinh thánh, với những lời chúa đã mặc khải. Vì thế, cũng như nhà nước chuyên chế trước đây, nhà thờ buộc phải gạt ra ngoài vương quốc của mình những người có ý hướng làm khoa học. Đó chính là nguyên nhân của những vụ xử những nhà khoa học bị nhà thờ quy kết là những kẻ dị giáo hay theo tà thuyết[14]. Điều này được Dan tái hiện trong tác phẩm của mình bằng việc nhắc lại câu chuyện về lịch sử ra đời của các hội kín do các nhà khoa học lập nên, về vụ án Copernic[15]…
Ở trên là đang nói về sự tác động của kitô giáo đối với khoa học tại thời điểm kitô giáo là một thế lực hùng mạnh, chi phối đời sống xã hội, nhưng ở pha tiếp theo, hay giai đoạn thứ ba của tôn giáo, điều này đã không còn tái diễn. Đó là khi khoa học đã khẳng định được vị trí của mình. Lúc này, nhà thờ không còn có thể ép buộc hay kết án các nhà khoa học được nữa, nhưng như chúng tôi đã nói ở trên, chính ở thời điểm khó khăn này, tôn giáo đã từng bước trở về với đúng bản chất của nó khi hình thành. Nhà thờ chỉ còn xen vào câu chuyện của khoa học – công nghệ ở khía cạnh đạo đức. Biểu hiện là việc nhà thờ lên án nhân bản vô tính con người, kêu gọi ngăn chặn nạn nạo phá thai, ngăn chặn sử dụng các loại vũ khí giết người hàng loạt… Tất cả những điều nói trên chính là biểu hiện cụ thể sự thoái trào của kitô giáo nói riêng và tôn giáo nói chung trên toàn thế giới[16].
Từ những điều rút ra qua hai tác phẩm ở trên, chắc hẳn nhiều người đã nhận thấy một mối liên hệ ngầm giữa hai tác phẩm Mật mã Da Vinci và Thiên thần và ác quỷ. Mối liên hệ này thể hiện rõ chủ ý của tác giả trong việc nối kết hệ chủ đề trong các tác phẩm của ông. Điều này chúng tôi sẽ chỉ rõ trong mục bàn về nghệ thuật ở phần kế tiếp.
Ở trên chúng tôi chỉ lược dẫn những nét chủ đạo trong mối quan hệ giữa kitô giáo với khoa học mà Dan Brown đã thể hiện trong hai tác phẩm của mình. Đến đây, chúng tôi xin chuyển sang những vấn đề khác, chúng ta sẽ trở lại với vấn đề này trong phần đối sánh hai mối quan hệ : Tôn giáo – khoa học và Nhà nước-chính trị – khoa học ở phần nói về nhóm 2.
3. nhóm 2: Pháo đài số, Điểm dối lừa
Nếu nhóm 1 được tác giả xây dựng chủ yếu dựa trên mối quan hệ tương tác giữa kitô giáo và khoa học thì ở nhóm 2 này hệ quy chiếu đã có sự thay đổi. Theo đó, trục kitô giáo được thay thế bằng trục chính trị - nhà nước[17]. Nói cách khác, đây là hai tác phẩm thể hiện quan hệ của các thể chế chính trị với khoa học – công nghệ. Về cơ bản, ta có thể hiểu mối quan hệ này là sự thể hiện thái độ ứng xử, các cơ chế chính sách, sự đãi ngộ của Nhà nước[18] (cơ quan thực thi đường lối, quan điểm chính trị), cũng như việc các cơ quan chức năng của Nhà nước sử dụng khoa học vào những mục đích gì, tất cả những điều đó sẽ giúp chúng ta thấy rõ tính chất của mối quan hệ chính trị - khoa học. Từ đó, ta có thể hình dung được vai trò ngày càng được khẳng định của khoa học trong xu thế nền kinh tế thế giới đang chuyển dịch một cách mạnh mẽ sang toàn cầu hoá với hạt nhân là kinh tế tri thức[19].
Ở nhóm hai này tác giả cho chúng ta thấy rõ, khi khoa học thay thế tôn giáo thì chính trị - nhà nước cũng có sự thay đổi cơ bản. Nói đúng hơn là chính trị-nhà nước đã phát triển lên một tầm cao mới, sự thay đổi, phát triển này biểu hiện cụ thể trong hệ thống quan điểm lý luận chính trị và cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước. Đây là một tất yếu, và nó khẳng định tính biện chứng và tính lịch sử trong sự phát triển chung của xã hội loài người. Theo đó, xu hướng đi lên của tất cả các phương diện xã hội mang một giá trị mặc nhiên không phải bàn cãi. Đây chính là quan điểm cốt lõi mà Dan Brown gửi tới độc giả, nó có mặt trong cả bốn tác phẩm của bộ tứ chứ không chỉ đơn thuần là ở trong hai tác phẩm thuộc nhóm 02 này.
3.1. Biểu hiện và tính chất của mối quan hệ chính trị - khoa học
Khoa học- công nghệ và chính trị-nhà nước là một mối quan hệ hết sức phức tạp, chồng chéo, khác với pha trước đó (tôn giáo và khoa học), bởi nhà nước với đặc trưng là cơ quan thực thi, cụ thể hoá đường lối, chính sách của các thể chế chính trị, nên tính chất và màu sắc của sự chi phối của nhà nước đối với khoa học và công nghệ sẽ có những điểm khác biệt so với sự chi phối trước đó của tôn giáo đối với khoa học. Chúng ta hãy cùng đi vào tìm hiểu hai tác phẩm Pháo đài số và Điểm dối lừa để thấy được những điều thú vị về sự chi phối của nhà nước đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ trên bàn cờ chính trị[20].
Chúng ta hãy làm một so sánh nhỏ. Ở nhóm 1, Dan khai thác các âm mưu che dấu bí mật về đời tư của Chúa Jesu, và sự đàn áp, khống chế khoa học của kitô giáo; thì ở nhóm 2, ông cũng khai thác các âm mưu của giới chức chính trị, các cơ quan quyền lực (hay Nhà nước), trong việc che dấu những sự thật khoa học, vi phạm các quyền cơ bản của công dân được quy định trong hiến pháp[21]; và âm mưu sử dụng các phát kiến khoa học giả tạo để thu lợi nhuận bất chính và phục vụ các mưu đồ chính trị trong cuộc đua vào nhà trắng...
Như vậy, ở nhóm 2 cũng có một sự tương đồng nhất định với nhóm 1 ở chỗ, cả kitô giáo và nhà nước (giới chức chính trị, các cơ quan quyền lực) đều có những âm mưu nhằm che đậy những bí mật có thể làm ảnh hưởng tới quyền lực của họ, và khi tiến hành những âm mưu này, ít nhiều đều có những tác động tiêu cực tới khoa học. Điểm khác biệt là, trong khi kitô giáo tiến hành khống chế, triệt tiêu khoa học, thì nhà nước lại khuyến khích khoa học phát triển, và đồng thời lợi dụng khoa học để khống chế quần chúng. Sự khác biệt này thực chất là biểu hiện của sự thay thế, phát triển của xã hội về mặt tổ chức nhà nước, mô hình xây dựng nhà nước lúc này tương ứng hoàn toàn với pha thứ ba của sự phát triển nhận thức loài người (như đã trình bày ở trên), tức là giai đoạn ra đời các nhà nước pháp quyền dân chủ. Kiểu nhà nước này đã hoàn toàn thoát ly khỏi sự ảnh hưởng của tôn giáo, nó lấy ý chí của nhân dân, trí tuệ của nhân dân làm thành pháp luật để quản lý xã hội thay cho giáo lý của nhà thờ. Nói một cách khác, Nhà nước không còn kết hợp với nhà thờ như là một mô hình tổ chức chính quyền, thay vào đó Nhà nước kết hợp với khoa học. Và trong một chừng mực nhất định, nó tôn trọng các quyền nhân bản của con người, tức là nó trả lại cho con người những phẩm chất, năng lực vốn có của nó và yêu cầu con người phải tự chịu trách nhiệm về tất cả những hành vi của mình. Những điều này hoàn toàn phù hợp với mong muốn của nhân dân cũng như có lợi đối với khoa học.
Tuy nhiên, với bản chất thực dụng, và tính tư hữu cá nhân chi phối mạnh mẽ, nên và cũng như tôn giáo trước đây, trên thực tế, Nhà nước, giới chức chính trị, các cơ quan quyền lực của nhà nước đã không thực thi hoàn toàn đúng chức năng như quy định, như mong muốn của nhân dân khi xây dựng và tổ chức ra nhà nước, để đem đến cho nhân dân và khoa học những gì mà đáng ra nhân dân và khoa học phải được hưởng. Nó vẫn tìm mọi cách khống chế khoa học, người dân, tìm mọi cách để thu lời, tích lũy tài sản cá nhân và tranh giành quyền lực chính trị. Vì vậy, ở giai đoạn này, khoa học cũng chưa thực sự được phát triển một cách hoàn toàn thuận lợi, nó vẫn còn phải đấu tranh để phát triển, để sự thật và chân lý luôn được lên tiếng. Tất nhiên, so với giai đoạn trước đó, nhất là ở thời điểm hiện tại, khi nhận thức của nhân dân được nâng cao, khi hệ thống truyền thông phát triển và đứng tương đối độc lập với chính trị, khi người dân ý thức được vai trò và vị trí của khoa học, thì sự khống chế khoa học không quá khắc nghiệt như pha trước đó. Thế nhưng, trong nhiều trường hợp, khoa học vẫn chưa phải là tiếng nói cuối cùng để khẳng định chân lý với tính cách là một phát ngôn đại diện cho trí tuệ của nhân loại. Mà nó vẫn phải đấu tranh, vẫn phải không ngừng vươn lên khẳng định, để giành lấy vị trí ấy.
Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể khẳng định thêm một điều rằng: trong quan hệ với khoa học, thể chế chính trị nào, tổ chức nhà nước nào nhìn nhận vai trò, vị trí của khoa học một cách đúng đắn và có ý thức trong việc tri thức hóa bộ máy, khoa học hóa trong công tac quản ký và điều hành xã hội thì đó là thể chế chính trị, nhà nước tiến bộ, dân chủ thực sự.
3.2. Chi tiết, sự kiện tiêu biểu
Trong tác phẩm Pháo đài số, quan hệ giữa Nhà nước và khoa học được tác giả thể hiện thành mối quan hệ giữa cơ quan NSA với người tạo ra một mật mã dựa trên thuật toán văn bản gốc luân hồi = chính là pháo đài số.
Trong truyện, một trong những người đứng đầu cơ quan NSA, có thể xem là một đại diện của nhà nước, ngài phó giám đốc Strathmore đã tìm mọi cách để có được mật mã (pháo đài số) nên đã không từ bất cứ thủ đoạn nào để đoạt nó. Hơn thế, với tham vọng khống chế hoàn toàn mạng lưới internet bằng một cổng sau của pháo đài số, đồng thời tránh cho cơ quan NSA và cỗ máy bẻ khóa một vụ bê bối về sự can thiệp thô bạo, vi phạm bản quyền con người của họ đối với công dân nước mình, ông Strathmore tuyên bố với thế giới rằng cỗ mãy bẻ khóa của cơ quan này hoàn toàn bất lực trước pháo đài số, và như vậy ông hy vọng người ta sẽ bỏ tiền đầu tư mua pháo đài số cũng như không còn quan tâm tới sự tồn tại của cỗ máy giải mã TRANSLTR nữa. Nếu mọi việc suôn sẽ thì đây là một mũi tên bắn trúng hai đích. Thế nhưng, người tạo ra pháo đài số - Ensei Tankando – lại sặp đặt một kế hoạch quá hoàn hảo. Thực ra pháo đài số và nhân vật North Dakota chỉ là một giả tưởng, mục đích của anh ta chỉ là muốn ép NSA phải công bố cho mọi người biết về sự tồn tại của máy bẻ khoa TRANSLTR và sự xâm nhập thư tín điện tử cá nhân của cơ quan này mà thôi. Anh ta đa đánh lừa được cả Strathmore lẫn cỗ máy TRANSLTR. Chính bởi vậy mà âm mưu của vị phó giám đốc đã thất bại thảm hại và đưa đến sự thiệt hại về mọi mặt không chỉ cho bản thân ông ta mà cả cơ quan NSA.
Tác phẩm này cho chúng ta thấy được những tầng ngầm ẩn sâu bên trong của một cơ quan chính phủ, nó cảnh báo mọi người về tính bảo mật không thực sự tốt của các công cụ thư tín điện tử. Nhưng điều quan trọng nhất, lại là dụng ý chơi xỏ cơ quan tình báo của chính phủ. Bởi vì với những gì được tác giả thể hiện trong tác phẩm, rõ ràng các cơ quan tình báo của chính phủ có trong tay những công cụ và quyền lực to lớn để có thể xâm nhập và biết tất cả những bí mật của mọi người. Thế nhưng, sự kiện 11 tháng 9 vẫn xảy ra và để lại một hậu quả nằng nề về mặt kinh tế cũng như tâm lý. Mặc dù rằng phần lớn âm mưu của cuộc khủng bố này được những kẻ chủ mưu lên kế hoạch và thống nhất hành động trên mạng internet. Đây là một sự diễu nhại, bóc trần sự bất lực của chính cơ quan chức năng này. Tác giả cũng chỉ rõ cùng với sự hạn chế, bất lực của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ và chức năng chính của mình là những tham vọng không chính đáng của chính giới chức cơ quan này.
Trong khi đó, nhân vật Ensei Tankando lại được tác giả cấp cho một sự giải oan, một giá trị hoàn toàn mới. Bởi rõ ràng anh ta không phải là một kẻ phá hoại, chống đối chính phủ. Anh ta chỉ là một nhà khoa học luôn mong muốn được cống hiến và cho rằng khoa học phải phục vụ cho tất cả mọi người; đồng thời anh ta không đồng tình với việc các cơ quan chức năng của nhà nước sử dụng khoa học vào những mục đích không chân chính như: khống chế, can thiệp vào đời sống của người dân, lừa dối người dân, kiếm chác lợi nhuận bất chính trong kinh doanh...
Chuyển qua tác phẩm Điểm dối lừa, tác phẩm này đề cập tới vấn đề chính trị và nhà nước một cách trực tiếp. Và nó cũng cho thấy vai trò to lớn của khoa học đối với đời sống nói chung và quyền lực chính trị nói riêng. Bởi lẽ, ngay trong cuộc tranh cử Tổng thống nước Mỹ, sự thành công hay một phát hiện quan trọng của khoa học cũng có ảnh hưởng tới kết quả của cuộc bầu cử.
Mắt xích quan trọng của tác phẩm này là yếu tố khoa học giả tưởng về phát hiện của cơ quan NASA đối với sự tồn tại của một vật thể lạ bị chôn vùi trong lòng đại dương Bắc Cực mà cơ quan này đã cho thăm dò và phát hiện nên. Theo các nhà khoa học của cơ quan này thì vật thể lạ đó chính là một thiên thạch, và trong thiên thạch này có chứa hóa thạch 1 loài bọ khổng lồ bên trong, bằng chứng về sự sống tồn tại ngoài trái đất. Nhiều bằng chứng chứng tỏ vật mà NASA tìm được là hóa thạch dựa trên các chondrule, lớp vỏ nóng chảy, thành phần hóa học và con bọ không giống với bất kì loài động vật nào từng tồn tại trên Trái Đất.
Thế nhưng, một bất ngờ đã xảy ra, khi chính các nhà khoa học và người phụ trách tạp chí Hải dương học phát hiện rằng vật thể lạ đó không phải là một thiên thạch, nó chỉ là mắt xích của một âm mưu dối trá nhằm che đậy sự thất bại và sự đầu tư không hợp lý của chính phủ vào một công trình khoa học không phục vụ hữu ích cho dân sinh.
Điều đáng nói thêm ở đây là tính cố chấp và sự kiên quyết che dấu âm mưa, duy trì sự dối trá đến cùng bất chấp thủ đoạn của giới quan chức trong bộ máy nhà nước. Và cũng như trong tác phẩm Pháo đài số, người ta không màng đến quyền công dân, tính mạng công dân, sự xác tín trong khoa học, cốt chỉ đạt được mục đích của mình về tài chính, quyền lực. Và nó được che đậy dưới vỏ bọc là lòng trung thành với nhà nước, bảo vệ một chế độ mà theo quan điểm cá nhân của những người tiến hành dối trá là tiến bộ và cần thiết đối với đất nước và nhân dân.
Khi sự việc được sáng tỏ, thì chính vị Tổng thống đương nhiệm đã phải công bố chính thức về sự nhầm lẫn này với toàn thể nhân dân. Một lần nữa khoa học lại giành được chiến thắng. Ở đây phải hiểu là nó thắng tính vụ lợi trong mưu cầu lợi ích cá nhân về tài chính cũng như quyền lực chính trị. Nó cho thấy khoa học chân chính không bao giờ đồng hành với những điều đó. Khoa học bao giờ cũng đứng về lẽ phải, cũng hướng tới sự thật!
Chúng tôi đã lược dẫn những chi tiết chính của hai tác phẩm thuộc nhóm 02 để các bạn có được một cái nhìn toàn diện đối với nội dung tư tưởng của hai tác phẩm này. Và như chúng tôi đã khẳng định ở trên, mối quan tâm chính được tác giả thể hiện trong hai tác phẩm này chính là mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ với chính trị - nhà nước. Trong mối quan hệ này thì sự ưu tiên nổi lên hàng đầu trong việc giải quyết mâu thuẫn, xung đột là tính chân thực và cốt lõi là vấn đề đảm bảo các quyền cơ bản của con người.
Trong hai tác phẩm này, chúng ta nhận thấy mẫu thuẫn giữa khoa học và chính trị - nhà nước là mâu thuẫn thuộc về quyền lợi, trong đó các nhà khoa học luôn phấn đấu và cống hiến cho quyền lợi chung, toàn dân, cho sự tiến bộ của loài người; ngược lại, một bộ phận trong giới quan chức chính trị - nhà nước, trong một chừng mực nào đó, lại sử dụng khoa học vào những mục đích có tính chất phục vụ lợi ích cá nhân, bộ phận, cản trở sự phát triển nhận thức đúng đắn của loài người về thế giới xã hội. Tính chất đối lập, mâu thuẫn này chỉ mất đi khi nhà nước thực hiện đúng chức năng của mình, không xem khoa học như một yếu tố công cụ đơn thuần như tôn giáo trước đây. Và điều này ở thời điểm hiện tại chưa thể giải quyết triệt để được. Nhưng trong các tác phẩm của mình, Dan Brown luôn thể hiện một tinh thần lạc quan, một niềm tin chắc chắn vào tương lai. Cái cảm quan hướng tới tương lai của tác giả cũng là một đặc tính của thể loại tiểu thuyết!
(Xem tiếp phần 02: Bàn về yếu tố vụ án và các thủ pháp nghệ thuật)
Chú Thích:
[1] (The Da Vinci code- 2004, Digital Fortress- 2006 , The deception point- 2007, Angels and demons- 2007)
[2] M.Bahktin (1895-1975) là nhà mỹ học, lý luận văn học, văn hoá, ngôn ngữ học người Nga
[3] Chúng tôi chọn cụm từ này vì nó diễn đạt được cả mặt tự nhiên lẫn xã hội-con người một cách trọn vẹn.
[4] S.Freud (1856 - 1939) – người sáng lập ra ngành phâm tâm học.
[5] Sigmun Freud, 2001, Nguồn gốc của văn hoá và tôn giáo (Vật ổ và Cấm kỵ), Lương Văn Kế dịch. NXB DHQG, HN.
[6] Alvin Toffler. Thăng trầm quyền lực (power shift). Khổng Đức dịch. NXb. Thanh Niên.TH.2002.
[7] Khoa học hiện đại đã chứng minh được rằng, ngay cả đối với lĩnh vực sinh học, quy luật đấu tranh sinh tồn của Darwin cũng cần được bổ sung thêm ở khía cạnh: trên thực tế, các loài bị diệt vong không biến mất hoàn toàn, nó vẫn được tái sinh ở một số thuộc tính nhất định ở những loài kế cận.
[8] Theo phát hiện của Dan Brown thì L. Da Vinci cũng chính là một hiệp sĩ.
[9] Những điểm mù, vùng mù mà tôi dùng ở đây xin các bạn không hiểu nó theo nghĩa là điểm mờ, vùng mờ, tập mờ của toán học. Tôi sẽ trình bày vấn đề vận dụng Lý thuyết toán tập mờ trong nghiên cứu khoa học xã hội và văn học ở thời điểm khác.
[10] Xin xem bài Chén thánh để biết rõ hơn về điểm này.
[11] Xin xem thêm bài Hiệp sĩ bàn tròn để biết rõ hơn.
[12] Khi tái bản lần thứ 4, Mật mã Da Vinci, đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất, đứng đầu danh sách những cuốn sách bán chạy nhất của nhật báo The New York Times (New York Times Best Seller list) trong suốt tuần đầu tiên khi tái bản. Giờ đây, tiểu thuyết này được đánh giá là một trong những cuốn sách nổi tiếng nhất của mọi thời đại (mặc dù xung quanh cuốn tiểu thuyết này có những ý kiến phê bình trái ngược nhau) với 60,5 triệu bản sách được bán trên toàn cầu tính đến năm 2006.
[13] Tương ứng với giai đoạn này là việc xây dựng Nhà nước theo mô hình của phái Giáo Quyền (xuất phát từ quan điểm của các nhà tư tưởng theo thuyết thần học về nguồn gốc nhà nước: Thượng đế - nhà nước - bất biến – vĩnh cữu ): Thượng đế - Nhân Loại (phân làm hai nhánh):
+ Tinh thần = Giáo hoàng
+ Thể chất = Vua
[14] Là những người giảng dạy các học thuyết theo quan điểm duy vật biện chứng sơ khai.
[15] Copernic Nicolas (1473-1543): nhà thiên văn học Ba Lan, đã xây dựng lại bức tranh khoa học về vũ trụ, chứng minh Trái Đất cùng các hình thức khác quay quanh Mặt Trời.
[16] Riêng đối với vấn đề về sự quan tâm đặc biệt của thế giới (đặc biệt là phương Tây) đối với Phật giáo tôi sẽ bàn tới ở một dịp khác để tránh đi quá xa vấn đề chính của bài viết này.
[17] Chúng tôi dùng khái niệm này vì bất cứ một thể chế chính nào cũng có một cơ cấu tổ chức các cơ quan chính quyền tương ứng của nó.
[18] Tất nhiên, nhà nước ở đây vẫn phải hiểu nó với chức năng cơ bản, bao trùm là quản lý và điều hành xã hội nói chung. Mối quan hệ giữa nhà nước – khoa học và công nghệ chỉ là một nhánh trong tổng thể các mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội mà thôi.
[19] Xin xem thêm: Thomas L. Friedman, 2006, Thế giới phẳng (Tóm lược lịch sử Thế giới Thế kỷ 21 - The World is Flat...), Nxb Trẻ, HCM; và cuốn: Thomas L. Friedman, 2005, Chiếc Lexus và cây Ô Liu (The Lexus and the Olive tree) - Toàn cầu hoá là gì? , Nxb KHXH, HN.
[20] Nói chính trị và nhà nước ở đây xin hiểu chủ yếu là nền chính trị, nhà nước ở phương Tây, vì Dan Brown lấy cứ liệu cho các tác phẩm của mình chủ yếu ở khu vực này.
[21] Như NSA đã luôn vi phạm bản quyền con người và việc tất cả bí mật riêng tư qua mạng luôn vi phạm bản quyền con người và việc tất cả bí mật riêng tư qua mạng.
[3] Chúng tôi chọn cụm từ này vì nó diễn đạt được cả mặt tự nhiên lẫn xã hội-con người một cách trọn vẹn.
[4] S.Freud (1856 - 1939) – người sáng lập ra ngành phâm tâm học.
[5] Sigmun Freud, 2001, Nguồn gốc của văn hoá và tôn giáo (Vật ổ và Cấm kỵ), Lương Văn Kế dịch. NXB DHQG, HN.
[6] Alvin Toffler. Thăng trầm quyền lực (power shift). Khổng Đức dịch. NXb. Thanh Niên.TH.2002.
[7] Khoa học hiện đại đã chứng minh được rằng, ngay cả đối với lĩnh vực sinh học, quy luật đấu tranh sinh tồn của Darwin cũng cần được bổ sung thêm ở khía cạnh: trên thực tế, các loài bị diệt vong không biến mất hoàn toàn, nó vẫn được tái sinh ở một số thuộc tính nhất định ở những loài kế cận.
[8] Theo phát hiện của Dan Brown thì L. Da Vinci cũng chính là một hiệp sĩ.
[9] Những điểm mù, vùng mù mà tôi dùng ở đây xin các bạn không hiểu nó theo nghĩa là điểm mờ, vùng mờ, tập mờ của toán học. Tôi sẽ trình bày vấn đề vận dụng Lý thuyết toán tập mờ trong nghiên cứu khoa học xã hội và văn học ở thời điểm khác.
[10] Xin xem bài Chén thánh để biết rõ hơn về điểm này.
[11] Xin xem thêm bài Hiệp sĩ bàn tròn để biết rõ hơn.
[12] Khi tái bản lần thứ 4, Mật mã Da Vinci, đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất, đứng đầu danh sách những cuốn sách bán chạy nhất của nhật báo The New York Times (New York Times Best Seller list) trong suốt tuần đầu tiên khi tái bản. Giờ đây, tiểu thuyết này được đánh giá là một trong những cuốn sách nổi tiếng nhất của mọi thời đại (mặc dù xung quanh cuốn tiểu thuyết này có những ý kiến phê bình trái ngược nhau) với 60,5 triệu bản sách được bán trên toàn cầu tính đến năm 2006.
[13] Tương ứng với giai đoạn này là việc xây dựng Nhà nước theo mô hình của phái Giáo Quyền (xuất phát từ quan điểm của các nhà tư tưởng theo thuyết thần học về nguồn gốc nhà nước: Thượng đế - nhà nước - bất biến – vĩnh cữu ): Thượng đế - Nhân Loại (phân làm hai nhánh):
+ Tinh thần = Giáo hoàng
+ Thể chất = Vua
[14] Là những người giảng dạy các học thuyết theo quan điểm duy vật biện chứng sơ khai.
[15] Copernic Nicolas (1473-1543): nhà thiên văn học Ba Lan, đã xây dựng lại bức tranh khoa học về vũ trụ, chứng minh Trái Đất cùng các hình thức khác quay quanh Mặt Trời.
[16] Riêng đối với vấn đề về sự quan tâm đặc biệt của thế giới (đặc biệt là phương Tây) đối với Phật giáo tôi sẽ bàn tới ở một dịp khác để tránh đi quá xa vấn đề chính của bài viết này.
[17] Chúng tôi dùng khái niệm này vì bất cứ một thể chế chính nào cũng có một cơ cấu tổ chức các cơ quan chính quyền tương ứng của nó.
[18] Tất nhiên, nhà nước ở đây vẫn phải hiểu nó với chức năng cơ bản, bao trùm là quản lý và điều hành xã hội nói chung. Mối quan hệ giữa nhà nước – khoa học và công nghệ chỉ là một nhánh trong tổng thể các mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội mà thôi.
[19] Xin xem thêm: Thomas L. Friedman, 2006, Thế giới phẳng (Tóm lược lịch sử Thế giới Thế kỷ 21 - The World is Flat...), Nxb Trẻ, HCM; và cuốn: Thomas L. Friedman, 2005, Chiếc Lexus và cây Ô Liu (The Lexus and the Olive tree) - Toàn cầu hoá là gì? , Nxb KHXH, HN.
[20] Nói chính trị và nhà nước ở đây xin hiểu chủ yếu là nền chính trị, nhà nước ở phương Tây, vì Dan Brown lấy cứ liệu cho các tác phẩm của mình chủ yếu ở khu vực này.
[21] Như NSA đã luôn vi phạm bản quyền con người và việc tất cả bí mật riêng tư qua mạng luôn vi phạm bản quyền con người và việc tất cả bí mật riêng tư qua mạng.





bathoi02