Diễn Đàn » Thơ dịch

Đường Thi Trích Dịch V - Anh Nguyên

208 trả lời, 28.540 lượt xem — Trang 7 / 7
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 06:21:41 bởi Anh Nguyên>
 
ĐỀ PHÁ SƠN TỰ HẬU THIỀN VIỆN
 
題 破 山 寺 後 禪 院
 
清 晨 入 古 寺,
初 日 照 高 林。
曲 徑 通 幽 處,
禪 房 花 木 深。
山 光 悅 鳥 性,
潭 影 空 人 心。
萬 籟 此 俱 寂,
惟 聞 鐘 磬 音。
常 建
 
Thanh thần nhập cổ tự,
Sơ nhật chiếu cao lâm.
Khúc kính thông u xứ,
Thiền phòng hoa mộc thâm.
Sơn quang duyệt điểu tính,
Đàm ảnh không nhân tâm.
Vạn lại thử câu tịch,
Duy văn chung khánh âm.
Thường-Kiến
 
Dịch:
 
Đề thiền viện sau chùa Phá-Sơn
 
Sớm mai, chùa cổ, bước vào,
Mặt trời mọc, chiếu rừng cao sáng bừng.
Đường quanh, che khuất cây rừng,
Phòng thiền rợp bóng cây cùng cỏ hoa.
Chim vui núi nắng chói loà,
Bóng đầm im lặng lòng ta nhẹ bồng.
Nơi đây vạn tiếng đều không,
Chỉ nghe chuông khánh thiền phòng vang ra...
Anh-Nguyên   
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 06:23:13 bởi Anh Nguyên>
 
TÚC VƯƠNG XƯƠNG LINH ẨN CƯ
 
宿 王 昌 齡 隱 居
 
清 溪 深 不 測,
隱 處 唯 孤 雲。
松 際 露 微 月,
清 光 猶 為 君。
茅 亭 宿 花 影,
藥 院 滋 苔 紋。
余 亦 謝 時 去,
西 山 鸞 鶴 群。
常 建
 
Thanh khê thâm bất trắc,
Ẩn xứ duy cô vân.
Tùng tế lộ vi nguyệt,
Thanh quang do vị quân.
Mao đình túc hoa ảnh,
Dược viện tư đài văn.
Dư diệc tạ thời khứ,
Tây sơn loan hạc quần.
Thường-Kiến
 
Dịch:
 
Ở nhà ẩn sĩ Vương-Xương-Linh
 
Suối trong, sâu chẳng thể lường,
Ẩn cư, chỉ thấy mây vương đỉnh trời.
Rừng thông lọt ánh trăng lơi,
Ánh trăng trong vắt giữa trời vì anh.
Bóng hoa vào trú mái tranh
Rêu lan phòng thuốc trông thành vẽ hoa.
Cũng thời ta phải đi xa,
Núi tây, loan hạc chờ ta xum vầy.
Anh-Nguyên
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.06.2022 17:26:27 bởi Anh Nguyên>
 
THƯỢNG QUAN NGHI
 
LẠC ĐÊ HIỂU HÀNH
 
洛 堤 曉 行
 
脈 脈 廣 川 流
驅 馬 歷 長 洲
鵲 飛 山 月 曙
蟬 噪 野 風 秋
上 官 儀
 
Mạch mạch quảng xuyên lưu,
Khu mã lịch trường châu.
Thước phi sơn nguyệt thự,
Thiền táo dã phong thu.
Thượng-Quan-Nghi
 
Dịch:
 
Buổi sóm đi trên đê sông Lạc
 
Cuồn cuộn khúc sông sâu,
Bãi dài giục vó câu.
Trăng non ngời cánh thước,
Gió nội rộn ve sầu.
Lê-Nguyễn-Lưu
 
Cuồn cuộn, mênh mông, sông chẩy mau,
Bãi dài, thẳng tắp, giục vó câu.
Thước bay, trăng núi, trời hửng sáng,
Đồng sớm ve kêu, Thu gió sầu...
Anh-Nguyên 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.06.2022 13:54:02 bởi Anh Nguyên>
 
TIỀN KHỞI
 
PHÙNG HIỆP GIẢ
 
逢 俠 者
 
燕 趙 悲 歌 士
相 逢 劇 孟 家
寸 心 言 不 盡
前 路 白 將 斜
錢 起
 
Yên triệu bi ca sĩ,
Tương phùng kịch mạnh gia.
Thốn tâm ngôn bất tận,
Tiền lộ nhật tương tà.
Tiền-Khởi
 
Dịch:
 
Gặp hiệp khách
 
Sĩ phu Yên, Triệu buồn ca,
Hẹn cùng Kịch Mạnh tại nhà đến chơi.
Tấc lòng, nói chẳng hết lời,
Đường đi phía trước mặt trời xuống mau...
Anh-Nguyên
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 06:49:13 bởi Anh Nguyên>
 
GIANG HÀNH VỌNG KHUÔNG LƯ
 
江 行 望 匡 廬
 
咫 尺 愁 風 雨
匡 廬 不 可 登
祗 疑 雲 霧 窟
猶 有 六 朝 僧
錢 起
 
Chỉ xích sầu phong vũ,
Khuông lư bất khả đăng.
Chỉ nghi vân vụ quật,
Do hữu lục triều tăng.
Tiền-Khởi
 
Dịch:
 
Đi trên sông ngắm núi Khuông-Lư
 
Cách gang tấc, gặp gió mưa,
Không lên được núi Khuông-Lư, thật buồn.
Nghi hang, sương móc đương buông,
Lục-Triều, sư cụ còn đương tham thiền...
Anh-Nguyên
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 10:43:02 bởi Anh Nguyên>
 
ĐỀ THÔI DẬT NHÂN SƠN ĐÌNH
 
題 崔 逸 人 山 亭
 
藥 徑 深 紅 蘚,
山 窗 滿 翠 微。
羨 君 花 下 酒,
蝴 蝶 夢 中 飛。
錢 起
 
Dược kính thâm hồng tiển,
Sơn song mãn thúy vi.
Tiện quân hoa hạ túy,
Hồ điệp mộng trung phi.
Tiền-Khởi
 
Dịch:
 
Đề nhà ẩn sĩ họ Thôi
 
Lối đi vườn thuốc rêu hồng,
Cửa song trên núi khí lồng xanh xanh.
Dưới hoa, say, ngủ đi anh,
Để cho bướm liệng yên lành trong mơ...
Anh-Nguyên
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 10:44:28 bởi Anh Nguyên>
 
GIANG HÀNH
 
江 行
 
睡 穩 葉 舟 輕
風 微 浪 不 惊
任 君 蘆 葦 岸
終 夜 動 秋 聲
錢 起
 
Thụy ổn diệp chu khinh,
Phong vi lãng bất kinh.
Nhiệm quân lô vĩ ngạn,
Chung dạ động thu thanh.
Tiền-Khởi
 
Dịch:
 
Đi thuyền trên sông
 
Ngủ yên, thuyền nhỏ nhẹ tênh,
Gió làm gợn sóng, bập bềnh sợ chi.
Mặc bờ lau sậy rù rì,
Suốt đêm xào xạc khác gì tiếng Thu...
Anh-Nguyên      
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 10:46:20 bởi Anh Nguyên>
 
QUY NHẠN
 
歸 雁
 
瀟 湘 何 事 等 閒 回
水 碧 沙 明 兩 岸 苔
二 十 五 絃 彈 夜 月
不 勝 清 怨 郤 飛 來
錢 起
 
Tiêu tương hà sự đẳng nhàn hồi,
Thủy bích sa minh lưỡng ngạn đài.
Nhị thập ngũ huyền đàn dạ nguyệt,
Bất thăng thanh oán khước phi lai.
Tiền-Khởi
 
Dịch:
 
Nhạn bay trở về
 
Tiêu-Tương, sao đến lại về?
Nước xanh, cát sáng, tràn trề bờ rêu.
Hăm lăm dây thánh thót kêu,
Đêm nghe ai oán nên đều bỏ đi!...
Anh-Nguyên                     
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.06.2022 12:00:42 bởi Anh Nguyên>
 
MỘ XUÂN QUY CỐ SƠN THẢO ĐƯỜNG
 
暮 春 歸 故 山 草 堂
 
谷 口 春 殘 黃 鳥 稀
辛 夷 花 盡 杏 花 飛
始 憐 幽 竹 山 窗 下
不 改 青 陰 待 我 歸
錢 起
 
Cốc khẩu xuân tàn hoàng điểu hi,
Tân di hoa tận hạnh hoa phi.
Thủy liên u trúc sơn song hạ,
Bất cải thanh âm đãi ngã quy.
Tiền-Khởi
 
Dịch:
 
Cuối xuân, về mái tranh núi cũ
 
Xuân tàn, Cốc-Khẩu oanh thưa,
Tân Di hoa hết, hạnh vừa tàn, bay...
Dưới song núi, trúc, thương thay,
Sắc xanh chẳng đổi, chờ nay ta về !...
Anh-Nguyên  
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 10:50:15 bởi Anh Nguyên>
 
ĐỀ CỐC KHẨU THƯ TRAI
 
題 谷 口 書 齋
 
泉 壑 帶 茅 茨,
雲 霞 生 薜 帷。
竹 憐 新 雨 後,
山 愛 夕 陽 時。
閒 鷺 棲 常 早,
秋 花 落 更 遲。
家 童 掃 羅 徑,
昨 與 故 人 期。
錢 起
 
Tuyền hác đới mao tì,
Vân hà sinh bệ duy.
Trúc liên tân vũ hậu,
Sơn ái tịch dương thì.
Nhàn lộ thê thường tảo,
Thu hoa lạc cánh trì.
Gia đồng tảo la kính,
Tạc dữ cố nhân lai.
Tiền-Khởi
 
Dịch:
 
Đề phòng sách nơi Cốc-Khẩu
 
Suối, khe, cỏ đã mọc đầy,
Ráng, mây, bờ giậu, còn bay la đà,
Trúc, thương, vừa mới mưa qua,
Núi non, thích lúc chiều tà ánh dương.
Cò về đậu sớm, lệ thường,
Hoa Thu rơi chậm, còn vương nỗi lòng.
Lối đi, trẻ quét chưa xong,
Hôm qua, bạn hẹn đi rong ghé nhà...
Anh-Nguyên
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.06.2022 12:06:53 bởi Anh Nguyên>
 
BÁN NHẬT THÔN
 
半 日 村
 
半 日 吳 村 帶 晚 霞, 
閒 門 高 柳 亂 飛 鴉。
橫 雲 嶺 外 千 重 樹,
流 水  聲 中 一 兩 家。
愁 人 昨 夜 相 思 苦,
閏 月 今 年 春 意 賒。
自 歎 梅 生 頭 似 雪,
卻 憐 潘 令 縣 如 花。
錢 起
 
Bán nhật ngô thôn đới vãn hà,
Nhàn môn cao liễu loạn phi nha.
Hoành vân lĩnh ngoại thiên trùng thụ,
Lưu thủy thanh trung nhất lưỡng gia.
Sầu nhân tạc dạ tương tư khổ,
Nhuận nguyệt kim niên xuân ý xa.
Tự thán mai sinh đầu tự tuyết,
Khước liên phan lệnh huyện như hoa.
Tiền-Khởi
 
Dịch:
 
Thôn Bán-Nhật
 
Xứ Ngô, Bán-Nhật ráng chiều,
Liễu cao nơi cổng, có nhiều quạ bay.
Mây giăng nghìn núi, rừng cây,
Nước trong róc rách, đó đây hai nhà.
Người thương, nhớ, khổ đêm qua,
Năm nay tháng nhuận chưa là vào Xuân.
Mai Thừa đầu tuyết bạc dần,
Lại thương Phan Nhạc tóc gần như hoa...
Anh-Nguyên                  
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 10:52:37 bởi Anh Nguyên>
 
TẶNG KHUYẾT HẠ BÙI XÁ NHÂN
 
贈 闕 下 裴 舍 人
 
二 月 黃 鸝 飛 上 林,
春 城 紫 禁 曉 陰 陰。
長 樂 鐘 聲 花 外 盡,
龍 池 柳 色 雨 中 深。
陽 和 不 散 窮 途 恨,
霄 漢 長 懷 捧 日 心。
獻 賦 十 年 猶 未 遇,
羞 將 白 髮 對 華 簪。
錢 起
 
Nhị nguyệt hoàng ly phi thượng lâm,
Xuân thành tử cấm vãn âm âm.
Trường lạc chung thanh hoa ngoại tận,
Long trì liễu sắc vũ trung thâm.
Dương hòa bất tán cùng đồ hận,
Tiêu hán thường huyền bổng nhật tâm.
Hiến phú thập niên do vị ngộ,
Tu tương bạch phát đối hoa trâm.
Tiền-Khởi
 
Dịch:
 
Tặng xá nhân họ Bùi
 
Tháng hai, oanh liệng Thượng-Lâm,
Thành Xuân, cung cấm chiều dần tối thêm.
Tiếng chuông Trường-Lạc vang lên,
Long-Trì, liễu biếc bên thềm tắm mưa.
Nỗi hờn, hơi ấm khó xua,
Sông Ngân nâng đỡ lòng vừa nghĩa, nhân.
Uổng công dâng phú bao lần,
Thẹn đem tóc bạc kề gần trâm hoa...
Anh-Nguyên        
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 10:54:44 bởi Anh Nguyên>
 
HOẠ VƯƠNG VIÊN NGOẠI TÌNH TUYẾT TẢO TRIỀU
 
和 王 員 外 雪 晴 早 朝
 
紫 微 晴 雪 帶 恩 光,
繞 仗 偏 隨 鴛 鷺 行。
長 信 月 留 寧 避 曉,
宜 春 花 滿 不 飛 香。
獨 看 積 素 凝 清 禁,
已 覺 輕 寒 讓 太 陽。
題 柱 盛 名 兼 絕 唱,
風 流 誰 繼 漢 田 郎。
錢 起
 
Tử vi tình tuyết đới ân quang,
Nhiễu trượng thiên tùy uyên lộ hàng.
Trường tín nguyệt lưu ninh tị hiểu,
Nghi xuân hoa mãn bất phi hương.
Độc khan tích tố ngưng thanh cấm,
Dĩ giác khinh hàn nhượng thái dương.
Đề trụ thịnh danh kiêm tuyệt xướng,
Phong lưu thùy kế hán điền lang.
Tiền-Khởi
 
Dịch:
 
Hoạ bài "Tuyết tan chầu sớm"
 
Tử-Vi, tuyết dứt, nắng vàng,
Lại bày nghi trượng cạnh hàng lộ, uyên.
Trăng soi Trường-Tín suốt đêm,
Nghi-Xuân, hoa nở trước thềm chẳng thơm.
Cấm thành đượm vẻ trắng trơn,
Mới hay se lạnh chẳng hơn mặt trời.
Trụ đề nổi tiếng tuyệt vời,
Phong lưu, ai nối Điền đời Hán chăng?...
Anh-Nguyên    
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.06.2022 14:11:24 bởi Anh Nguyên>
 
TIẾT ĐÀO

VỌNG XUÂN TỪ
 
望 春 詞
 
花 開 不 同 賞,
花 落 不 同 悲。
欲 問 相 思 處,
花 開 花 落 時。
薛 濤
 
Hoa khai bất đồng thưởng,
Hoa lạc bất đồng bi.
Dục vấn tương tư xứ,
Hoa khai hoa lạc thì.
Tiết-Đào
 
Dịch:
 
Trông ngóng Xuân
 
Ngắm hoa nở, chẳng được cùng,
Nhìn hoa rơi rụng, chẳng chung nhau sầu.
Nhớ nơi đâu muốn hỏi nhau,
Khi hoa nở, rụng vui sầu hỏi han...
 
Ngắm hoa nở, chẳng vui cùng,
Nhìn hoa rụng, cũng chẳng chung nỗi buồn.
Nhớ nơi đâu, muốn hỏi luôn,
Lúc hoa nở, rụng, vui buồn hỏi nhau...
Anh-Nguyên
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 10:57:09 bởi Anh Nguyên>
 
TỐNG HỮU NHÂN
 
送 友 人
 
水 國 蒹 葭 夜 有 霜
月 寒 山 色 共 蒼 蒼
誰 言 千 里 自 今 夕
離 別 杳 如 關 路 長
薛 濤
 
Thủy quốc kiêm hà dạ hữu sương,
Nguyệt hàn sơn sắc cộng thương thương.
Thùy ngôn thiên lý tự kim tịch,
Ly mộng yểu như quan lộ trường.
Tiết-Đào
 
Dịch:
 
Tiễn bạn
 
Sương khuya ướt cỏ bên bờ,
Núi trăng một vẻ xanh mờ xa xa.
Dặm trường ai nói phôi pha,
Viễn phương mờ mịt quan hà biệt ly.
Ngụy-Vạn-Lim
 
Đêm về lau sậy mờ sương,
Núi non, trăng lạnh, một phương xanh mờ.
Bảo xa nghìn dặm từ giờ?
Sầu ly biệt tựa đường mờ mịt xa...
Anh-Nguyên          
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 10:58:41 bởi Anh Nguyên>
 
TIẾT OÁNH

THU NHẬT HỒ THƯỢNG
 
秋 日 湖 上
 
落 日 五 湖 遊
煙 波 處 處 愁
浮 沈 千 古 事
誰 與 問 東 流
薛 瑩
 
Lạc nhật ngũ hồ du,
Yên ba xứ xứ sầu.
Phù trầm thiên cổ sự,
Thùy dữ vấn đông lưu.
Tiết-Oánh
 
Dịch:
 
Ngày Thu trên hồ
 
Ngũ-Hồ, ác lặn, dạo chơi,
Sóng vờn, khói phủ, khắp nơi đều buồn.
Chuyện xưa, chìm nổi nhớ luôn,
Về đông, sao nước cứ tuôn theo dòng...
Anh-Nguyên
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 11:01:44 bởi Anh Nguyên>
 
TIẾT PHÙNG

CUNG TỪ
 
宮 詞
 
十 二 樓 中 盡 曉 粧,
望 仙 樓 上 望 君 王。
鎖 銜 金 獸 連 環 冷,
水 滴 銅 龍 晝 漏 長。
雲 髻 罷 梳 還 對 鏡,
羅 衣 欲 換 更 添 香。
遙 窺 正 殿 帘 開 處,
袍 褲 宮 人 掃 御 床。
 薛 逢
 
Thập nhị lâu trung tận hiểu trang,
Vọng tiên lâu thượng vọng quân vương.
Tỏa hàm kim thú liên hoàn lãnh,
Thủy trích đồng long trú lậu trường.
Vân cát bãi sơ hoàn đối kính,
La y dục hoán cánh thiêm hương.
Dao khuy chính điện liêm khai xứ,
Bào khố cung nhân tảo ngự sàng.
Tiết-Phùng
 
Dịch:
 
Việc trong cung
 
Mười hai lầu, điểm trang xong,
Vọng-Tiên, lên gác, nóng lòng chờ vua.
Đôi khoen, khóa thú vàng lùa,
Rồng đồng, giọt nước đong đưa, ngày dài.
Tóc mây, chải ngắm gương hoài,
Sắp thay áo lụa còn nài thêm hương.
Xa nhòm chánh điện rèm buông,
Gái hầu váy ngắn quét giường cho vua...
Anh-Nguyên
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 11:20:16 bởi Anh Nguyên>
 
HÁN VŨ CUNG TỪ
 
漢 武 宮 辭
 
漢 武 清 齋 夜 筑 壇,
自 斟 明 水 醮 仙 官。
殿 前 玉 女 移 香 案,
雲 際 金 人 捧 露 盤。
絳 節 幾 時 還 入 夢,
碧 桃 何 處 更 驂 鸞。
茂 陵 煙 雨 埋 弓 劍,
石 馬 無 聲 蔓 草 寒。
薛逢
 
Hán vũ thanh trai dạ hướng đàn,
Tự châm minh thủy tiến tiên quan.
Điện tiền ngọc nữ di thiên án,
Vân tế kim nhân phủng lộ bàn.
Giáng tiết kỷ thì hoàn nhập mộng,
Bích đào hà xứ cánh tham loan.
Mậu lăng yên vũ mai cung kiếm,
Thạch mã vô thanh mạn thảo hàn.
Tiết-Phùng
 
Dịch:
 
Vua Hán-Vũ
    
Giữ chay, Hán Vũ lên đàn,
Tự tay rót nước trong làm lễ tiên.
Điện, bàn, ngọc nữ dâng lên,
Kim nhân hứng móc, đứng liền dưới mây.
Mộng mơ, Giáng-Tiết vào đây,
Bích-Đào, loan cỡi vui vầy nơi đâu?
Mậu-Lăng, cung kiếm vùi lâu,
Im lìm ngựa đá, lạnh mầu cỏ xanh...
Anh-Nguyên                          
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 11:22:24 bởi Anh Nguyên>
 
KHAI NGUYÊN HẬU NHẠC
 
開 元 後 樂
 
莫 奏 開 元 舊 樂 章,
樂 中 歌 曲 斷 人 腸。
邠 王 玉 笛 三 更 咽,
虢 國 金 車 十 里 香。
一 自 犬 戎 生 薊 北,
便 從 征 戰 老 汾 陽。
中 原 駿 馬 搜 求 盡,
沙 苑 年 來 草 又 芳。
薛逢
 
Mạc tấu khai nguyên cựu nhạc chương,
Nhạc trung ca khúc đoạn nhân trường.
Bân vương ngọc địch tam canh yết,
Quắc quốc kim xa thập lý hương.
Nhất tự khuyển nhung sinh kế bắc,
Tiện tòng chinh chiến lão phần dương.
Trung nguyên tuấn mã sưu cầu tận,
Sa uyển niên lai thảo hựu phương.
Tiết-Phùng
 
Dịch:
 
Khúc nhạc sau Khai-Nguyên
 
Đừng đàn khúc nhạc Khai-Nguyên,
Nghe lời ca ấy, lòng liền nát tan.
Bân-Vương, sáo ngọc oán than,
Xe vàng Quắc-Quốc hương tràn dặm xa.
Giặc nơi Kế-Bắc bung ra,
Phần-Dương chinh chiến mọi nhà xác xơ.
Trung-Nguyên, ngựa tốt, vét vơ,
Sang năm, Sa-Uyển cỏ giờ ngát hương...
Anh-Nguyên     
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 11:24:27 bởi Anh Nguyên>
 
TIẾT TẮC 
 
THU TRIÊU LÃM KÍNH
 
秋 朝 覽 鏡
 
客 心 驚 落 木
夜 坐 聽 秋 風
朝 日 看 容 髮
生 涯 在 鏡 中
薛 稷
 
Thu triêu lãm kính
 
Khách tâm kinh lạc mộc,
Dạ tọa thính thu phong.
Triêu nhật khan dung mấn,
Sinh nhai tại kính trung.
Tiết-Tắc
 
Dịch:
 
Sớm Thu soi gương
 
Thấy cây rụng lá, dạ kinh,
Gió Thu đêm thổi, một mình ngồi nghe.
Sáng nhìn đầu tóc mà ghê,
Làm ăn vất vả khó che gương này...
Anh-Nguyên 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.06.2022 14:27:51 bởi Anh Nguyên>
 
TÔ ĐĨNH
 
PHẦN THƯỢNG KINH THU
 
汾 上 驚 秋
 
北 風 吹 白 雲
萬 里 渡 河 汾
心 緒 逢 搖 落
秋 聲 不 可 聞
蘇 頲
 
Bắc phong xuy bạch vân,
Vạn lý độ hà phần.
Tâm tự phùng dao lạc,
Thu thanh bất khả văn.
Tô-Đĩnh
 
Dịch:
 
Trên sông Phần, ngại mùa Thu
 
Gió từ bắc thổi mây bay,
Đường dài vạn dặm qua đây sông Phần.
Nỗi lòng, lá rụng, bâng khuâng,
Tiếng Thu chẳng để tâm thần lắng nghe...
Anh-Nguyên 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.06.2022 14:31:53 bởi Anh Nguyên>
  
TÔ QUẢNG VĂN 
 
TÚC ĐÀO LỆNH ẨN CƯ
 
宿 陶 令 隱 居

聞 道 桃 源 堪 避 秦,
尋 幽 數 日 不 逢 人。
煙 霞 洞 裏 無 雞 犬,
風 雨 林 中 有 鬼 神。
黃 公 石 上 三 芝 秀,
陶 令 門 前 五 柳 春。
醉 臥 白 雲 閒 入 夢,
不 知 何 物 是 吾 身。
 蘇 廣 文
 
Văn đạo hoa nguyên kham tị tần,
Tầm u sổ nhật bất phùng nhân.
Yên hà động lý vô kê khuyển,
Phong vũ lâm trung hữu qủy thần.
Hoàng công thạch thượng tam chi tú,
Đào lệnh môn tiền ngũ liễu xuân.
Túy ngọa bạch vân nhàn nhập mộng,
Bất tri hà vật thị ngô thân.
Tô-Quảng-Văn
 
Dịch:
 
Trọ nhà ở ẩn của Đào-Tiềm

Lánh Tần, ở ẩn nguồn hoa,
Mấy ngày, chốn vắng, tìm ra đâu người.
Chó, gà, động vắng im hơi,
Trong rừng mưa gió, là nơi có thần.
Đá Hoàng, cành lá xanh rần,
Đào-Tiềm, trước ngõ liễu Xuân tươi mầu.
Trong mây, say, mộng vào mau,
Thân ta, chẳng biết từ đâu mà thành!...
Anh-Nguyên

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 11:35:38 bởi Anh Nguyên>
 
TỔ VỊNH
 
CHUNG NAM VỌNG DƯ TUYẾT
 
終 南 望 餘 雪

終 南 陰 嶺 秀,
積 雪 浮 雲 端。
林 表 明 霽 色,
城 中 增 暮 寒。
祖 詠
 
Chung nam âm lĩnh tú,
Tích tuyết phù vân đoan.
Lâm biểu minh tê sắc,
Thành trung tăng mộ hàn.
Tổ-Vịnh
 
Dịch:
 
Ngắm tuyết chưa tan trên núi Chung-Nam
 
Chung-Nam, trông núi đẹp xinh,
Tuyết còn đọng lại, tưởng hình mây trôi.
Ven rừng hoe ánh mặt trời,
Trong thành, khí lạnh, chiều rơi, tăng dần...
Anh-Nguyên 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.06.2022 12:12:01 bởi Anh Nguyên>
 
TÔ THỊ BIỆT NGHIỆP
 
蘇 氏 別 業
 
別 業 居 幽 處
到 來 生 隱 心
南 山 當 戶 牖
灃 水 映 園 林
竹 覆 經 寒 雪
庭 昏 未 夕 陰
寥 寥 人 境 外
閒 坐 聽 春 禽
祖 詠
 
Tô thị biệt nghiệp
 
Biệt nghiệp cư u xứ,
Đáo lai sinh ẩn tâm.
Nam sơn đương hộ dũ,
Phong thủy ánh viên lâm.
Trúc phú kinh hàn tuyết,
Đình hôn vị tịch âm.
Liêu liêu nhân cảnh ngoại,
Nhàn tọa thính xuân cầm.
Tổ-Vịnh
 
Dịch:
 
Nhà ở ẩn họ Tô
 
Nhà trong chốn vắng xa xôi,
Đến đây, lòng muốn sống đời ẩn cư.
Chung-Nam, trước cổng im lừ,
Dòng sông Phong cứ từ từ êm trôi.
Hàng tre qua tuyết lạnh rồi,
Đêm chưa tối hẳn, sân thời mù rơi.
Vắng như ngoài cõi con người,
Nghe chim Xuân hót, ngồi chơi an nhàn...
Anh-Nguyên     
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.06.2022 12:18:17 bởi Anh Nguyên>
 
GIANG NAM LỮ TÌNH
 
江 南 旅 情
 
楚 山 不 可 極,
歸 路 但 蕭 條。
海 色 晴 看 雨,
江 聲 夜 聽 潮。
劍 留 南 斗 近,
書 寄 北 風 遙。
為 報 空 潭 橘,
無 媒 寄 洛 橋。
祖 詠
 
Sở sơn bất khả cực,
Quy lộ đản tiêu điều.
Hải sắc tình khan vũ,
Giang thanh dạ thính triều.
Kiếm lưu nam đẩu cận,
Thư ký bắc phong diêu.
Vị báo không đàm quất,
Vô môi ký lạc kiều.
Tổ-Vịnh
 
Dịch:
 
Tình lữ khách ở Giang-Nam
 
Núi non đất Sở không cùng,
Đường về quê cũ sao trông tiêu điều.
Biển quang thấy rõ mưa chiều,
Đêm nghe sông nước thủy triều dâng lên.
Để gươm Nam-Đẩu kế bên,
Gửi thư gió Bắc về miền xa xôi.
Quýt Không-Đàm, chửa nhắn lời,
Lạc-Kiều, ai biết, đến nơi nói dùm...
Anh-Nguyên
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 11:43:57 bởi Anh Nguyên>
  
VỌNG KẾ MÔN
 
望 薊 門
 
燕 臺 一 望 客 心 驚,
簫 鼓 喧 喧 漢 將 營。
萬 里 寒 光 生 積 雪,
三 邊 曙 色 動 危 旌。
沙 場 烽 火 連 胡 月,
海 畔 雲 山 擁 薊 城。
少 小 雖 非 投 筆 吏,
論 功 還 欲 請 長 纓。
祖 詠
 
Yên đài nhất khứ khách tâm kinh,
Già cổ huyên huyên hán tướng dinh.
Vạn lý hàn quang sinh tích tuyết,
Tam biên thự sắc động nguy tinh.
Sa trường phong hỏa xâm hồ nguyệt,
Hải bạn vân sơn ủng kế thành.
Thiếu tiểu tuy phi đầu bút lại,
Luận công hoàn dục thỉnh trường anh.
Tổ-Vịnh
 
Dịch:
 
Nhìn về ải Kế-Môn
 
Yên-Đài, rời khỏi, khách kinh,
Tiếng kèn, tiếng trống, Hán dinh ồn ào.
Tuyết muôn dặm sáng, lạnh sao!
Sáng, thành ba mặt, cờ cao lay hoài.
Trăng Hồ khuất lửa phong đài,
Kế-Thành, mây núi phủ dài thấy chi.
Lại, tuy không ném bút đi,
Luận công, lại muốn mũ chi dải dài...
Anh-Nguyên                
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 11:46:11 bởi Anh Nguyên>
 
TÔN ĐỊCH
 
QUAN VĨNH LẠC CÔNG CHỦ NHẬP PHIÊN
 
觀 永 樂 公 主 入 蕃
 
邊 地 鶯 花 少
年 來 未 覺 新
美 人 天 下 落
龍 塞 始 應 春
孫 逖
 
Quan Vĩnh-Lạc công chủ nhập Phiên
 
Biên địa oanh hoa thiểu,
Niên lai vị giác tân.
Mỹ nhân thiên thượng lạc,
Long tái thủy ưng xuân.
Tôn-Địch
 
Dịch:
 
Xem Công chúa Vĩnh-Lạc vào đất Phiên
 
Ngoài biên ít có oanh, hoa,
Xuân về, chưa thấy gì là mới đâu.
Mỹ nhân đi đến tuyến đầu,
Ải Long mới có chút mầu sắc Xuân...
Anh-Nguyên 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 11:47:04 bởi Anh Nguyên>
 
TÚC VÂN MÔN TỰ CÁC
 
宿 雲 門 寺 閣

香 閣 東 山 下,
煙 花 象 外 幽。
懸 燈 千 嶂 夕,
捲 幔 五 湖 秋。
畫 壁 餘 鴻 雁,
紗 窗 宿 斗 牛。
更 疑 天 路 近,
夢 與 白 雲 遊。
祖 詠
 
Hương các đông sơn hạ,
Yên hoa tượng ngoại u.
Huyền đăng thiên chướng tịch,
Quyển mạn ngũ hồ thu.
Họa bích dư hồng nhạn,
Sa song túc đẩu ngưu.
Cánh nghi thiên lộ cận,
Mộng dữ bạch vân du.
Tôn-Địch
 
Dịch:
 
Lầu Vân-Môn
 
Lầu hương ở dưới núi Đông,
Khói hoa, trông vẻ vô cùng thâm u.
Đèn treo, nghìn núi mịt mù,
Năm hồ, màn vén, vào Thu mất rồi.
Tường, hình hồng nhạn khắp nơi,
Màn the cửa sổ, sao trời Đẩu Ngưu.
Đường lên trời, tưởng gần đâu,
Mơ cùng mây trắng quanh lầu dạo chơi...
Anh-Nguyên        
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2022 11:52:03 bởi Anh Nguyên>
 
HOẠ TRƯƠNG VIÊN NGOẠI TỰ LẠC SỨ
NHẬP KINH PHÙNG LẬP XUÂN NHẬT
 
和 張 員 外 自 洛 使 入 京 逢 立 春 日
 
忽 睹 雲 間 數 雁 迴,
更 逢 山 上 正 花 開。
河 邊 淑 氣 迎 芳 草,
林 下 輕 風 待 落 梅。
秋 憲 府 中 高 唱 入,
春 卿 署 裡 和 歌 來。
共 言 東 閣 招 賢 地,
自 有 西 征 謝 傅 才。
祖 詠
 
Hốt nhiên vân gian sổ nhạn hồi,
Cánh phùng sơn thượng nhất hoa khai.
Hà biên thục khí nghênh phương thảo,
Lâm hạ kinh phong đãi lạc mai.
Thu hiến phủ trung cao xướng nhập,
Xuân khanh thự lý họa ca lai.
Cộng ngôn đông các chiêu hiền địa,
Tự hữu tây chinh tác phú tài.
Tôn-Địch
 
Dịch:
 
Họa bài:
 
Họa Trương Viên Ngọai từ đất Lạc
đi vào kinh gặp ngày Lập Xuân
 
Trong mây chợt thấy nhạn về,
Trên non, hoa nở bên lề một bông.
Khí lành đón cỏ bên sông,
Gió rừng nhẹ thổi, trông chừng mai rơi.
Hát, Thu-Hiến, vọng tới nơi,
Xuân-Khanh, ngâm vịnh vang lời từ đâu.
Chiêu hiền Đông các đứng đầu,
Sẵn người làm phú mong cầu Tây chinh...
Anh-Nguyên
 
 
 
 
ĐƯỜNG THI TRÍCH DỊCH   
                  Hết  Quyển V
              



Đăng nhập để trả lời
0
«« « 3 4 5 6 7 » »»