Diễn Đàn » Khoa Học Phổ Thông

Vấn đề môi trường

2 trả lời, 883 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-11-16 12:51:42lyenson>
[/size]Những người tị nạn khí hậu [/size]

Trái Đất nóng lên khiến hình thành một nhóm người di cư mới – những người tị nạn khí hậu. Đến nay, số người tị nạn khí hậu đã vượt qua cả số tị nạn chính trị.
[/align][/align]
Họ là ai?
"Người tị nạn khí hậu" - đằng sau thuật ngữ mới này là hiện tượng không mới: Đó là những người phải rời bỏ nhà cửa khi đập Tam Hiệp được xây dựng; hàng nghìn người bỗng trở thành những kẻ vô gia cư sau những trận động đất hay sau sóng thần tàn phá Nam Á năm 2004; những cộng đồng đau buồn sau cơn bão Katrina. Đó cũng là những bộ tộc du mục buộc phải di chuyển về các ốc đảo phía Nam vì vùng phía Nam sa mạc Sahara quá khô cằn; những ngư dân ở hồ Sát (diện tích mặt nước của hồ trữ nước ngọt lớn thứ tư Châu Phi này đã giảm đi 90% chỉ trong vòng 40 năm). Đó còn là những người dân phải rời bỏ những đảo thấp nằm ở Thái Bình Dương do bị biển xâm thực hay nước biển dâng lên nhấn chìm cả hòn đảo. Điều mới duy nhất là từ nay về sau, những người tị nạn do Trái Đất nóng lên. Nói tóm lại, tổng số người phải di cư vì những lí do môi trường hiện nay là 25 triệu người theo những số liệu vốn rất thận trọng của Ngân hàng Thế giới và con số đó lên tới 500 triệu theo Hội Chữ thập đỏ. Như vậy, con số này còn cao hơn nhiều 12 triệu người tị nạn chính trị.

Tương lai bất định

Tổ chức phi chính phủ Christian Aid của Anh dự báo đến năm 2050 cả thế giới sẽ có khoảng 1 tỉ người tị nạn các loại nhưng phần lớn là tị nạn khí hậu. Christian Aid cũng ước tính, do mực nước biển dâng lên nên hằng năm sẽ có khoảng từ 2 đến 7 triệu người phải rời bỏ quê hương. Không chỉ có những hòn đảo ở Thái Bình Dương mới bị nhấn chìm. Trong tương lai, những sườn núi trên Trái Đất có thể sẽ phải ngâm mình trong nước. Ước tính từ nay đến năm 2030, 14 triệu người dân Bangladesh do nước biển dâng lên sẽ phải rời bỏ đất nước. Theo một nghiên cứu do Peter Frumhoff – thành viên của Ủy ban hợp tác liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) – chủ trì, những thành phố như Boston, Atlantic hay New York sẽ phải đương đầu với những trận lụt kinh hoàng. Những người thổ dân Inuits sống ở đảo Shishmaref, bang Alaska cũng sẽ phải trốn chạy vì hòn đảo bị xói mòn do lớp băng ở cực tan đi. Nói một cách khái quát, nếu như băng ở hai cực tiếp tục tan ra thì người Inuits sẽ phải đi về phía nam, những khu trượt tuyết ở bang New York sẽ phải đóng cửa. Tuyết vĩnh cửu ở đỉnh Kilimandjaro sẽ tan chảy vĩnh viễn (quá trình tan chảy đã bắt đầu khởi động). Băng ở trên dãy Himalaya cũng sẽ tan ra làm cho các đường biên giới tự nhiên của các hồ băng biến mất và các thung lũng có người ở hiện nay sẽ chìm trong nước.
Những dự báo về nông nghiệp không kém đau đớn. Đến năm 2100, nhiệt độ trung bình có thể sẽ tăng thêm từ 2 - 6 độ C. Người dân Châu Phi - chiếm 13% dân số thế giới và chỉ thải 3% lượng khí CO2 - sẽ phải gánh những hậu quả nặng nề nhất. Ngay từ thế kỉ trước, nhiệt độ ở châu lục này đã tăng hơn mức trung bình 0,7%, tăng thêm 2oC nữa thì sản lượng nông nghiệp sẽ rơi tự do: giảm 1/3 ở ven bờ Địa Trung Hải, phía nam sa mạc Sahara, sản lượng lúa nước bị thiệt hại, lúa mì sẽ bị xóa sổ hoàn toàn khỏi Châu Phi. Ở một vài vùng, hạn hán phổ biến đến nỗi không thể tưới tiêu gì cho cây trồng, nhưng ở một số vùng khác, mực nước biển dâng lên làm cho nước mặn xâm nhập vào các cửa sông và thu hẹp diện tích đất màu mỡ như ở vùng đồng bằng sông Nile. Đất đai không trồng trọt được đồng nghĩa với nạn đói lan tràn (có thể 200 triệu người phải chịu cảnh này năm 2100). Hậu quả là người dân đổ xô về các khu dân nghèo ở các thành phố lớn.

Trước khi quá muộn
Làn sóng người di cư tăng lên có nguy cơ làm cho những cuộc xung đột hiện nay thêm căng thẳng và làm nảy sinh những xung đột mới, nhất là ở những vùng có ít tài nguyên. Nói cách khác, mối đe dọa về môi trường cũng là chính mối đe dọa nền hòa bình. Do vậy, trong lời kêu gọi một hội nghị khoa học ngày 23/6/2005 tại ĐH Limoges (Pháp), ngoài yêu cầu cộng đồng quốc tế công nhận địa vị cho những người tị nạn môi trường còn đề nghị thành lập một cơ quan quốc tế- tổ chức “lính mũ nồi xanh lục” - để giúp đỡ những người tị nạn này.
Những lời tiên đoán trên liệu có chắc chắn? Những đường biểu đồ của Nasa đã chỉ rõ: từ vài năm nay, đường biểu kiến nhiệt độ của Trái Đất không ngừng đi lên. Nếu chúng ta không làm gì, mọi thứ có nguy cơ diễn tiến rất nhanh. Do vậy, cần phải hành động. “Chúng ta không còn có thể phòng tránh những biến đổi của khí hậu trong hai hay ba thập kỷ tới nhưng vẫn còn kịp để giảm thiểu những tác hại của nó lên các nền kinh tế và xã hội”, Nicholas Stern, nguyên kinh tế trưởng (chief economist) của Ngân hàng Thế giới đã đi đến kết luận như vậy.

Thuật ngữ tị nạn môi trường đã được định nghĩa lần đầu tiên vào năm 1985 trong một bản báo cáo của Chương trình bảo vệ môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP), nhưng còn lâu nó mới được thừa nhận. Luật pháp quốc tế mà đầu tiên là công ước Geneve về Quy chế Tị nạn không được áp dụng cho những người tị nạn môi trường. Thêm nữa, thảm họa sinh thái vẫn chưa được định nghĩa. Hervé Domenach, giám đốc nghiên cứu Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Pháp (IRD), chia thảm họa thành ba loại: “những tai ương do thiên nhiên gây ra trong một thời gian ngắn như sóng thần, những tai ương do thiên nhiên gây ra trong một thời gian dài như hạn hán, Trái Đất nóng lên và cuối cùng là những tai ương do chính con người gây nên như chiến tranh, tai nạn công nghiệp.” Ông đề nghị những người tị nạn môi trường là những người phải chịu hai thảm họa đầu tiên theo như cách phân loại của ông. Còn với những tai nạn công nghiệp do hiện tượng Trái Đất nóng lên gián tiếp gây ra thì phải tính sao? Trận động đất ngày 16/7/2007 đã làm hư hỏng nhà máy nguyên tử Kashiwazaki-Kariwa của Nhật Bản đã gióng lên tiếng chuông cảnh báo: những thảm họa công nghiệp có thể gia tăng do những trận động đất và bão, vốn là hệ quả của hiện tượng biến đổi khí hậu, tăng vọt. Tóm lại, vấn đề nguyên nhân nào đã buộc nhiều cộng đồng phải di cư vì lí do môi trường sẽ còn được các chuyên gia đem ra bàn thảo dài dài trong các hội thảo quốc tế. Cuối cùng, nếu như địa vị “người tị nạn khí hậu” được công nhận thì các quốc gia đã ký công ước về những người tị nạn sinh thái buộc phải tiếp nhận thêm nhiều người tị nạn trên lãnh thổ của nước mình. Vào thời điểm mà vấn đề nhập cư đang làm đau đầu nhiều nước thì khó có thể tin rằng các quốc gia sẽ dễ dàng chấp nhận viễn cảnh trên… Úc vừa từ chối tiếp nhận 11. 000 người dân quần đảo Tuvalu, thường được xem là những người đầu tiên đã phải trả giá cho hiện tượng Trái Đất nóng lên. Quần đảo này đã bị Thái Bình Dương nhấn chìm và cuối cùng người dân sinh sống trên những hòn đảo đó đã được New Zeland cho phép định cư.

Hồ Thủy An
[/align][/align][/align]

Nguồn: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=67&CategoryID=8&News=1946
📎 ImageHandlerLarge
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-11-16 12:55:00lyenson>
Đừng quên CH4

Cuộc chiến chống lại hiện tượng Trái Đất nóng lên không nên chỉ dừng lại ở việc giảm lượng khí CO2 thải ra. Khí mê-tan, một loại khí gây hiệu ứng nhà kính (HƯNK) khác cũng gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Ấy thế mà những số liệu tính toán tác động của loại khí này vẫn đang còn được bàn thảo.
[/align][/align]
Nhằm ngăn không cho Trái Đất nóng thêm hai độ nữa, Hội đồng các bộ trưởng môi trường của Liên minh Châu Âu (EU) nhóm họp hôm 30 tháng 10 năm 2007 khuyến nghị các nước “giữ lượng khí gây HƯNK trong không khí ở mức gần bằng mức ổn định thấp nhất tức ứng với khoảng 450 phân tử CO2 trong một triệu phân tử không khí theo thể tích (ppmv)”. Cũng theo Hội đồng này, từ nay đến năm 2050 thì trong vòng 10 hay 15 năm nữa, lượng khí thải ra sẽ đạt mức cao nhất trước khi giảm xuống mức thấp hơn: giảm ít nhất 50% lượng khí đã thải ra năm 1990. Ta chẳng thể nói gì hơn là hoan nghênh quyết định này. Rốt cuộc cũng sắp có kế hoạch triển khai các biện pháp cắt giảm khí thải gây HƯNK. Tuy nhiên, khi đi sâu xem xét vấn đề một cách cụ thể, cần phải cẩn trọng vì cụm từ “lượng khí CO2 tương ứng”, vốn dùng để chỉ cả nồng độ và các khí gây HƯNK, có thể gây nhầm lẫn nếu như định nghĩa và các nghĩa liên quan của cụm từ này không được các chuyên gia, cố vấn của các nhà chính trị, hiểu rõ.

LƯỢNG KHÍ CO2 TƯƠNG ỨNG
Trước khi đi sâu tìm hiểu vấn đề này, cần nhắc lại một số khái niệm. Các-bô-nic là khí gây HƯNK chính nhưng không phải là duy nhất. Còn rất nhiều loại khí khác cũng góp phần làm gia tăng HƯNK. Đó là ô-xít ni-tơ (N2O), ô-zôn (O3) ở tầng đối lưu, clo-rua flu-ô các-bon (CFC) và cả mê-tan (CH4). CH4 được sinh ra từ hoạt động khai thác than, ga, dầu mỏ, từ chất thải các loài nhai lại, hay ở các vùng đất ẩm ướt, ở những bãi rác ngoài trời khi các chất hữu cơ phân hủy. Mỗi khí gây HƯNK một cách khác nhau. Mỗi khí hấp thụ và phản xạ lại các tia sáng một khác và thời gian tồn tại của chúng trong không khí trước khi chuyển hóa cũng khác nhau. Để đoán biết những diễn biến của khí hậu, các nhà khí hậu học sử dụng các mô hình mô phỏng: họ lấy các số liệu cụ thể và áp chúng lên các kịch bản khác nhau và từ đó đưa ra các dự báo khác nhau. Nhằm đơn giản hóa việc công bố kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học đã quy nồng độ các loại khí gây HƯNK khác nhau về nồng độ CO2 tương ứng, tức khi nói nồng độ CO2 tương ứng thì cần hiểu đó là nồng độ của nhiều loại khí.
 

 
[/align]Liên minh Châu Âu khuyến nghị duy trì trong không khí lượng khí CO2 tương ứng ở mức ổn định là 450 ppmv. Nó dựa trên các kịch bản chi tiết do các nhà khoa học đưa ra và đã tính đến tác động của mỗi loại khí. Có thể đạt được mục tiêu này nếu đến năm 2050, nhân loại cắt giảm được 50% lượng CO2, 30% lượng CH4 và 30% lượng N2O  thải ra so với lượng khí đã thải ra năm 1990. Nếu chỉ giảm mỗi 50% lượng CO2 thải ra thì không thể nào đạt mục tiêu ổn định lượng khí CO2 tương ứng ở mức 450 ppmv được, đây là nồng độ khí gây hiệu ứng nhà kính nhất thiết phải giảm để tránh cho Trái đất nóng thêm 2oC. Do vậy, cần cắt giảm đồng loạt mọi loại khí thải.
Tuy nhiên, ở các phần tiếp theo, tài liệu của Hội đồng châu Âu chỉ đề cập đến việc giảm khí CO2. Tương tự như thế, trong bản kết luận về vấn đề môi trường của Pháp, sau khi khẳng định mong muốn tuân thủ các khuyến nghị của EU, Pháp chỉ đưa ra những biện pháp giảm lượng khí CO2 thải ra mà không lần nào nhắc đến CH4. CH4 và các khí gây hiệu ứng nhà kính HƯNK khác không được nhắc đến trong các bản báo cáo hẳn là do các phương pháp tính toán, đánh giá ảnh hưởng các khí gây HƯNK để từ đó đưa ra các chính sách giảm thiểu các khí trên đã đơn giản hóa vấn đề. Đơn giản hóa đến mức chúng thành ra sai khi quy các lượng khí thải khác nhau ra tấn khí CO2 tương ứng.
Tuy nhiên, tấn khí CO2 tương ứng có ý nghĩa rất chính xác, nhưng lại thường bị lãng quên. Nó được xác định dựa vào mối tương quan giữa tác động làm cho Trái đất nóng lên của một khí gây HƯNK với tác động của khí CO2. Tác động của một loại khí lên khí hậu Trái đất được đo bằng tổng lượng bức xạ của chất đó trong một khoảng thời gian nhất định, 100 năm chẳng hạn, sau khi nó được thải ra. Để xác định được mối tương quan ấy, Ủy ban hợp tác liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đề xuất khái niệm “tiềm năng làm Trái Đất nóng lên” (PRG) tính đến cách chất khí hấp thụ tia hồng ngoại và thời gian chất ấy tồn tại trong không khí. Giá trị của chỉ số PRG sẽ cho ta thấy được mối liên hệ giữa ảnh hưởng lên Trái Đất của một tấn khí gây HƯNK bất kì vừa mới được thải ra tại một thời điểm nhất định và ảnh hưởng của một tấn CO2 vừa mới được thải ra tại cùng thời điểm. Chẳng hạn, theo Nghị định thư Kyoto, vốn dựa trên các số liệu năm 1995 của IPCC, chỉ số PRG của CH4 trong 100 năm là 21. Như vậy, cứ một tấn CH4 thải ra hôm nay thì 100 năm sau nó sẽ tác động lên môi trường Trái Đất tương ứng với ảnh hưởng do 21 tấn CO2 vừa mới được thải ra hôm nay gây ra. Kể từ khi Nghị định thư Kyoto ra đời, chỉ số PRG của CH4 không ngừng tăng lên. Hiện nay, theo ước tính, chỉ số ấy là 25.

Nếu như các cố vấn chính trị chỉ đơn thuần quên cập nhật thông tin, vẫn cứ cho chỉ số PRG của CH4 là 21 thì không có gì nghiêm trọng cả. Thế nhưng, họ lại quên luôn rằng khi sử dụng chỉ số PRG để tính toán lượng khí thải ra, cần phải có thời điểm quy chiếu mới đánh giá được tác động của các khí ấy. Chỉ số PRG của CH4 chỉ có giá trị là 21 trong khoảng thời gian 100 năm. Một tấn CH4 thải ra tại một thời điểm bất kì vào năm 2000 chỉ có thể quy thành 21 tấn CO2 tương ứng trên cơ sở tổng hợp những tác động do cả CH4 và CO2 gây ra trong khoảng thời gian từ 2000 đến 2100. Đối với một lượng khí thải ra năm 2020, chỉ số PRG trên chỉ có giá trị trong khoảng thời gian từ 2020 đến 2120.
Năm 1992, Hội nghị lần đầu tiên các bên tham gia Hiệp định khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu đã thống nhất khuyến cáo các quốc gia kí hiệp định này rằng họ “có thể” áp dụng các chỉ số PRG trong một khoảng thời gian là 100 năm để thống kê, dự báo lượng khí thải ra và quy chúng ra thành lượng khí CO2 tương ứng. Khoảng thời gian này nhanh chóng được xem như một quy tắc và cũng như nhiều quy tắc khác, nhanh chóng bị lãng quên. Bị quên lãng đến mức đa số những người ra quyết định cho rằng chỉ số PRG luôn là 21 bất kể mốc thời gian nào.


 
[/align]Khi đánh giá vai trò của CH4 trong mối tương quan với CO2, cách nhìn nhận như trên sẽ để lại những hệ quả nghiêm trọng. Thời gian CH4 tồn tại trong không khí là khoảng 12 năm, ngắn hơn so với thời gian tồn tại của CO2. Do đó, chỉ số PRG của CH4 thay đổi rất nhiều tùy theo khoảng thời gian ta chọn để tính toán. Nếu khoảng thời gian đó không phải là 100 năm thì lượng CO2 tương ứng không phải gấp 21 (hoặc 25) lần nữa. Do vậy, cần tính đến khoảng thời gian kéo dài từ năm thải ra khí này đến năm được lấy làm mốc.
Chẳng hạn, năm 2005, Pháp thải ra 2,65 triệu tấn (tt) CH4 và 341 tt CO2. Hiện tại, lượng khí CH4 thải ra ứng với 56 tt CO2 (tức 16% lượng khí CO2 thải ra). Con số này chỉ đúng khi ta đánh giá các tác động do khí này gây ra cho đến năm 2105 vì chỉ số PRG được sử dụng ở đây là 21. Nếu ta chỉ tính đến năm 2055 thì con số đó không còn đúng nữa. Chỉ số PRG của CH4 tính trong 50 năm là 42. Khi đó, lượng CO2 tương ứng là 111 tt, chiếm 33% lượng khí CO2 thải ra. Như vậy, ảnh hưởng lên khí hậu của khí CH4 thải ra tại một thời điểm nhất định vào năm 2005 nghiêm trọng hơn nhiều. Khối lượng tương đối của CH4 thay đổi tùy theo khoảng thời gian ngắn hay dài.

Tuy nhiên, đó chưa phải là lỗi thông dụng duy nhất. Một lỗi khác là: lẫn lộn giữa lượng khí thải ra tại một thời điểm và lượng khí thải ra lâu dài. Ấy vậy mà, khái niệm PRG chỉ có giá trị đối với lượng khí thải ra tại một thời điểm nhất định. Thế nên, nếu áp dụng không thận trọng khái niệm này để đưa ra các số liệu mang tính lâu dài nhằm xem xét các hậu quả do những loại khí này gây nên trong một khoảng thời gian nhất định có thể dẫn đến những đánh giá sai lầm.

NHÂN TỐ THỜI GIAN
Các nhà khoa học đã tiến hành so sánh hiệu quả đạt được trong 500 năm nếu ngừng thải hoàn toàn, ngay từ năm đầu tiên, một tấn khí CH4 với những hiệu quả mang lại nếu tại cùng thời điểm đó, ngừng thải hoàn toàn một tấn khí CO2. Họ nhận thấy rằng một tấn CH4 chỉ ứng với 21 tấn CO2 trong một khoảng thời gian là 250 năm. Nó ứng với 57 tấn CO2 trong 50 năm và với 39 tấn CO2 trong 100 năm. Như vậy, với mốc thời gian 50 năm, nếu xem chỉ số PRG của CH4 là 21 thì những hậu quả do HƯNK gây ra sẽ bị đánh giá thấp đi rất nhiều: mất 2,7 lần và 1,9 lần với mốc 100 năm. Các nhà khoa học cũng đã thực hiện những phép tính tương tự cho tất cả các năm ngừng thải các khí gây HƯNK và theo từng mốc thời gian khác nhau từ 0 cho đến 500 năm. Chỉ với phương pháp ấy các nhà khoa học mới có thể so sánh được các chính sách giảm lượng khí CH4 và CO2 thải ra khác nhau tại những thời điểm khác nhau và trong những khoảng thời gian khác nhau. Cho dù đó là những chính sách lâu dài hay chỉ áp dụng trong một khoảng thời gian.
Từ những nhận định trên, ta có thể rút ra nhiều kết luận. Trước hết, cần ý thức rõ những hạn chế của việc sử dụng chỉ số “tiềm năng làm Trái Đất nóng lên” để đo lượng khí gây HƯNK (không phải CO2) thải ra vì chỉ số này sẽ làm giảm mạnh vai trò của việc giảm lượng khí gây HƯNK có thời gian tồn tại ngắn.
Việc sử dụng các chỉ số PRG chỉ được xem là phù hợp một khi ta áp dụng chúng, năm này sang năm khác, cho những mốc thời gian đã được các nghiên cứu về khí hậu thừa nhận, đặc biệt là các mốc 2050, 2100 và 2150. Vấn đề càng quan trọng hơn khi hiện nay, sự quan ngại của các nhà khí hậu học càng gia tăng và họ không chỉ khuyến cáo phải duy trì nồng độ khí gây HƯNK ở mức ổn định trong một thời gian dài mà còn cần ngăn chặn tối đa không cho nồng độ các khí này vọt lên ở bất cứ thời điểm nào trong thế kỉ này. Một vấn đề nữa cũng hết sức quan trọng là tuân thủ thời gian cắt giảm lượng khí thải đã cam kết vì không thể nào thực hiện được các kịch bản khí hậu đã vạch ra một khi các quyết định lệch pha nhau, cho dù chỉ trong một khoảng thời gian ngắn.

LƯỢNG KHÍ THẢI RA THỰC SỰ
Cuối cùng, ta nhận thấy rằng ảnh hưởng của các chính sách cắt giảm lượng khí CH4 thải ra được cam kết trong một thời gian ngắn có thể dài lâu hơn việc chỉ đơn thuần tính đến chỉ số PRG hiện nay. Ít nhiều lờ đi vai trò của khí mê-tan do những tính toán thiếu chính xác sẽ làm tổn hại đến đặc điểm ít nhiều mang tính chuyên nhất của mối liên hệ giữa vấn đề khí thải gây HƯNK và vấn đề năng lượng. Không, cuộc chiến chống lại hiện tượng nóng lên toàn cầu không thể chỉ gói gọn ở việc giảm sử dụng các chất đốt hoá thạch. Ngoài ra, nếu như nồng độ CH4 trong không khí vốn tăng rất nhanh sau khi cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra đã giảm từ vài năm lại đây vì những lí do vẫn đang còn được bàn cãi thì nồng độ ấy hoàn toàn có thể tăng nhanh trở lại do băng ở Bắc cực tan ra chẳng hạn. Do vậy, điều quan trọng lúc này (trong bối cảnh bản báo cáo mới nhất của IPCC chỉ ra những hậu quả do bất ổn khí hậu gây ra trong tương lai không xa) là các chính sách cắt giảm lượng CH4 và những khí thải gây HƯNK khác phải dựa trên những lượng khí thải thực sự, phải khớp với các kịch bản của IPCC và phù hợp mục tiêu giảm nồng độ các chất này đã được đề ra tại các mốc thời gian quy định. Hơn nữa, ngoài nỗ lực giảm lượng khí CO2 thải ra, trong tương lai gần, cần phải chú ý giảm lượng CH4 thải ra vì trong vài thập kỉ tới, ảnh hưởng của loại khí này lên môi trường sẽ rất nghiêm trọng. Cần phải tận dụng khoảng thời gian hai năm dành để đàm phán một kịch bản hậu Nghị định thư Kyoto, quyết định của Hội nghị Ba-li vừa qua, để đưa ra một cách nhìn nhận mới về vấn đề khí thải gây hiệu ứng nhà kính này.
[/align]
Bài viết của Benjamin Dessus (kĩ sư và nhà kinh tế, chủ tịch Hiệp hội Global Chance), Bernard Laponche (nguyên Giám đốc Cơ quan kiểm soát năng lượng Pháp, chuyên gia về chính sách năng lượng) và Hervé Le Treut (giám đốc phòng thí nghiệm khí tượng học năng động thuộc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Pháp CNRS) đang trên tạp chí LA RECHERCHE, số 417 ra tháng 3 năm 2008.


[/align]

[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-11-17 02:00:30lyenson>
Nông nghiệp toàn cầu-mối đe dọa từ biến đổi khí hậu 
Một nghiên cứu được công bố trên tờ Science chỉ ra rằng, do biến đổi khí hậu, Nam Phi có thể mất 30% sản lượng ngô và các cây lương thực khác vào năm 2030; khu vực Bắc Á sản lượng gạo, ngô và kê có thể giảm đến 10%. Cả thế giới đang lao đao trong cơn đói lương thực. Tất cả đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh nhân loại trước những hiểm họa nhãn tiền của biến đổi khí hậu.
[/align][/align]
Liên Hiệp Quốc kêu gọi cần phải có hành động khẩn cấp ngay từ tháng 3 năm 2007 khi giá lúa mì, đậu tương đã tăng 87% và tiếp ngay sau đó là 130%. Khả năng dự trữ lương thực toàn cầu đã ở mức thấp nhất kể từ trước tới nay. Giá các loại lương thực chủ lực như gạo, ngô và lúa mì sẽ tiếp tục tăng do nhu cầu, đặc biệt là ở Trung Quốc và Ấn Độ, và do việc sử dụng ngô và đậu tương cho các nguyên liệu thay thế để sản xuất nhiên liệu sinh học. Nhưng đáng chú ý hơn cả, thông báo của IAASTD tại UNESCO vào 4/2008 vừa qua cảnh báo rằng, 35% đất canh tác bị thoái hóa trên Trái đất lại đang trong tình trạng nguy hại trầm trọng do chính các hoạt động nông nghiệp
Sinh quyển thay đổi

Phụ nữ Kenya băng qua những mảnh đất khô cằn để mang thực phẩm cứu trợ hàng tháng về nhà.
Tất cả những điều kiện như bức xạ mặt trời, lượng mưa, nhiệt độ quyết định sự phát triển của cây trồng và tăng trưởng mùa vụ. Khoảng thời gian 50 năm đổ lại đây, khi những máy móc được phát minh với mục đích cơ giới hóa nông nghiệp thì cũng là lúc bầu sinh quyển đang dần bị tổn hại ngày một nhanh theo hướng tiêu cực do những tác động trực  tiếp hoặc gián tiếp từ con người. Mải chạy theo cỗ xe công nghiệp, phát minh các máy móc, công cụ đa phương tiện nhưng dường như loài người quên rằng, họ đang sống nhờ lương thực chứ không phải là các cỗ máy.
Lượng khí nhà kính được phóng thích vào khí quyển bởi các hoạt động của con người đã làm cho nhiệt độ Trái đất nóng lên. Mỹ là nước đi đầu trong việc đóng góp vào tổng lượng CO2 phát thải toàn cầu (chiếm 22%), và thế giới cũng đang trong tình thế báo động khi một nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng, Trung Quốc vượt Mỹ trong phát thải CO2. Hình thức phát thải phần lớn là do các hoạt động công nghiệp tại các nước giàu, sử dụng năng lượng hóa thạch tại nhiều quốc gia đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ… và phần còn lại do các hoạt động phá rừng, đốt rẫy cùng quá trình giải phóng CO2 và mêtan từ các quá trình tự nhiên và hoạt động canh tác nông nghiệp ở các nước nghèo. Các phép đo gần đây đã chỉ ra rằng, hàm lượng CO2 đã vượt quá 380 ppm. Và như vậy, nhiệt độ toàn cầu có thể tăng từ 1,4-5,8oC vào 2100, vượt xa ngưỡng cảnh báo, là hoàn toàn có thể.
Khí nhà kính đang thay đổi nhiệt độ toàn cầu, đây là điều kiện đầu tiên tác động đến sinh trưởng của cây trồng. Theo báo cáo của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), trong 100 năm qua nhiệt độ toàn cầu đã tăng 2oC, và sẽ còn tiếp tục tăng vào thế kỷ tới. Như một phản ứng dây chuyền, khi nhiệt độ tăng, tốc độ bốc hơi từ đại dương và các mặt sông, hồ sẽ tăng. Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc hình thành và phân bố các đám mây, thay đổi lượng mưa trên diện rộng. Cùng với hiện tượng ô nhiễm không khí, các hóa chất lơ lửng trong bầu khí quyển sẽ làm cho khả năng truyền và tán xạ tia sáng mặt trời giảm sút. Trung bình, Trái đất hấp thụ khoảng 60% năng lượng mặt trời, 40% còn lại sẽ phản xạ ngược trở lại vũ trụ. Nhưng do hiệu ứng nhà kính, lượng nhiệt mà Trái đất hấp thụ sẽ ngày một tăng. Bên cạnh đó, lượng mưa và phân bố mưa thay đổi khiến nhiều vùng hạn hán càng trở nên khô hạn trầm trọng trong khi lũ quét và ngập úng xảy ra thường xuyên hơn tại các vùng khác trên thế giới, biến Trái đất thành bộ mặt tương phản. Do vậy có những cây trồng không phát triển được vì thiếu nước và số khác lại chết vì ngập úng. Một điều tra được tiến hành cho thấy khoảng gần 1000 hồ nước ở Trung Quốc đã biến mất trong suốt 50 năm qua. Ngoài ra, nhiệt độ của Ấn Độ Dương tăng cùng với hiện tượng El Nino là nguyên nhân gây nên hạn hán ở Tây và Nam Phi và khiến lượng mưa ở những nơi này giảm 25% trong suốt một thập kỷ qua.

 
Những người dân Kenya tranh giành nhau thực phẩm cứu trợ từ Hội chữ thập đỏ quốc tế.
Trái đất nóng lên đồng nghĩa với việc mở rộng các sa mạc trên diện rộng, đồng thời mực nước biển dâng do tan chảy của những băng hà sẽ nhấn chìm những vùng đất duyên hải, khiến một diện tích lớn đất nông nghiệp biến mất. UNDP dự báo, cuộc xâm lăng hành tinh xanh của sa mạc sẽ khiến vùng cận Sahara có thể mở rộng thêm 60-90 triệu hecta vào 2060, gây thiệt hại khoảng 26 tỷ USD. Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, đến 2100, Mỹ sẽ mất khoảng 5000 dặm vuông đất khô ráo và 4000 dặm vuông đất ướt do nước biển dâng. Tổ chức FAO cũng thông báo rằng, các nước đang phát triển sẽ mất đi 11% diện tích đất canh tác sử dụng nước mưa vào năm 2080 so với năm 1995 và 65 nước đang phát triển có thể mất tới 280 tấn ngũ cốc, ước tính trị giá khoảng 56 tỷ USD do biến đổi khí hậu.
Một yếu tố vật lý khác tác động đến năng suất cây trồng đó là sự mở rộng của lỗ thủng tầng ôzôn sẽ khiến một lượng lớn bức xạ UV-B chiếu xuống bề mặt trái đất. Những loại bức xạ này gây ra những tác hại trực tiếp đối với hệ thực vật và là một trong những nguyên nhân đối với thay đổi sinh quyển. Tuy nhiên, những phản ứng của khí hậu không chỉ thể hiện thông qua các tác động vật lý. Những nghiên cứu gần đây cho thấy thành phần và tính chất của đất, nước và không khí đang thay đổi mạnh mẽ. Những đợt mưa axit tàn phá mùa màng ở Mỹ, Trung Quốc xuất hiện thường xuyên hơn. Những vùng đất canh tác nông nghiệp ven biển bị nhiễm mặn nghiêm trọng.
Hệ lụy toàn cầu
Mặc dù con người đã cải tiến công nghệ để tạo nên những công cụ canh tác hiệu quả với mục đích vừa nâng cao năng suất vừa giải phóng sức lao động như hệ thống tưới nước, những mô hình nông nghiệp công nghệ cao trồng cây không đất…;, đột phá trong nghiên cứu tạo ra các giống cây trồng biến đổi gene siêu năng suất. Nhưng tất cả những nỗ lực đó của con người sẽ bị vô hiệu hóa khi thời tiết đang trở thành chìa khóa quyết định an ninh lương thực toàn cầu. Và không ai khác, những quốc gia nghèo sẽ chịu những cú hích nặng nề nhất.
Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chiếm 1/3 doanh thu xuất khẩu của hơn 50 quốc gia và cung cấp khoảng một nửa việc làm ở các nước phát triển. Đối với những công dân ở các nước nghèo thì sự sinh tồn phụ thuộc hoàn toàn vào gieo trồng. Tuy nhiên, công cụ và kỹ thuật canh tác của họ đều rất thô sơ và việc nuôi gia súc cũng chủ yếu là chăn thả cho nên giá trị và sản lượng nông nghiệp và chăn nuôi ở những nơi này là cực kỳ nhạy cảm với những biến đổi của thời tiết. Những quan sát và tiên đoán của các mô hình thời tiết chỉ ra rằng, khi Trái đất nóng lên khiến thời tiết ở châu Phi ngày càng bất ổn, lượng mưa giảm nhưng đồng thời tần suất xuất hiện những cơn bão có chiều hướng tăng nhanh từ vài thập niên trở lại đây. Theo một điều tra cho thấy, những vùng cận Sahara, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đi đôi với lượng mưa. Bên cạnh đó, tốc độ hóa sa mạc diện rộng đang trở thành những trở lực đối với quá trình xóa đói ở châu Phi, Trung Quốc và Nam Á. Theo báo cáo của IPCC, số người đói ở châu Phi vùng cận Sahara hiện nay đã vượt qua con số 300 triệu người. Dự báo, do tác động của hạn hán, đến năm 2020, năng suất cây trồng ở các vùng đất nông nghiệp ở châu lục này sẽ giảm 10-20%. Còn đối với Trung Quốc, trong vòng 20-80 năm nữa, sản lượng lúa, ngô có thể giảm 37%.
Rõ ràng, châu Phi, Đông và Nam Á, Mỹ Latinh là những khu vực mà nền nông nghiệp dễ bị tổn thương nhất trước những thách thức của biến đổi khí hậu. ¾ dân số trên thế giới hiện nay sống leo lắt qua ngày chưa đầy 1 USD/ngày chủ yếu tập trung vào những khu vực này. Sản lượng lương thực giảm do hạn hán, lụt lội tại những “nồi cơm” của thế giới sẽ dồn thế giới tới tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng, đẩy giá gạo, lúa mì và các mặt hàng nông sản khác lên mức chưa từng thấy. Liên Hiệp Quốc cảnh báo, thế giới có thể thiếu hụt khoảng 80 triệu tấn gạo trong năm tới.
Trách nhiệm không chỉ riêng ai
Những hệ lụy và hậu quả trước tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp và an ninh lương thực toàn cầu đã gióng lên hồi chuông cảnh báo nhân loại. Song song với việc phát triển các mô hình thời tiết để đưa ra những tiên đoán chính xác thì việc phát triển các mô hình nông nghiệp, kỹ thuật canh tác mới nhằm thích ứng với những biến đổi nhạy cảm nhất của thời tiết đang được cộng đồng các nhà khoa học quốc tế đặt ra.
Những khu nhà kính theo mô hình nông nghiệp công nghệ cao có thể giúp sản xuất ngũ cốc ở những vùng đất bạc màu, khô hạn. Việc phát triển và áp dụng công nghệ vào sản xuất được các nhà khoa học cho là yếu tố sống còn quyết định đến an ninh lương thực toàn cầu. Phần lớn những nghiên cứu và cải tiến công nghệ cho nông nghiệp đều hướng vào những kịch bản mà IPCC và WB đưa ra.
Trong bài toán về an ninh lương thực trách nhiệm không chỉ của riêng ai. Những nước như Mỹ, cộng đồng châu Âu phải đi tiên phong và tích cực tham gia các thỏa ước quốc tế trong cuộc chiến chống lại sự thay đổi khí hậu. Tuy thuộc “top” những nước sản xuất gạo nhưng chính Mỹ cũng đang khốn đốn trong bối cảnh lương thực ngày càng trở nên khan hiếm.
Không chỉ tham gia tích cực các thỏa ước quốc tế, những nước giàu nên hỗ trợ công nghệ, vốn cho những nước đang phát triển nhằm cắt giảm tất cả những chất thải gây hiệu ứng nhà kính và suy giảm tầng ôzôn, đồng thời chuyển giao công nghệ để hiện đại hóa nông nghiệp ở những quốc gia có nền nông nghiệp dễ bị tổn thương nhất trước những thay đổi của thời tiết. Thực tế, những vựa lúa của thế giới lại thuộc về những nước đang phát triển như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam. Đây là những nước có kinh nghiệm canh tác truyền thống nhưng lại không đủ các công nghệ cho một nền nông nghiệp hiện đại. Thời tiết vẫn là yếu tố sống còn quyết định năng suất nền nông nghiệp tại những quốc gia này. Trong hơn 15 năm qua, Quỹ đa phương của Nghị định thư Montreal đã hỗ trợ cho gần 150 nước với số tiền gần 2 tỷ USD, tạo nên những biến chuyển tích cực trong vấn đề giảm thiểu phát thải khí gây tổn hại đến tầng ôzôn. Tuy nhiên, cho dù có thêm nhiều Quỹ như vậy đi chăng nữa nhưng nếu các “rốn” khí thải của thế giới không ban hành các chính sách và cơ chế và thực thi nghiêm chỉnh các thỏa ước quốc tế thì e rằng, trong thế kỷ tới những nước giàu cũng không có gạo để ăn. Thế giới lại khốn đốn trong “cơn đói”.
Dường như thế giới vẫn đang mê ngủ trong cơn đói có thể dội đến bất cứ lúc nào. Trong cán cân một bên là chạy theo công nghiệp còn bên kia là bám vào nông nghiệp để “nấu cơm” cho nhân loại chúng ta phải ưu tiên cho bên nào? Những gì đang diễn ra cho thấy, sự mất cân bằng giữa hai cán cân này ngày càng trầm trọng. Cỗ xe công nghiệp toàn cầu lăn bánh không kiểm soát đã đè lên thảm cỏ nông nghiệp. Và không gì khác, nền nông nghiệp toàn cầu đang là nạn nhân của chính sự phát triển công nghiệp. FAO khuyến khích các nước đang phát triển cải tiến kỹ thuật canh tác bằng việc áp dụng công nghệ và bán các tín dụng cácbon theo cơ chế CDM của Nghị định thư Kyoto. FAO cho rằng, công nghệ là chìa khóa để phát triển một nền nông nghiệp bền vững. Thật đáng buồn, kể từ khi Nghị định thư Kyoto ra đời, các nước phát triển đã không thực thi bổn phận giúp các nước đang phát triển đến nơi đến chốn.
Đã đến lúc các quốc gia phải cùng ngồi với nhau để sẻ chia trách nhiệm, cùng nhau đưa ra một lộ trình phát triển nông nghiệp bền vững dựa trên những quy định và chế tài bắt buộc để hạn chế, đối phó và thích nghi với những biến đổi khí hậu. Và bên cạnh việc thực thi các thỏa ước chung buộc các nước phải cam kết giảm thiểu khí nhà kính, thì các nước phát triển nên chuyển giao công nghệ để giúp những nước nghèo được trang bị những công cụ canh tác tối thiểu để đối phó trong mọi tình huống diễn biến của thời tiết, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính từ nông nghiệp, đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực toàn cầu. Khi cộng đồng quốc tế chưa tìm được các biện pháp hữu hiệu để hạn chế những rủi ro của biến đổi khí hậu thì những nỗ lực của các nước giàu chung tay hỗ trợ các nước nghèo đang là nạn nhân đầu tiên và dễ tổn thương nhất là cần thiết hơn cả.
Tham khảo: Science và Scientific American
[/align]Đức Phường
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0